
1
Bài 17: CHÂU ÂU GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1918-1939) I. CHÂU ÂU TRONG NHỮNG NĂM 1918 – 1929 - Do hậu quả của chiến tranh thế giới thứ nhất và Cách mạng tháng Mười Nga (1917)-> châu Âu biến đổi: - Xuất hiện một số quốc gia mới (Áo, Ba Lan, Tiệp Khắc...). - Những năm 1918 – 1923: kinh tế suy sụp, chính trị không ổn định. - Những năm 1924 – 1929: Củng cố nền chính trị, kinh tế khôi phục và phát triển. II. CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI 1929 – 1933 VÀ NHỮNG HẬU QUẢ CỦA NÓ - Năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ đến năm 1933 chấm dứt. - Nguyên nhân : + Sản xuất ồ ạt, chạy theo lợi nhuận. + Hàng hóa ế thừa -> khủng hoảng “thừa”. - Hậu quả : + Tàn phá kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa. + Hàng trăm triệu người đói khổ. + Để thoát khỏi khủng hoảng, các nước tư bản chủ nghĩa đã tìm đến 2 con đường :
Anh, Pháp...và Mĩ: tiến hành cải cách kinh tế - xã hội. Đức, Ý và Nhật Bản: phát xít hóa chế độ chính trị -> phát động cuộc chiến tranh chia lại thế giới.
Bài 18: NƯỚC MĨ GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1918-1939)
I. NƯỚC MĨ TRONG THẬP NIÊN 20 CỦA THẾ KỈ XX - Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Mĩ trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại, tài chính quốc tế. - Để đạt được sự phát triển đó, giai cấp tư sản Mĩ đã: + Cải tiến kĩ thuật, sản xuất dây chuyền. + Tăng cường bóc lột lao động. - Công nhân bị bóc lột, thất nghiệp, nạn phân biệt chủng tộc -> Phong trào công nhân phát triển mạnh. II. NƯỚC MĨ TRONG NHỮNG NĂM 1929 - 1939 - Tháng 10/1929, Mĩ lâm vào khủng hoảng kinh tế chưa từng thấy -> nước Mĩ bị chấn động dữ dội. - Năm 1932, Tổng thống mới đắc cử Ru-dơ-ven thực hiện Chính sách mới để đưa nước Mĩ thoát khỏi khủng hoảng. Nội dung: + Giải quyết nạn thất nghiệp, phục hồi các ngành kinh tế - tài chính. + Ban hành các đạo luật về phục hưng công nghiệp, nông nghiệp và ngân hàng..., + Nhà nước tăng cường sự kiểm soát về kinh tế - tài chính. - Tác dụng : Chính sách mới giúp Mĩ thoát khỏi khủng hoảng, duy trì chế độ dân chủ tư sản.
Bài 19: NHẬT BẢN GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI (1918-1939)
I. NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT - Kinh tế chỉ phát triển vài năm đầu sau chiến tranh. - Nhân dân nổi dậy đấu tranh dưới hình thức “bạo động lúa gạo”, công nhân bãi công sôi nổi. - Tháng 7/1922, Đảng Cộng sản Nhật Bản thành lập. - Năm 1927, Nhật rơi vào khủng hoảng tài chính -> chấm dứt sự phục hồi kinh tế ngắn ngủi của Nhật.
TRƯỜNG THCS TÂN BÌNH
Họ tên HS:……………………………………Lớp:……
ÔN TẬP HỌC KÌ I - NH: 2018 – 2019
MÔN : LỊCH SỬ 8
2
II. NHẬT BẢN TRONG NHỮNG NĂM 1929 -1939 - Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã tàn phá nặng nề kinh tế Nhật Bản. - Chính quyền Nhật Bản đã tăng cường chính sách quân sự đất nước, gây chiến tranh xâm lược. - Tháng 9/1931, Nhật đánh chiếm vùng Đông Bắc Trung Quốc. - Trong thập niên 30, Nhật đã tăng cường bộ máy quân sự và cảnh sát, thiết lập chế độ phát xít. - Phong trào đấu tranh của nhân dân Nhật Bản góp phần làm chậm quá trình phát xít hóa ở Nhật.
Bài 20: PHONG TRÀO ĐỘC LẬP DÂN TỘC Ở CHÂU Á (1918-1939)
I. NHỮNG NÉT CHUNG VỀ PHONG TRÀO ĐỘC LẬP DÂN TỘC Ở CHÂU Á. CÁCH MẠNG TRUNG QUỐC TRONG NHỮNG NĂM 1919 – 1939 1. Những nét chung - Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga và sự kết thúc của Chiến tranh thế giới thứ nhất => Tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước châu Á. - Tiêu biểu là cách mạng Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và In-đô-nê-xi-a. - Giai cấp công nhân trở thành lực lượng nồng cốt, Đảng cộng sản giữ vai trò lãnh đạo (ở Trung Quốc, Việt Nam...).
2. Cách mạng Trung Quốc trong những năm 1919 – 1939
4 / 5 / 1919 Phong trào Ngũ Tứ. 7 / 1921 Thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc. 1926 – 1927 Đấu tranh chống lại các tập đoàn quân phiệt. 1927 – 1937 Nội chiến giữa Đảng cộng sản với Quốc dân đảng. 7 / 1937 Hai đảng Quốc – Cộng hợp tác chống Nhật xâm lược.
II. PHONG TRÀO ĐỘC LẬP DÂN TỘC Ở ĐÔNG NAM Á (1918 – 1939) 1. Những nét chung về phong trào độc lập dân tộc ở Đông Nam Á 1918 – 1939 - Hầu hết các nước Đông Nam Á là thuộc địa của đế quốc …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.