
1
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
BÀ CHÚA BẦU GIÚP HAI BÀ TRƯNG
Vào thời nhà Hán cai trị Việt Nam, ở huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc) có một bà
cụ già trồng được một cây bầu kì lạ. Cây bầu lớn lên nhưng không thấy ra hoa
kết quả, dây bầu cứ nở dài lan mãi. Dây lan ra rất dài, bò lên cả núi đồi, cứ thế
mà lan đến tận huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, rồi leo lên tận núi cao ở
đó. Từ đó dây bầu mới bắt đầu trổ hoa và kết thành một quả bầu. Rồi từ trong
trái bầu ấy, nở ra một cô gái, chỉ vài ngày sau đã lớn thành một thiếu nữ. Cô gái
lần theo dây bầu về đến gốc cây, gặp bà già trồng bầu, nhận bà làm mẹ. Mọi
người thấy sự lạ, gọi ngay cô gái là cô Bầu. Và ngọn núi được gọi là núi Bầu.
Hai mẹ con nuôi nhau qua ngày, được ít lâu thì bà cụ mất. Nàng Bầu đem mẹ
lên sườn núi chôn. Khi đào đất để chôn mẹ, nàng bắt được một cái chuông, đem
về nhà. Chuông tuy bé nhưng mỗi khi gõ vào thì tiếng kêu lên rất to và vang đi
rất xa. Từ Lập Thạch, tiếng chuông vang tới khắp mấy huyện xung quanh. Khi
nghe tiếng chuông, lòng người ai nấy cũng đều cảm thấy xốn xang, như có điều
gì nung nấu ở bên trong.
Thái thú nhà Hán cai trị Việt Nam lúc đó là Tô Định rất tàn bạo, mất lòng dân.
Năm 40, Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở Phong Châu, nàng Bầu hay tin bèn
gõ chuông lên. Nghe tiếng chuông, các thanh niên nam nữ tất thảy đều bỏ dở
ĐỀ THI CUỐI HỌC KÌ 1 – ĐỀ 13
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 6
BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC
Thời gian làm bài: 90 phút
2
công việc, sắm cung tên hoặc trở về nhà lấy giáo mác, băng đèo lội suối chạy
một mạch về phía huyện Lập Thạch, đến bên cạnh nàng Bầu. Chỉ trong một
ngày đã có tới mấy ngàn người có mặt quanh bà. Rồi mọi người vào cơ ngũ tề
chỉnh, nhất tề tôn phù nàng Bầu làm chủ tướng. Nàng Bầu đem quân tới Phong
Châu quy phục dưới cờ Hai Bà Trưng, được giao việc chống quân Tô Định. Bà
lập được nhiều chiến công, đánh đuổi Tô Định, được Trưng Trắc phong làm
công chúa. Vì vậy ai cũng gọi là bà Chúa Bầu. Năm 42, tướng Hán là Mã Viện
mang quân sang đánh, quân Trưng Vương yếu hơn phải rút lui.
Năm 43, Trưng Vương bị thua ở Cẩm Khê, đội binh của bà chúa Bầu cũng lâm
nạn. Không chống cự nổi với thế giặc quá lớn, bà Chúa Bầu phải chạy về vùng
Đạo Trù thuộc huyện Lập Thạch. Khi thấy không còn cách nào cứu vãn nổi tình
thế, bà sai quân lính vứt chiếc chuông xuống vực, rồi tự mình cũng nhảy xuống
đó, tự vẫn.
Từ đó, các đời sau, mọi người trong vùng Lập Thạch, Sơn Dương đã lập đền
thờ tưởng nhớ công lao của bà ở những nơi xảy ra sự tích: Thôn của bà mẹ
trồng bầu được gọi là thôn Bầu. Ngọn núi Sơn Dương (Tuyên Quang) được gọi
là núi Bầu.Tới thế kỷ 16, họ Vũ cát cứ chống nhà Mạc, xây thành tại đây gọi là
thành Bầu và các đời họ Vũ truyền nối nhau được gọi là Chúa Bầu. Chính dòng
họ Vũ này cũng có một người con gái là nữ tướng và có công với dân trong
vùng, khi mất được thờ và tôn là Bà chúa Bầu họ Vũ để phân biệt với Bà chúa
Bầu - tướng của Hai Bà Trưng. Nơi bà sai vứt chuông rồi tự vẫn là vực Chuông.
Tại các nơi đền thờ bà, hàng năm dân làng vẫn mở hội lễ. Các triều đại về sau
đều sắc thượng phong cho bà.
(https://vi.wikipedia.org/wiki/Bà_Chúa_Bầu)
Câu hỏi
Câu 1. Câu chuyện trên kể về:
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.