
ÔN TẬP HỌC KỲ II NGỮ VĂN LỚP 11
A. CẤU TRÚC ĐỀ THI: Đề bài gồm có hai phần:
- Phần 1: Đọc - hiểu văn bản: 3 điểm
- Phần 2: Nghị luận văn học: 7 điểm
B. NỘI DUNG ÔN TẬP:
PHẦN I: ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1. Về kĩ năng trả lời câu hỏi:
a. Cấp độ nhận biết: Chỉ ra các thông tin liên quan, được thể hiện trong văn bản như tác
giả, hoàn cảnh sáng tác, từ ngữ, chi tiết, nhân vật …phong cách ngôn ngữ, thao tác lập
luận, phương thức biểu đạt, kiểu kết cấu… của văn bản.
b. Cấp độ thông hiểu: Xác định nội dung, chủ đề, thông điệp, hiểu được tác dụng của một
hoặc nhiều biện pháp tu từ….
c. Cấp độ vận dụng: Sử dụng thông tin trong và ngoài văn bản để giải quyết các tình
huống, vấn đề trong được đặt ra trong văn bản.
d. Cấp độ vận dụng cao: Viết đoạn văn trình bày những suy nghĩ, bình luận, giải thích ý
nghĩa tư tưởng và các giá trị của văn bản trong cuộc sống; vận dụng để giải quyết các tình
huống/ vấn đề mới trong học tập và cuộc sống.
MỘT SỐ LƯU Ý ĐỐI VỚI DẠNG ĐỀ ĐỌC HIỂU
1. Gọi tên các biện pháp nghệ thuật và phân tích tác dụng của chúng.
- Đối với dạng câu hỏi này, các em cần ôn lại kiến thức về các biện pháp tu từ từ vựng như
so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản, chơi chữ, nói giảm nói tránh, nói quá,…
và các biện pháp tu từ cú pháp như lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ,
đối,…
- Xác định được từ ngữ thực hiện.
- Nêu tác dụng cụ thể rõ ràng.
2. Cần phân biệt các dạng câu hỏi: nêu nội dung chính, nêu ý nghĩa hoặc nêu thông điệp
của văn bản.
3. Từ một vấn đề của văn bản, viết một đoạn văn liên hệ
Đối với dạng câu hỏi này các em cần rèn luyện kĩ năng viết một đoạn văn có hình thức
và nội dung theo đúng yêu cầu của người ra đề (chọn kết cấu tổng phân hợp, diễn dịch,
DeThi.edu.vn
quy nạp).
PHẦN II: LÀM VĂN
I. Yêu cầu về kĩ năng: Học sinh cần ôn lại
- Kĩ năng làm một bài văn nghị luận văn học với kiểu bài phân tích, cảm nhận một tác
phẩm hoặc một đoạn trích văn học.
- Nắm kỹ năng xử lý đề, không đơn thuần là thuộc lòng nội dung văn bản.
- Biết cách kết hợp các thao tác lập luận.
II. Yêu cầu về kiến thức: Học sinh cần củng cố, hệ thống lại kiến thức những tác phẩm
dưới đây:
1. Bài thơ “Vội vàng” – Xuân Diệu.
* Tác giả:
- Xuân Diệu là cây đại thụ của nền thi ca Việt Nam hiện đại, là một nhà văn hóa lớn của
dân tộc; sức sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp phong phú.
- Ông là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) đã đem đến cho thơ ca
đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới
mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo.
- Ông là nhà thơ của tình yêu, mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say,
yêu đời thắm thiết.
* Tác phẩm:
+ 4 câu đầu:
DeThi.edu.vn
- Khát vọng muốn “vĩnh cửu hoá” cái đẹp, để cho thi sĩ tôn thờ, thưởng thức. Ước muốn
ấy táo bạo, muốn đoạt quyền của tạo hoá, muốn ngự trị cả thiên nhiên. Tất cả đều xuất
phát từ tình yêu cuộc sống say mê của hồn thơ nồng nàn, tha thiết.
- Điệp ngữ, điệp cấu trúc câu “Tôi muốn … cho …” diễn tả niềm khát khao mãnh liệt, táo
bạo của cái tôi trữ tình.
+ 9 câu tiếp:
- Cảnh thiên đường trên mặt đất có đủ cả hương vị, màu sắc và cả âm thanh, rất sinh động.
Bức tranh mùa xuân tươi vui, hạnh phúc, căng tràn nhựa sống được cảm nhận qua các
giác quan và tâm hồn nghệ sĩ yêu đời, khao khát cuộc sống của nhà thơ.
- Điệp ngữ “này đây” được lặp lại bốn lần kết hợp với thủ pháp liệt kê tăng tiến, nhịp thơ
gấp gáp… cho thấy cảnh đẹp như bày sẵn ra trước mắt, rất cụ thể, rõ ràng đồng thời bộc lộ
niềm sung sướng đến ngất ngây của thi sĩ trước cảnh sắc ấy.
- Thủ pháp chuyển đổi cảm giác mới mẻ, độc đáo; quan niệm thẩm mĩ hiện đại lấy con
người làm chuẩn mực cho cái đẹp (Tháng giêng ngon như một cặp môi gần) khiến thiên
nhiên trở nên cụ thể, gợi cảm, quyến rũ, mang đầy tính nhục thể.
Thiên nhiên mang vẻ đẹp của một giai nhân và của một tình nhân.
+ 16 câu tiếp:
- Nét mới mẻ trong quan niệm của tác giả về thời gian tuyến tính, một đi không trở …
Trên đây là phần đầu tài liệu — bấm Đọc sách để xem đầy đủ.