Quảng cáo
Đề thi học kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 14
QR

Đề thi học kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 14

Nguồn: loigiaihay.com

Xem trước nội dung

1

I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)

Hs đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi kế tiếp

ĐÓ LÀ MÙA CỦA NHỮNG TIẾNG CHIM REO

(1)Trời xanh biếc, nắng tràn lên khắp ngả

Đất thành cây, mật trào lên vị quả

Bước chân người bỗng mở những đường đi

(2) Đó là mùa không thể giấu che

Cả vạn vật đều phơi trần dưới nắng

Biển xanh thẳm, cánh buồm lồng lộng trắng

Từ những miền cay đắng hóa thành thơ.

(3) Đó là mùa của những ước mơ

Những dục vọng muôn đời không kể xiết

Gió bão hòa, mưa thành sông thành bể

Một thoáng nhìn có thể hóa tình yêu

(4) Đó là mùa của những buổi chiều

Cánh diều giấy nghiêng vòm trời cao vút

Tiếng dế thức suốt đêm dài oi bức

Tiếng cuốc dồn thúc giục nắng đang trưa

(5) Mùa hạ của tôi, mùa hạ đã đi chưa

ĐỀ THI CUỐI HỌC KÌ 2 – ĐỀ 14

MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 10

BỘ SÁCH: CÁNH DIỀU

Thời gian làm bài: 90 phút

BIÊN SOẠN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM

2

Ôi tuổi trẻ bao khát khao còn, hết

Mà mặt đất màu xanh là vẫn biển

Quả ngọt ngào thắm thiết vẫn màu hoa.

(Mùa hạ – Xuân Quỳnh, Thơ Xuân Quỳnh, NXB Văn học, 2016, tr. 34)

Trả lời câu hỏi:

Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Khổ (4) bài thơ miêu tả những âm thanh nào?

Câu 3: Thông điệp nào trong bài thơ có ý nghĩa nhất đối với anh/chị? Vì sao?

Câu 4: Câu thơ Bước chân người bỗng mở những đường đi gợi lên trong

anh/chị suy nghĩ gì về sức mạnh của con người trong cuộc sống?

Câu 5: Nét độc đáo của Xuân Quỳnh trong bài thơ là từ mùa hạ của thiên nhiên

đã liên hệ đến mùa hạ của đời người. Anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 5– 7

dòng làm sáng rõ nét độc đáo ấy.

II. Viết (4đ)

Nhà mẹ Lê là một gia đình một người mẹ với mười một người con. Bác Lê

là một người đàn bà nhà quê chắc chắn và thấp bé, da mặt và chân tay răn reo

như một quả trám khô. Khi bác mới đến phố, ai ai cũng chú ý đến đám con của

bác: mười một đứa, mà đứa nhớn mới có mười bảy tuổi! Đứa bé nhất hãy còn

bế trên tay.

Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, cái nhà cũng lụp xụp như những căn

nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc

chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gẫy nát. Mùa rét thì giải ổ rơm đầy nhà,

mẹ con cùng nằm ngủ trên đó, trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc

nhúc. Đối với những người nghèo như bác, một chỗ ở như thế cũng tươm tất

lắm rồi. Nhưng còn cách kiếm ăn? Bác Lê chật vật, khó khăn suốt ngày cũng

không đủ nuôi chừng ấy đứa con. Từ buổi sáng tinh sương, mùa nực cũng như

mùa rét, bác ta đã phải trở dậy để đi làm mướn cho những người có ruộng trong

làng. Những ngày có người mướn ấy, tuy bác phải làm vất vả, nhưng chắc chắn

buổi tối được mấy bát gạo và mấy đồng xu về nuôi lũ con đói đợi ở nhà. Đó là

3

những ngày sung sướng. Nhưng đến mùa rét, khi các ruộng lúa đã gặt rồi, cánh

đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da, bác

Lê lo sợ, vì không ai mướn bác làm việc gì nữa. Thế là cả nhà nhịn đói. Mấy

đứa nhỏ nhất, con Tý, con Phún, thằng Hy mà con chị nó bế, chúng nó khóc lả

đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét,

như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm

của mình ấp ủ cho nó.

Cuộc đời của gia đình bác Lê cứ như thế mà lặng lẽ qua, ngày no rồi lại

ngày đói. Tuy vậy, cũng có những ngày vui vẻ. Những ngày nắng ấm trong

năm, hay những buổi chiều mùa hạ, mẹ con bác Lê cùng nhau ngồi chơi ở trước

cửa nhà. Các người hàng xóm cũng làm như thế. Các bà mẹ ngồi rủ rỉ với nhau

những câu chuyện kín đáo, các trẻ con nô đùa dưới quán chợ, còn các bà già thì

ngồi rũ tóc tìm chấy ngoài bóng nắng. Bác Lê đem thằng Hi, con Phún ra gọt

tóc cho chúng nó bằng một cái mảnh chai sắc. Thằng cả ngồi đan lại cái lờ, còn

những đứa khác chơi quanh gần đấy. Trong ngày hè nóng nực, con bác Lê đứa

nào cũng lở đầu - bác ta bảo là một cái bệnh gia truyền từ đời ông tam đại - nên

bác lấy phẩm xanh bôi cho chúng nó. Trông mẹ con bác lại giống mẹ con đàn

gà, mà những con gà con người ta bôi xanh lên đầu cho khỏi lẫn. Người phố …

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo