
1
I. Đọc hiểu (6,0 điểm)
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Nhà mẹ Lê
Đoàn Thôn là một cái phố chợ tồi tàn gần ngay một huyện lị nhỏ ở trung châu.
Hai dãy nhà lụp xụp, mái tranh xuống thấp gần đến thềm, che nửa những cái
chái nứa đã mục nát. Gần đấy là những quán chợ xiêu vẹo đứng bao bọc một
căn nhà gạch có gác bưng bít như một cái tổ chim, nhà của một người giàu
trong làng làm ra để bán hàng. Người ở phố chợ là bảy tám gia đình nghèo khổ
không biết ở đâu, mà người dân trong huyện thường gọi một cách khinh bỉ:
những kẻ ngụ cư. Họ ở đâu đến đây kiếm ăn trong mấy năm trời làm đói kém,
làm những nghề lặt vặt, người thì kéo xe, người thì đánh dậm, hay làm thuê, ở
mướn cho những nhà giàu có trong làng. Người ta gọi mọi gia đình bằng tên
người mẹ, nhà mẹ Hiền, nhà mẹ Đối, nhà mẹ Lê. Những gia đình này giống
nhau ở chỗ cùng nghèo nàn như nhau cả.
Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê là
một người đàn bà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay nhăn nheo như
một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của bác:
mười một đứa, mà đứa lớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn bế trên
tay.
ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ 2 – ĐỀ SỐ 15
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 10
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC
Thời gian làm bài: 90 phút
BIÊN SOẠN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM
2
Mẹ con bác ta ở một căn nhà lá. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng
rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan gãy nát. Mùa rét thì
trải ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó
mẹ và chó con lúc nhúc. Đối với người nghèo như bác một chỗ ở như thế cũng
tươm tất lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày
cũng không đủ nuôi từng ấy đứa con.
Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để
đi làm mướn cho những người trong làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy
bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng
xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà.
[...]
Những đêm sáng trăng mùa hạ, cả phố bắc chõng ngồi ngoài đường, vì trong
nhà nào cũng nóng như một cái lò, và hàng vạn con muỗi vo ve. Dưới bóng
trăng, những đá rải đường trông đen lay láy và lấp loáng ánh sáng.
Đất hãy còn giữ cái nóng buổi trưa và bốc lên một cái mùi riêng, lẫn mùi rác
bẩn và mùi cát. Mọi người họp nhau nói chuyện. Trẻ con nghịch chạy quanh các
bà mẹ, hình như quên cảnh khổ sở, hèn mọn, ai ai cũng vui vẻ chuyện trò, tiếng
cười to và dài như người lớn, xen lẫn với tiếng khúc khích của các cô gái chúm
chụm sát nhau trong bóng tối, người ta thấy tiếng bác Hiền nói vang, tiếng bác
Đối thuật lại buổi xe kiếm may mắn.
Trong một căn nhà đưa ra một tiếng võng và tiếng hát lanh lảnh của bác Đối
gái, đã đem hết tiền buổi xe kiếm được của chồng vào hiệu khách mua một cân
táo tầu rồi nằm võng vừa nhai vừa hát trống quân: “Ngày xưa, có anh Trương
Chi...
3
Mấy năm sau, sự kiếm ăn ngày một thêm khó khăn. Buổi chợ họp không đông
đúc như trước. Những tiếng nói chuyện trong sương lúc mờ sáng của các người
hàng sáo gánh gạo kĩu kịt trên đò để đem xuống huyện bán, người ta không
nghe thấy nữa. Cái đói kém đến chen lần trong các phố chợ. Bác Hiền ngày nào
cũng gánh hàng đi rồi lại gánh hàng về. Còn thường thấy bác Đối kéo cái xe
không, đi lảng vảng trong huyện và vợ bác cũng không hay nằm võng hát trống
quân nữa. Bác Lê trong lúc ấy, đi khắp các nhà trong làng, xin làm mướn,
nhưng các nhà có ruộng không ai mướn. Bác có làm không công, người ta cũng
chỉ cho có nửa bát gạo, đùm bọc về không đủ cho ba đứa con ăn. Những ngày
nhịn đói liên tiếp nhau luôn. Bác Lê thấy đàn con ngày một gầy còm, buổi chiều
bác mệt nhọc chán nản trở về, hỏi thằng cả xem có đánh được ít cá nào không,
thì nó buồn rầu khẽ lắc đầu, trả lời rằng các hồ ao người ta đã cấm không cho nó
thả lờ nữa.
Mùa rét năm ấy đến, giá lạnh và mưa gió lầy lội. Đàn con bác Lê ôm chặt lấy
nhau rét run trong căn nhà ẩm ướt và …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.