
Kể chuyện đất nước
Nguyễn Khắc Viện
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động Nguồn: http://vnthuquan.net Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
I. HÀ NỘI - THĂNG LONG II. ĐẤT TỔ III. HẠ LONG IV. KHÚC RUỘT MIỀN TRUNG V. MỘT DÃY NÚI - MỘT CON ĐƯỜNG VI. VÀI NÉT VỀ VĂN HÓA CHÀM VII. RỪNG NÚI VIỆT BẮC VIII. NAM BỘ IX. SÀI GÒN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KẾT
Nguyễn Khắc Viện
Kể chuyện đất nước
I. HÀ NỘI - THĂNG LONG
I. HÀ NỘI - THĂNG LONG II. ĐẤT TỔ III. HẠ LONG IV. KHÚC RUỘT MIỀN TRUNG TỪ TAM ĐIỆP ĐẾN ĐÈO NGANG BÌNH TRỊ THIÊN TỪ ĐÀ NẴNG ĐẾN PHAN THIẾT HỘI AN V. MỘT DÃY NÚI - MỘT CON ĐƯỜNG VI. VÀI NÉT VỀ VĂN HÓA CHÀM VII. RỪNG NÚI VIỆT BẮC TÂY BẮC TÂY NGUYÊN VIII. NAM BỘ
MIỀN ĐÔNG ĐẤT ĐỎ ĐỒNG NAI - RỪNG SÁT - VŨNG TÀU ĐỒNG THÁP MƯỜI MIỀN TRUNG NAM BỘ MIỀN TÂY NAM BỘ IX. SÀI GÒN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KẾT I. HÀ NỘI - THĂNG LONG Chúng ta bắt đầu với Hà Nội. Nơi đây năm 1010, vua Lý Thái Tổ
chọn làm kinh đô để "mưu toan việc lớn, tính kế lâu dài cho con cháu về sau vì ở trung tâm đất nước được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; vị trí ở giữa bốn phương đông, tây, nam, bắc; tiện hình thế núi sông sau trước. Ở đó địa thế rộng mà bằng phẳng (...), thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời" (chiếu dời đô). Nơi đây sông Hồng uốn khúc, trước đó tách ra con sông Đáy rồi đến sông Đuống, sông Nhuệ, ngày xưa còn cả con sông Tô Lịch chảy ngang qua phố phường. Gần một nghìn năm đã qua, cái tên Thăng Long gắn liền với mọi biến cố của lịch sứ dân tộc, mỗi bước hưng vong của quốc gia. Người Việt Nam trở về Hà Nội, đến với Hà Nội, trước hết là để đi vào chiều sâu của lịch sử quốc gia dân tộc. Thăng Long ba lần bị quân Nguyên đốt phá, rồi đến quân Chiêm của Chế Bồng Nga, quân Minh của Trương Phụ; thế kỷ XVIII kiêu binh tàn phá hoàng cung và phủ chúa, thế kỷ XIX Gia Long cho đốt phá nốt cung điện nhà Lê dời đô vào Huế, rồi Pháp lại lấy hoàng thành
xưa làm nơi đóng quân. Sau khi kinh đô dời vào Huế, Bà Huyện Thanh Quan đã thốt lên: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch dương Năm 1812, trở lại với Thăng Long, Nguyễn Du than thở: Thiên niên cự thất thành quan đạo Nhất phiến tân thành một cố cung (Những nơi có nhà lớn nghìn năm nay thành đường cái. Một thành mới đã thay thế cho cung điện xưa). Ngày nay chúng ta thoát được cái buồn man mác của các thi sĩ xưa, ta nhìn lại lịch sử của dân tộc, của đất nước với con mắt của những người được giải phóng, được nhiều ngành khoa học, địa chất, địa lý,
khảo cổ, dân tộc học, sử học giúp cho nhìn rõ hơn con đường tiến lên của giống nòi. Mặc dù thành thị xưa bị tàn phá rất nhiều, Hà Nội ngày nay vẫn giữ được khá nhiều vết tích, đủ cho chúng ta có dịp ôn lại mấy nghìn năm cuộc sống của cha ông. (Xem quyển Hà Nội nghìn xưa xuất bản năm 1975 của hai tác giả Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán). Sông Nhị, núi Nùng Một con sông lớn, một gò đất không có gì cao lắm. Nhưng là núi thiêng (nay ở trong thành, khu quân đội) có đền thờ thần Long đỗ (rốn Rồng), nơi giao lưu của trời đất và con người. Nơi trung tâm của làng Hà Nội cổ, bên bờ sông Cái. Một con sông ngang ngược, thường đổi dòng, để sót lại một chuỗi hồ lớn nhỏ. Hà Nội là thành phố của những mặt hồ, dấu vết của sông Hồng, Con đường Hoàng Hoa Thám bên bờ hồ Tây xưa là con đê, khi hồ còn là một khúc sông. Người xưa lấp bớt, năm 1620 đắp đường Cố Ngự (thường gọi trệch là Cổ Ngư, nay mở rộng thành đường Thanh Niên) thành hai hồ, hồ nhỏ là Trúc Bạch (Giặt Lụa). 500 héc ta mặt nước bao quanh là những làng Quảng Bá, Nghi Tàm, Nhật Tân, Thụy Khuê (Bưởi) bao lần được sử sách nhắc đến, một mặt hồ từ xưa đến nay mang bao nhiêu tên, gọi là truyền thuyết và sự tích này khác - Hồ Xác Cáo, hồ Sương Mù, hồ Trâu Vàng, nay nôm na là hồ Tây. Trung Tâm cũng là một mặt hồ, hồ Gươm, "nước xanh như pha mực, bên hồ ngọn Tháp Bút, viết thơ lên trời cao" (Trần Đăng Khoa) có cầu Thê Húc, cho nắng đậu ban mai, đến đây không thể không nhớ đến người anh hùng dân tộc Lê Lợi, và nhà văn Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (vào thế kỷ …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.