Quảng cáo
Đề ôn hè Tiếng Việt 4 lên 5 có lời giải chi tiết - Đề 1
QR

Đề ôn hè Tiếng Việt 4 lên 5 có lời giải chi tiết - Đề 1

Nguồn: loigiaihay.com

Xem trước nội dung

1

Mục tiêu

- Rèn kĩ năng đọc – hiểu.

- Ôn tập lại kiến thức về dấu hai chấm

- Ôn tập về phân tích cấu tạo câu

- Ôn tập về từ loại

- Ôn tập về văn miêu tả

Phần I. Trắc nghiệm

Đọc:

Anh bù nhìn

Một cái que cắm dọc, một thanh tre nhỏ buộc ngang, thành hình chữ thập. Khoác lên đấy một cái áo tơi

lá cũ, hoặc một mảnh bao tải rách, cũng có thể là một manh chiếu rách cũng được. Trên đầu que dọc là một

mê nón rách lơ xơ. Thế là ruộng ngô, ruộng đỗ, ruộng vừng hoặc một ruộng mạ mới gieo… đã có một người

bảo vệ, một người lính gác: một anh bù nhìn. Để cho đủ lệ bộ, anh bù nhìn cầm một cái vọt tre mềm như cần

câu. Đầu cần buộc một túm nắm giấy, tốt hơn thì dùng một túm lá chuối khô tước nhỏ, giống như vẫn buộc ở

đầu gậy của người chăn vịt trên đồng.

Có nhiều loài chim bị mắc lừa, rất sợ anh bù nhìn, sợ cái cần câu ấy, vì chỉ hơi thoàng gió thì từ tấm áo,

cái nón, đến thanh roi ấy đều cử động, phe phẩy, đung đưa…. Bọn trẻ chúng tôi đứng từ xa mà nhìn cũng thấy

đúng là một người đang ngồi, tay cầm que để đuổi chim…

Những anh bù nhìn thật hiền lành, dễ thương, chăm chỉ làm việc của mình, chẳng đòi ăn uống gì và

cũng chẳng bao giờ kể công. Các anh cũng không sợ nắng gắt, gió lạnh, mưa bão. Anh có bị gió xô ngã thì rồi

cũng có người đỡ anh dậy, anh chẳng kêu khóc bao giờ.

Chỉ tiếc là cũng có những con chim ranh ma, một lần sà xuống biết đấy là anh bù nhìn, không có gì

nguy hiểm, không có gì đáng sợ thế là lần sau nó cứ xuống và còn đi gọi cả đàn xuống, vừa tra ngô, tỉa đỗ, mà

lại phải đi làm lại từ đầu, vì chúng đã ăn hết cả hạt vừa gieo. Người ta vốn khôn ngoan hơn, lại phải thay lại

PHIẾU ÔN TẬP HÈ

PHIẾU SỐ 1

MÔN: TIẾNG VIỆT – LỚP 4

BIÊN SOẠN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM

2

tấm áo, cái nón và cái cần câu mới, buộc thêm vào đấy nhiều mẩu giấy có các màu, làm như đó là một người

bảo vệ mới.

Bọn trẻ chúng tôi thích các anh bù nhìn ấy vì các anh không bao giờ dọa chúng tôi, không bao giờ lên

mặt hoặc cáu gắt, dù chúng tôi có ào xuống ruộng bắt châu chấu, đuổi cào cào, giẫm cả lên cái mầm ngô, mầm

đỗ mới nhú…

Quả là các anh bù nhìn hiền lành đáng yêu, đã giúp người nông dân, trong đó có cha mẹ tôi, một cách

khá tốt…

(Theo Băng Sơn)

Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng

Câu 1: Anh bù nhìn được làm bằng gì?

A. Giấy và bao tải cũ

B. Giấy và rơm

C. Gỗ và áo tơi lá cũ

D. Thanh tre, bao tải rách, áo tơi lá cũ

Câu 2: Anh bù nhìn có “nhiệm vụ” gì?

A. Dọa trẻ con trong làng, không cho chơi ở cánh đồng

B. Dọa chim, bảo vệ ruộng mới gieo hạt

C. Làm đồ chơi cho trẻ con

D. Bảo vệ lúa khỏi bị chuột ăn

Câu 3: Người nông dân làm gì khi lũ chim ăn hết hạt mới gieo ngoài đồng?

A. Gieo lại hạt và làm một anh bù nhìn mới

B. Gieo lại hạt và làm bẫy chim

C. Giăng lưới để bắt chim

D. Vừa làm bẫy chim vừa làm anh bù nhìn khác

Câu 4: Điểm đáng yêu của các anh bù nhìn là:

A. Hiền lành, tốt bụng, thường xuyên giúp đỡ trẻ con trong làng

B. Vui tính, không cáu gắt, làm trò vui cho trẻ con

C. Giúp các bác nông dân gieo hạt, cấy cày để có một vụ mùa bội thu

D. Không dọa dẫm, cáu gắt, lên mặt với trẻ con, giúp người nông dân bảo vệ ruộng mới gieo hạt

Câu 5: Câu “Những anh bù nhìn thật hiền lành, dễ thương, chăm chỉ làm việc của mình, chẳng đòi ăn uống

gì và cũng chẳng bao giờ kể công” thuộc kiểu câu nào?

A. Ai làm gì?

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo