Quảng cáo
Đề thi giữa kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 7
QR

Đề thi giữa kì 1 Văn 11 Kết nối tri thức - Đề số 7

Nguồn: loigiaihay.com

Xem trước nội dung

1

I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi kế tiếp

MỜI TRẦU CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

(Hoàng Hữu Yên)

(1) Bài thơ Mời trầu đi vào lòng người như một câu chuyện tâm tình. Là một bài

tứ tuyệt (bốn câu ba vần) rất hay và rất mẫu mực về cấu trúc, về niêm luật và

vần điệu, có thể so sánh với bất cứ bài thơ luật Đường đặc sắc nào bằng chữ

Hán. Thế mà đọc thơ chúng ta không có cảm tưởng đó là một thể thơ nhập nội,

bởi lẽ “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương đã Việt hóa đến kì tài về cả hai mặt

nội dung diễn đạt và hình thức biểu hiện.

(2) Câu chuyện chẳng có gì cao siêu mà hết sức thông thường gắn với phong tục

tập quán về giao tiếp của người Việt : tục mời trầu “Miếng trầu là đầu câu

chuyện”. Dù khách quen hay khách lạ, khách thường hay khách sang, chủ nhân

bao giờ cũng có cơi trầu đãi khách. Đã thành tục lệ truyền thống lâu đời thì từ

lá trầu, quả cau cho đến cách bổ cau, têm trầu cũng khá nhiêu khê! Có trầu quế,

trầu hối cũng có trầu cay, trầu hội; có cách tâm bình thường cũng có cách têm

cánh phượng. Có cau tươi, cau khô, cau già, cau non, cau quà to, cau quả nhỏ,

cau tiễn chũm lòng đào... Miếng trầu phần nào nói lên sự ứng xử đa dạng của

con người “Cau non tiễn chũm lòng đào, trầu têm cánh phượng” thường dùng

để đãi khách quý.

(3) Xuân Hương cũng đãi khách bằng “mời trầu” nhưng có khác người thường

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,

Này của Xuân Hương đã quệt rồi.

ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 1 – ĐỀ 7

MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 11

Thời gian làm bài: 90 phút

BIÊN SOẠN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM

2

Cơi trầu Xuân Hương đãi khách - chắc chắn là khách quý, có thể là người tình

đã ít nhiều qua lại, gắn bó - xem ra đơn bạc quá sao ? (Cau nhỏ, trầu hôi).

Không, đừng vội lầm tưởng Xuân Hương đãi bôi, không trọng thị khách quen,

vì quen quá hóa nhờn! Cả hai câu toát lên ý nghĩa về cách ứng xử khiêm tốn mà

rất chân tình. “Này của Xuân Hương” lời chan chứa cái chân tình hồn hậu vốn

có, không chút khoa trương, khách khí. Tất cả những gì thuộc về Xuân Hương

đều không tô vẽ hoa lá mà mộc mạc chân chất như thế đó. Cách nói khiêm tổn

này vốn là lối ứng xử tế nhị của nhân dân. Ta đã chẳng thấy cô thôn nữ đáng

yêu cũng đã từng tự khiêm như vậy sao ? “Thân em như hạt mưa sa ; thân em

như quả mít trên cây..” Càng nói khiêm càng chứng tỏ phẩm chất đáng quý của

chính bản thân mình.

Tự khiêm khác với tự ti, không năn nỉ cầu xin sự ban ơn nào cả! Xuân Hương tự

khiêm vì nàng ý thức được phẩm giá của chính mình.

Có phải duyên nhau thì thắm lại,

Đừng xanh như lá bạc như vôi!

Chính do có ý thức sâu sắc về mình như thế, Xuân Hương đã không dè dặt ngần

ngại giãi bày minh bạch thái độ của mình trước một chuyện hệ trọng chuyện

nhân duyên. Có phải duyên nghĩa là nếu đúng là duyên số, duyên ưa phận đẹp

như cách nói văn hoa trong Truyện Kiều: “Rằng : trong tác hợp cơ trời”, thì

thắm lại tức là duyên đằm thắm gắn bó sắt son, nên đội nên lứa hay nói như dân

gian “Có thương thì thương cho chắc; Bằng trục trặc thì trục trặc cho luôn...

(Dân ca Nghệ Tĩnh). Phải có bản lĩnh cao mới sòng phẳng đặt vấn đề như vậy.

Nó sẽ là cái “kính chiếu yêu” để soi thấu cái quan hệ nhập nhằng “già nhân ngãi

non vợ chồng”, cái tâm địa “tiếc rẻ” của đấng mày râu nào đó. Và một khi

đường ranh giới đã được phân định trắng và đen không có khả năng nhập nhèm

lẫn lộn thì lời răn vừa nhắc nhủ vừa phê phán “Đừng xanh như lá, bạc như vôi”

hẳn là hoàn toàn thích đáng.

Cái “màu xanh như lá, không phải là màu xanh của thương nhớ như “Ngàn dâu

xanh ngắt một màu “ (Chinh phụ ngâm khúc) và màu trắng là màu vôi tôi bạc

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo