
TRƯỜNG THPT THANH KHÊ
Tổ Ngữ Văn
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KIỂM TRA CUỐI KÌ II
NĂM HỌC 2023 -2024
Môn: Ngữ Văn 10
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THỨC, CẤU TRÚC ĐỀ KIỂM TRA VÀ
PHẠM VI ÔN TẬP 1. Hình thức: Tự luận 2. Thời gian làm bài: 90 phút 3. Cấu trúc chung: Gồm 2 phần: Đọc – hiểu (6,0 điểm) và Làm văn (4,0 điểm) a. Phần Đọc – hiểu (6,0 điểm): Gồm 7 câu. - Ngữ liệu đọc - hiểu: văn bản/ đoạn trích (ngoài sách giáo khoa).
- Thể loại: Văn bản thông tin theo bốn mức độ: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng, Vận dụng cao. - Một số kiến thức Tiếng Việt: Sử dụng từ Hán Việt, Biện pháp chêm xen, liệt kê và Sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ. b. Phần Làm văn (4,0 điểm): Gồm 1 câu. * Dạng đề: Yêu cầu viết bài văn nghị luận: - Nghị luận về một vấn đề xã hội. - Viết bài luận về bản thân. * Yêu cầu cần đạt: (1) Nghị luận về một vấn đề xã hội: - Giới thiệu được vấn đề xã hội cần bàn luận. - Nêu rõ lí do lựa chọn và quan điểm cá nhân về vấn đề xã hội cần bàn luận. - Chứng minh quan điểm của mình bằng hệ thống luận điểm chặt chẽ, hợp lí; sử dụng các lí lẽ thuyết phục và bằng chứng chính xác, đầy đủ. - Biết sử dụng yếu tố biểu cảm để tăng sức thuyết phục của văn bản. - Khẳng định ý nghĩa của vấn đề cần bàn luận. (2) Viết bài luận về bản thân: - Xác định rõ luận đề của bài viết. - Thể hiện được cá tính, thiên hướng, lựa chọn, niềm tin, quan điểm riêng của bản thân. - Sử dụng bằng chứng là những sự kiện, kinh nghiệm mà người viết đã trải qua. - Có giọng điệu riêng nhưng phù hợp với đối tượng tiếp nhận, thể hiện cảm xúc chân thành của người viết; thuyết phục, truyền cảm hứng và gợi suy ngẫm cho người đọc. 4. Phạm vi ôn tập:
Từ tuần 19 đến tuần 33 học kỳ II
II. NỘI DUNG ÔN TẬP
BÀI 6: NGUYỄN TRÃI – “DÀNH CÒN ĐỂ TRỢ DÂN NÀY” 1. Văn học trung đại Việt Nam - Văn học trung đại Việt Nam hình thành, phát triển trong khoảng thời gian từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, trong thời kì phong kiến. Văn học trung đại Việt Nam gồm hai bộ phận: văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm. - Theo tiến trình văn học, văn học trung đại chia thành 4 giai đoạn + Từ thế kỉ X đến hến TK XIV + Từ TK XV đến TK XVII + Từ TK XVIII đến nửa đầu TK XIX + Nửa cuối TK XIX - Văn học trung đại Việt Nam có liên hệ mật thiết với nguồn mạch văn học dân gian; đồng thời tiếp thu một cách chọn lọc, sáng tạo tinh hoa của nhiều nền văn học trong khu vực, đặc biệt là văn học cổ điển Trung Hoa. - Văn học trung đại Việt Nam luôn gắn bó sâu sắc với vận mệnh của quốc gia, dân tộc, thể hiện rõ tinh thần yêu nước và đề cao các giá trị nhân văn, nhân đạo. - Tính quy phạm được xem là đặc trưng nổi bật nhất trong văn học trung đại - Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam và ở sáng tác của nhiều tác giả, một số đặc điểm quy phạm đã bị phá vỡ, thể hiện tính dân tộc và ý thức cá tính trong cả nội dung và hình thức nghệ thuật. 2. Tác giả văn học trung đại Việt Nam - Nền văn học trung đại Việt Nam được tạo dựng bởi các thế hệ trí thức giàu ý thức tự tôn dân tộc. Tác giả văn học trung đại Việt Nam hấp thụ tinh hoa văn hoá dân gian của người Việt và tiếp nhận ảnh hưởng của các hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo theo xu hướng dân tộc hoá. Nhiều tác giả là anh hùng dân tộc có đóng góp to lớn cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước. - Một số tác giả tiêu biểu: Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến… 3. Văn nghị luận Việt Nam thời trung đại - Văn nghị luận Việt Nam thời trung đại có thành tựu rất phong phú, được viết theo nhiều thể văn khác nhau như hịch, cáo, chiếu, biểu thư, trát, luận thuyết, tự, bạt,... - Văn nghị luận thời trung đại thường có bố cục mang tính quy phạm Với các phần đảm nhiệm những chức năng cụ thể, lời văn chứa nhiều điển tích, điển cố, lập luận chặt chẽ,... 4. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận - Văn nghị luận không chỉ thuyết phục người đọc bằng lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén mà còn bằng các yếu tố biểu cảm. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận thể hiện nhiệt huyết của người viết trong việc bày tỏ và bảo vệ quan điểm. Nhờ các yếu …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.