Quảng cáo
Làng Vĩnh Hòa Đông - Nguyễn Thị Diệp Mai
QR

Làng Vĩnh Hòa Đông - Nguyễn Thị Diệp Mai

Nguồn: Truyen Tranh SuuTam

Xem trước nội dung

Làng Vĩnh Hòa Đông

Nguyễn Thị Diệp Mai

Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động Nguồn: http://vnthuquan.net Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.

Nguyễn Thị Diệp Mai

Làng Vĩnh Hòa Đông

Có dân quần cư thành thôn từ thế kỷ XVII, nằm hiền hòa bên bờ kinh Tà Niên, làng Vĩnh Hòa Đông thuộc tổng Kiên Định, huyện Kiên

Giang xưa, trấn Hà Tiên được xem nơi ghi dấu ấn lịch sử bi hùng của vùng đất Kiên Giang. Vào thế kỷ XVI - XVII, trên vùng đất Tây Nam bộ hiện nay đã có người Việt cư trú cùng với tộc người Khmer. Trước năm 1708, Mạc Cửu đã tập hợp được 7 tụ điểm dân cư mà Gia Định Thành Thông chí ghi là 7 xã, thôn: Phú Quốc, Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm, Rạch Giá, Cà Mau, riêng Hà Tiên là thủ phủ của Mạc Cửu. Hiện nay chỉ còn 4 địa danh nằm trên đất nước Việt Nam là Phú Quốc, Rạch Giá, Cà Mau và Hà Tiên. Mùa thu, tháng 8 năm Mậu Tý (1708), Mạc Cửu dâng biểu xưng thần đem vùng đất nầy chính thực xáp nhập vào Việt Nam. Chúa Nguyễn Phúc Chu tiếp nhận, đặt thành một đơn vị hành chánh cấp Trấn và đặt tên là Trấn Hà Tiên. Mãi cho đến năm 1739, Mạc Thiên Tích (con của Mạc Cửu) thành lập thêm 4 huyện

Kiên Giang (Rạch Giá), huyện Long Xuyên (Cà Mau), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Bạc Liêu) thuộc trấn Hà Tiên. Vua Minh Mạng lên ngôi dần dần thực hiện chế độ trung ương tập quyền. Năm 1825, trấn Hà Tiên còn gồm hai huyện Kiên Giang, Long Xuyên và một số xã, thôn trực thuộc thẳng trấn (Theo sách Gia Định thành Thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi chép - Dẫn theo Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn của Nguyễn Đình Đầu). Làng Vĩnh Hòa Đông thuộc tổng Kiên Định, huyện Kiên Giang vốn là

thôn Vĩnh Hòa Đông xưa(1). Làng được xem nơi ghi dấu ấn lịch sử bi hùng thế kỷ XIX của vùng đất Kiên Giang. Trước đây vùng này dân cư còn thưa thớt, chưa có người khai phá nhiều. Đình làng(2) được xây dựng để thờ thần hoàng bổn cảnh và người có công chiêu dân khai mở thôn là ông Ngô Quyền Hóa. Làng là nơi ghi dấu chứng tích của cuộc chiến cuối cùng của Thự quản cơ Nguyễn Hiền Điều, là căn cứ địa của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực năm 1868, có mộ của Lâm Quang Ky - phó tướng của Nguyễn Trung Trực. Làng còn nổi tiếng bởi nghề dệt chiếu Tà Niên. Tháng 6 năm Quý Tỵ (1833) không chịu nổi ách thống trị hà khắc của Minh Mạng, Lê Văn Khôi khởi nghĩa, được nhân dân vùng lục tỉnh nhiệt liệt hưỡng ứng. Ngay sau đó, trước sức mạnh của quân đội tiễu phạt của triều đình, Khôi đã đi cầu viện vua Xiêm, vì vậy quân Xiêm có cớ xâm lược nước ta. Tháng 11 năm 1833 quân Xiêm do tướng Chất Tri (Phi Nha Chakkri) chỉ huy, chia làm 5 đạo và hơn

100 chiến thuyền tràn vào đánh chiếm ngay Hà Tiên, xông thẳng vào nội địa nước ta. Lúc này, nhiệm vụ chống ngoại xâm được để lên hàng đầu, nhân dân lục tỉnh không ủng hộ Khôi nữa, mà cùng với quân đội triều đình ra sức đánh quân xâm lược. Tháng giêng năm Giáp Ngọ (1834) giặc Xiêm phải rút chạy về nước. Trong bối cảnh lịch sử rối ren, phức tạp như vậy, một bộ phận tộc người Khmer ở Kiên Giang do bị xúi giục nổi dậy xô xát, chia rẽ với tộc người Việt, chống lại chính quyền đương thời làm tổn hại đến cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó có cả họ. Để bảo vệ đất nước, việc chính quyền phong kiến Việt Nam tiến hành trấn dẹp các cuộc xô xát là điều cần thiết. Triều đình đặc phái Nguyễn Hiền Điều

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo