Quảng cáo
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 13
QR

Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 13

Nguồn: loigiaihay.com

Xem trước nội dung

1

I. Đọc hiểu (6,0 điểm)

I. ĐỌC HIỂU:

Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Trong đề lao, ngày đêm của tử tù đợi phút cuối cùng, đúng như lời thơ xưa, vẫn

đằng đẵng như nghìn năm ở ngoài. Viên quản ngục không lấy làm oán thù thái

độ khinh bạc của ông Huấn. Y cũng thừa tiểu những người chọc trời quấy nước,

đến trên đầu người ta, người ta cũng còn chẳng biết có ai nữa, huống chi cái thứ

mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù. Quản ngục mong mỏi một ngày gần đây ông

Huấn sẽ dịu bớt tính nết, thì y sẽ nhờ ông viết, ông viết cho... cho mấy chữ trên

chục vuông lụa trắng đã mua sẵn và can lại kia. Thế là y mãn nguyện. Biết đọc

vỡ nghĩa sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan coi

ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng mình một đôi câu đối do tay

ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn

khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo là có

một vật báu trên đời. Viên quản ngục khổ tâm nhất là có một ông Huấn Cao

trong tay mình, dưới quyền mình mà không biết làm thế nào mà xin được chữ.

Không can đảm giáp lại mặt một người cách xa y nhiều quá, y chỉ lo mai mốt

đây, ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ, thì ân hận suốt

đời mất.

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ 2 – ĐỀ SỐ 13

MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 10

BỘ SÁCH: CÁNH DIỀU

Thời gian làm bài: 90 phút

BIÊN SOẠN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM

2

Một buổi chiều lạnh, viên quản ngục tái nhợt người đi sau khi tiếp đọc công văn

Quan Hình bộ Thượng thư trong kinh bắt giải ông Huấn Cao và các bạn đồng

chí ông vào kinh. Pháp trường lập ở trong ấy kia. Ngày mai, tinh mơ, sẽ có

người đến giải tù đi.

Viên quản ngục vốn đã tin được thầy thơ lại, cho lính gọi lên, kể rõ tâm sự

mình. Thầy thơ lại cảm động nghe xong chuyện, nói: “Dạ bẩm, ngài cứ yên tâm,

đã có tôi rồi chạy ngay xuống phía trại giam ông Huấn, đấm cửa buồng giam,

hớt hơ hớt hải kể cho tử tù nghe rõ nỗi lòng viên quản ngục, và ngập ngừng báo

luôn cho ông Huấn biết việc về kinh chịu án tử hình. Ông Huấn Cao lặng nghĩ

một lát rồi mỉm cười: “Về bảo với chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh về trại

nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây ta cho chữ. Chữ thì quý

thực. Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối

bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba

người bạn thân của ta thôi. Ta cảm cái tấm ông biệt nhỡn liên tài của các người.

Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao

quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”.

Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vắng có tiếng mõ trên vọng canh,

một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp,

ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Trong một

không khí khói toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm

dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên

vẹn lần hồ. Khói bốc toả cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa. Một người tù, cổ đeo

gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên

mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất

những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại

gầy gò, thì run run bưng chậu mực. Thay bút con, đề xong lạc khoản, ông Huấn

Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo:

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo