Quảng cáo
Đề thi học kì 1 Văn 6 Cánh diều - Đề số 12
QR

Đề thi học kì 1 Văn 6 Cánh diều - Đề số 12

Nguồn: loigiaihay.com

Xem trước nội dung

1

I. ĐỌC HIỂU (4đ)

Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới

CẢNH NHÀ SAU KHI CHA TÔI MẤT

(Trích hồi kí - Nguyễn Hiến Lê)

[...] Cha tôi mất là bắt đầu thời suy của gia đình tôi. Mẹ tôi buồn khổ nhưng

không than thở, không thất vọng, âm thầm chống với nghịch cảnh. Người lại đi

bán hàng, tôi lại đi học, không có gì thay đổi, chỉ khác có thêm bàn thờ của cha

tôi và dải khăn số trên đầu mẹ tôi.

Trước kia mọi việc trong nhà như cúng giỗ, giao thiệp với họ hàng bên nội bên

ngoại, thu tiền nhà, cha tôi lo hết; nay mẹ tôi phải đảm đương lấy, bà ngoại tôi

đi chợ nấu cơm, giặt giũ, săn sóc bốn anh em tôi, mà em út tôi lúc đó chắc mới

thôi bú.

Người ra đi từ mờ đất, mùa đông cũng như mùa hè, ngày mưa cũng như ngày

nắng, ra bến sông ở gần Cầu Đất cách nhà tôi độ một cây số, đón ghe để mua

trái cây: dưa hấu, dứa, bưởi, mía... tùy mùa, rồi thuê xe kéo chở về chợ Đồng

Xuân, chia lại cho bạn hàng để lấy chút huê hồng, còn thì bán buôn cho những

người ở những chợ nhỏ, cũng bán lẻ nữa.

ĐỀ THI CUỐI HỌC KÌ 1 – ĐỀ 14

MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 6

BỘ SÁCH: KẾT NỐI TRI THỨC

Thời gian làm bài: 90 phút

2

Bốn giờ chiều tan chợ, người nghỉ bán, đi đòi tiền bạn hàng thiếu, tối mới về tới

nhà, lâu lâu đội về một thúng gạo. Có hồi đội về một thúng lạc để bóc vỏ thuê

cho người ta: cả nhà ăn cơm xong, xúm lại bóc độ một giờ là xong, tiền công

không biết được bao nhiêu, lợi là vỏ lạc về mình để đun bếp, đỡ mua củi. Mùa

hè, anh em chúng tôi đi lượm những quả bàng chín, rụng về phơi khô, bửa hột

ra, lấy nhân ăn bùi, béo hơn lạc, còn cùi cũng để dun bếp; cuối thu, lá bàng rụng

chúng tôi lượm về từng thúng. Khi bà cháu, anh em làm chung thì chỉ thấy vui

và thương yêu nhau chứ không thấy khổ

Nhà tôi ở Long Xuyên hiện nay, trước cửa có một cây ninh cao 15, 16 thước,

thân lớn hai ôm, cử tới đầu xuân là thay lá: ban đêm tôi nằm nghe thấy lá rụng

ào ào, sáng dậy sân và đường đã đầy những lá đen, và một cô giáo với hai đứa

con bảy tám tuổi, đã tới từ hồi nào để quét và hốt dồn vào những cái bao ni lông

lớn. Cô giáo cột vào xe đạp chở về. Có khi mẹ bận, hai đứa nhỏ phải đội những

bao đó đi bộ về nhà. Chúng thật dễ thương, có trái cây hay một miếng bánh

tráng chúng cũng chia nhau: con chị cắn trước rồi chìa cho tháng em, em cắn

một miếng rồi đưa lại cho chị. Nhìn họ tôi vui được sống lại tuổi thơ. Thì ra thời

này củi quế gạo châu như 60 năm trước. Lượm lá cây như vậy mỗi ngày đỡ

được hai đồng bạc củi, mà lương giáo viên được 60 đồng mỗi tháng. Nhưng chỉ

được nửa tháng, trút hết lá, cây nính lại mơn mởn dưới ánh nắng ban mai, lại

phải đợi dầu xuân năm sau mới được cái vui quét lá.

Chúng tôi phải tiết kiệm, rút mọi chi tiêu xuống mức tối thiểu. Anh em tôi

không được ăn kẹo tây nữa, không được dắt đi chơi, đi xem hát, không có áo

mới; bà tôi nhịn ăn trầu. Nhưng còn may là không phải ăn độn, và mỗi sáng đi

học tôi còn được một xu hay một trinh (nửa xu) để mua một củ khoai lang tròn,

lớn bằng nắm tay, hoặc một khúc sẵn (khoai mì) dài non một gang tay, nhiều

bột, bở, trắng tinh, ngon hơn khoai và sắn ngày nay nhiều.

Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.

Quảng cáo
Quảng cáo