Quảng cáo
Đề thi giữa kì 1 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 9
QR

Đề thi giữa kì 1 Văn 10 Chân trời sáng tạo - Đề số 9

Nguồn: loigiaihay.com

Xem trước nội dung

1

I. ĐỌC HIỂU (6đ)

Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới

ĐẺ ĐẤT (Trích Đẻ đất đẻ nước – sử thi Mường)

Tóm tắt: Thuở ấy, khi đất còn pạc lạc (xơ xác, rời rạc), nước còn pời lời (bùng

nhùng), trời còn puổng luổng (mung lung), bỗng “mưa dầm mưa dãi, nước ngập

bao la núi đồi, 50 ngày nước mới rút, tự nhiên mọc lên một cây xanh có 90

cành, có một cành chọc trời, biến thành ông Thu Tha, bà Thu Thiên. Hai thần

truyền lệnh làm ra đất, trời và muôn vật. Nhưng sau đó, trời nắng dữ dội 12 năm

liền làm cho xơ xác. Thần Pổng Pêu ao ước có một trận mưa lớn. Tức thì mưa

to gió lớn chín mười ngày đêm, nước ngập bao la. Bảy tháng sau, nước rút. Tiếp

đó là quá trình hình thành vũ trụ, con người, xây dựng bản Mường và sáng tạo

văn hoá của đồng bào Mường ở buổi sơ khai.

Tác phẩm gồm nhiều rằn/rằng (đoạn), kể lại quá trình hình thành vũ trụ, hình

thành con người. Phần được trích dẫn dưới đây là một trong hai rằn mở đầu của

tác phẩm. Đẻ đất và Đẻ nước vốn là tên của hai rằn song “trong ý niệm của

người Việt – Mường thì Đất – Nước còn mang ý nghĩa Tổ quốc, giống nòi, địa

vực cư trú, nên tên của hai rằn này được dùng làm tên chung cho tác phẩm”.

ĐẺ ĐẤT

Muốn ăn cơm phải tìm giống gieo mạ

ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ 1 – ĐỀ 9

MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 10

BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC

Thời gian làm bài: 90 phút

2

Muốn ăn cá phải tát suối, tát ao

Muốn biết vì sao có đất đỏ, đất nâu

Phải bảo nhau ngồi nghe chuyện kể

Ngày xưa ngày ấy

Trông trời, trời bao la rộng rãi

Trông đất, đất vắng vẻ trống không

Đồn rằng: Có một năm mưa dầm mưa dãi

Nước vượt khỏi đồi U

Nước dâng tràn đồi Bái

Năm mươi ngày nước rút

Bảy mươi ngày nước xuôi

Mọc lên một cây xanh xanh

Có chín mươi cành

Cây chọc lên trời, lá xanh biết cựa

Thân trên mặt đất, thân cây biết rung

Trong tán trong cành có tiếng đàn bà con gái

Cành chọc trời là con đầu

Tên gọi ông Thu Tha

3

Cành bụng xung là con thứ hai

Tên gọi bà Thu Thiên

Hai ông bà nên đôi nên lứa

Truyền cho:

Con gà có cựa

Dây dưa biết leo

Tre pheo có gai, có ngọn

Con người biết nói

[…]

Khi đó dưới đất không còn rời rạc

Dưới nước không còn bùng nhùng

Trời không mung lung

Trông lên ngó xuống đã có nơi có chốn

Đã có

Lối đi xuống

Luồng muốn dậy đã có ngãnh

Cau muốn dậy đã có mo ne

Dây củ mài muốn dây leo vắt vẻo

4

Dây sẵn muốn dây néo buộc

Đã có nơi néo buộc

Con thác muốn dậy đã có con sao

Con sao muốn dậy, đã có trời sáng

Con nhà người muốn dậy, đã có em có anh

Đạo làm vua không tranh

Đạo làm người không cướp

Vua đã yêu, chúa đã chuộng

Đã có người vụng người tài

Đã có người trai người gái

Đồi bãi đã có thú to

Rừng thưa đã có chim nhỏ

Dưới nước

Đã đẻ con cá, con tôm

Đầu hôm đã sinh con rùa

Tối ngày đã sinh con rái

Dưới đất,

Cái gì cũng có

5

Gió ầm ầm đã nghe

Mưa le re đã thấy

Thứ nào muốn dậy đều nên thân nên hình

Đất đã có

Đất rộng thênh thang

Chuyện chưa kể nên một gang

Chuyện chưa kể sang một lẽ

Người già người trẻ

Lại nghe chuyện đến chuyện đi

Lại nghe chuyện xưa chuyện cũ

Người ở sướng, ăn ngon

Cũng có đứa khôn, thằng đại

Người khôn nghe kể lại

Thằng dại nghe vội nghe vàng

Phải chờ nghe thêm

Chuyện đẻ nước.

(Văn học dân gian, Tác phẩm dùng trong nhà trường, NXB Thanh niên, Hà Nội,

2006)

Câu hỏi

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo