Quảng cáo
Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 11
QR

Đề thi giữa kì 2 Văn 10 Cánh diều - Đề số 11

Nguồn: loigiaihay.com

Xem trước nội dung

1

I. Đọc hiểu (6,0 điểm)

I. ĐỌC HIỂU:

Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Lời má năm xưa

Ở quê tôi, trai gái đều thuộc lòng câu hò:

Chim thằng chài có ngày mắc bẫy

Em cho anh hay anh hãy tránh xa

Mẹ cha không thể chịu hoà

Em đâu dám cãi để mà theo anh!

Mái không ấp trứng, không nuôi con. Con chào đời, tự thích nghi môi trường và

rèn kĩ năng sống. Lúc trưởng thành, chúng nhìn nhau, tụ quần bảo vệ nhau và

cứ thế tiếp tục trong cõi trần gian. Thằng chài chia sẻ con mồi nếu bạn tình hoặc

đồng loại thiếu cái ăn. Nó nhường mặt nước ao hồ, sông rạch nhiều tôm cá cho

những thẳng chài già yếu bệnh tật.

Vậy mà, hỏi nhỏ đám trẻ tụi tôi khoái rình bắn thằng chài đậu rình cá trên đầu

bặp dừa nước bằng cái ná thun, đạn đất sét vo tròn. Thiệt là, chim rình cá, người

rình chim... Cớ sự từ cái rình theo cuộc!

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ 2 – ĐỀ SỐ 11

MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 10

BỘ SÁCH: CÁNH DIỀU

Thời gian làm bài: 90 phút

BIÊN SOẠN: BAN CHUYÊN MÔN LOIGIAIHAY.COM

2

Tôi bị má đánh đòn khi bắn thằng chải rớt bến sông. “Sao con cướp đi sự sống

của nó? Rồi, ai cướp sự sống của con?". Má bảo tôi ra bến vớt nó lên. Tôi rửa

mặt và làm theo lời má. Thằng chài rớt khi này đã được hai thằng chải khác

dùng mỏ quắp qua bên kia mẽ rạch. Nó gãy cánh không chết, nằm sải lai. Tôi

đem nó về nhà nuôi và trị thương. Đút cả nó không ăn, đút thứ gì cũng chẳng

thèm. Tôi hối hận và bối rối. Mấy hôm, vết thương lành, thằng chài ốm nhóm

chỉ chớp cánh, không thể bay vì đuối sức. Tôi mang nó ra vườn để dưới gốc

mận gần cầu nước. Trời tỉnh mơ, buổi sáng nhà quê dịu và mát. Bảy thằng chài

bu quanh bạn đút mỗi, thấy nó ăn tôi bắt thèm theo. Nó vươn đôi cánh như vươn

vai, hót mấy tiếng chắc là cảm ơn và chào tôi.

Gió rung nắng, hương hoa mận bay khắp vườn. Tôi tần ngần nhìn bầu trời xanh

và ngẫm nghĩ, thằng chài chính cống “thú diện nhơn tâm!”

Gần bảy mươi năm, từ lúc tôi dùng ná thun bắn thằng chài rớt bến sông; tôi

không thể nào quên câu hỏi của má: “Sao con cướp đi sự sống của nó? Rồi, ai

cướp sự sống của con?”. Đồng thời, tận đáy lòng, tôi cũng không thể rứt ra được

sự hối hận và bối rối mỗi khi nhớ lại câu chuyện cũ.

(Trích Trung họp Phật tính dân gian và môi trường sinh thái, in trong Thương

những ngày ..., Trần Bảo Định, tập truyện, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh)

Chú thích: Chim thằng chài: còn gọi là chim bói cá

Câu 1. Chim thằng chài khi chào đời sẽ phải làm gì?

A. Đợi chim mẹ mang thức ăn về, không được ra khỏi tổ.

B. Tự đi kiếm ăn.

C. Đi hỗ trợ mẹ kiếm ăn.

D. Tự thích nghi môi trường và rèn kĩ năng sống.

3

Câu 2. Thú vui hồi nhỏ của “lũ chúng tôi” là gì?

A. Rình bắn thằng chài đậu rình cá trên đầu bặp dừa nước bằng cái ná thun, đạn

đất sét vo tròn.

B. Xem những thằng chài bay qua bay lại trên mặt ao bắt cá.

C. Xem cách chim thằng chài làm tổ trên các ngọn cây và tìm cách bảo vệ

chúng.

D. Chữa trị cho những con chim bị thương.

Câu 3. Nhận định nào dưới đây nói đúng nhất về người kể chuyện trong tác

phẩm?

A. Người kể chuyện toàn tri có thể nắm bắt được cảm xúc của tất cả các nhân

vật trong câu chuyện.

B. Người kể chuyện hạn chi trực tiếp tham dự vào câu chuyện, chứng kiến các

sự kiện xảy ra.

C. Người kể chuyện toàn tri đồng thời cũng là một nhân vật trong truyện.

D. Người kể chuyện hạn tri đồng thời nắm bắt đặc cảm xúc của tấc cả các nhân

vật trong câu chuyện.

Câu 4. Em hiểu cụm từ “thú diện nhơn tâm” trong văn bản nghĩa là gì?

A. Những loài động vật được con người nuôi nấng tỏ ra trung thành với chủ.

B. Tuy là động vật nhưng lại rất biết báo đáp người có ơn.

C. Mặt là loài cầm thú nhưng lòng dạ lại giống con người.

D. Mặt là loài cầm thú nhưng lại thông minh như con người.

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo