
1
Phần 1(6.5 điểm)
Trong bài thơ “Ánh trăng”, nhà thơ Nguyễn Duy đã viết:
... Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
(Theo SGK Ngữ Văn 9, tập 1, trang 156, NXB Giáo dục, 2016)
Câu 1 (1 điểm) Xác định thời điểm ra đời của bài thơ “Ánh trăng”, liên hệ với cuộc
đời Nguyễn Duy để phát biểu chủ đề của bài thơ. Theo em, chủ đề ấy có liên quan gì đến đạo
lí, lẽ sống của dân tộc Việt Nam ta?
Câu 2 (0,75 điểm) Phân tích những ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh trăng trong đoạn
thơ trích dẫn.
Câu 3 (3,5 điểm) Dựa vào hai khổ thơ, em hãy viết một đoạn văn Tổng hợp - Phân
tích - Tổng hợp khoảng 10 - 12 câu để làm rõ cảm xúc và những suy ngẫm của tác giả. Trong
đoạn có sử dụng hợp lí một thán từ và một câu bị động (gạch chân và chú thích rõ)
ĐỀ THI HỌC KÌ 1 – QUẬN HOÀNG MAI 2019-2020
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 9
Thời gian làm bài: 90 phút
BIÊN SOẠN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM
2
Câu 4 (1,25 điểm) Trong chương trình Ngữ văn THCS, em còn đực học một bài thơ
khác cũng miêu tả cuộc gặp gỡ không lời giữa người và trăng. Đó là bài thơ nào? Chép chính
xác bài thơ đó. Hãy chỉ ra điểm khác nhau về ý nghĩa cuộc gặp gỡ trong hai bài thơ thơ.
Phần II (3,5 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Tôi muốn nói với các bạn câu chuyện làm Việt luận(a) và học Việt văn(b), luôn thể giãi bày
hết nỗi khổ tâm của người anh các bạn đã đeo một cái “nghiệp” vào người: “nghiệp” dạy
tiếng mẹ đẻ.
Nỗi buồn thứ nhất là thấy các bạn có quan niệm học “tủ”. Ông thầy dạy giỏi đối với các
bạn là ông thầy giảng và soạn sách đúng “tủ”.
Nói làm sao cho các bạn hiểu rằng trong 7, 8 năm trời, nào nhận xét, đọc sách, xem truyện,
giảng văn.... nào tập dùng chữ, đặt câu, dàn ý, làm bài, tôi thiết tưởng một học sinh, với
khiếu thông minh, trí nhớ trung bình, không có lí do gì phải nhẩm bút trước một đề văn trong
kì thi viết.
Sự học mà đã hạ xuống là học “tủ” thì chúng tôi cũng không còn cần làm việc cùng các bạn
nữa. Sao không có một “hãng” nào đó in ra độ 500 bài làm văn sẵn để học sinh cứ việc
mang về học thuộc như con vẹt, rồi đem nguyên văn chép lại cho hội đồng chấm thi duyệt
xem chép sai hay đúng, việc gì còn phải lôi thôi bày đặt ra chương trình học tập để bắt trẻ
em ngày ngày phải đến trường.
(a) Làm Việt Luận: tập làm văn bằng tiếng Việt
(b) Học Việt văn: học văn học Việt Nam.
(Theo Nghiêm Toản, Luận văn thị phạm. Dẫn theo Ngữ văn 8, tập II, trang
97+98, NXB Giáo dục, 2016)
Câu 1 (1,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính và chỉ rõ những cảm xúc dược
tác giả biểu hiện trong đoạn trích. Qua đó, em học tập được điều gì khi thuyết phục người
khác về một vấn đề?
Câu 2 (2,0 điểm) Viết một đoạn văn khoảng 1/2 trang giấy thi làm rõ nhận định:
chúng ta không nên học vẹt, học tủ.
(Giám thị coi kiểm tra không giải thích gì thêm)
3
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM
PHẦN
I
Câu 1:
*Phương pháp: Đọc, hiểu
*Cách giải:
- Thời điểm: tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1978 (Ba năm sau ngày giải phòng miền
Nam, thống nhất đất nước).
- Liên hệ với cuộc đời nhà thơ: trưởng thành trong khánh chiến chống Mỹ; hòa bình
lập lại, sống và làm việc tại TP HCM => Chủ đề: Nhắc nhở về thái độ, tình cảm với
những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, với thiên nhiên, đất nước bình dị,
hiền hậu.
- Đạo lí sống: ân nghĩa thủy chung.
Câu 2:
*Phương pháp: Đọc, tìm ý, phân tích
*Cách giải:
- Trăng biểu tượng cho quá khứ vẹn nguyên, đẹp đẽ không phai mờ.
- Trăng biểu tượng cho vẻ đẹp vĩnh hằng của cuộc sống.
- Trăng biểu tượng cho người bạn – nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc.
Câu 3:
*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp, bình luận
*Cách giải:
Học sinh hoàn thành đoạn văn Tổng – phân – hợp:
*Mở đoạn: đạt yêu cầu về nội dung, hình thức.
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.