Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ico - Lâu Đài Trong Màn Sương (Miyuki Miyabe)

“Ico, một cậu bé có sừng, được đánh dấu để làm Vật tế hy sinh".

“Yorda, một cô bé bị giam cầm trong lồng sắt".

Cái ngày mà sừng của Ico mọc càng dài ra thì cậu biết đó cũng là ngày mình sẽ bị đem đi làm Vật tế. Những người lính bắt cậu nhốt vào một cỗ quan tài đá trong Lâu đài trong Màn sương. Một cơn động đất làm cỗ quan tài của cậu mở ra và cậu quyết định trốn đi. Trên đường đi, cậu phát hiện Yorda, một cô bé nói một ngôn ngữ khác cũng bị giam cầm. Cậu giúp cô và cả hai cùng trốn khỏi lâu đài. Sau bao gian nan, Yorda bị nữ hoàng hóa thành tượng đá để nhập hồn vào thân xác cô bé. Để cứu cô bé, cậu phải tìm một thanh kiếm kì diệu để giết những sinh vật bóng tối. Liệu Ico có thể cứu Yorda thoát khỏi tay nữ hoàng độc ác để trở về quê hương của mình...

Tác giả Miyuki Miyabe được trò chơi ICO (một game cho Play Station 2) gợi cảm hứng để sáng tạo ra câu chuyện về Ico.

Tác giả cũng có đề cập rằng sẽ rất vinh dự nếu độc giả quyết định thử trò chơi sau khi đọc xong cuốn sách, nhưng bà cũng cảnh báo rằng những nội dung trong cuốn sách cũng không giúp đỡ nhiều cho việc vạch ra những chiến lược trong trò chơi.*** Tìm mua: Ico - Lâu Đài Trong Màn Sương TiKi Lazada Shopee

Khung cửi đã trở nên yên lặng. Ông lão đã chú ý sự thiếu vắng của tiếng lách-cách-lách-cách nhịp nhàng của nó trước đó một chút, và bây giờ ông kiên nhẫn chờ đợi nó trở lại. Ông ngồi ở một cái bàn cũ, trên mặt bàn nơi ông đặt vài cuốn sách cổ, bề mặt của nó phủ một lớp vàng hổ phách sau nhiều năm sử dụng. Một cơn gió nhỏ thổi qua cánh cửa sổ mắt cáo thổi tung lề giấy úa vàng và làm những ngọn râu trắng dài của ông run lẫy bẩy.

Ông hếch đầu lên, căng ra để nghe bất cứ âm thanh nào - tiếng khóc lóc, chẳng hạn.

Họ đã hoàn thành phòng dệt sớm hơn vài ngày. Tất cả những sự tẩy uế cần thiết đã được thực hiện. Căn phòng ở đó đợi bà ấy bất cứ khi nào bà sẵn sàng bắt đầu - không, ông nghĩ, bà ấy phải bắt đầu ngay tức thì. Thế nhưng Oneh đã khóc lóc, gào thét, nguyền rủa và sẽ không đến gần nó. “Thật quá tàn nhẫn,” bà nói, bám chặt vào áo choàng của ông lão. “Làm ơn dừng nó lại. Đừng bắt tôi làm điều này.”

Ông không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc để bà khóc đến khi nước mắt bà cạn khô. Sau đó ông nói với bà, giải thích một cách kiên nhẫn, như một người nói chuyện với một đứa trẻ. “Bà đã biết điều này sẽ xảy ra. Bà đã biết nó vào ngày mà thằng bé được sinh ra.”

Ông đã năn nỉ bà từ lúc hoàng hôn của ngày hôm trước cho đến tận đêm. Cuối cùng, rạng sáng, Oneh đã để ông dẫn bà vào phòng dệt. Từ sự nghiên cứu của mình, ông đã nghe âm thanh nặng nhọc của con thoi trong khung cửi. Đó là một âm thanh lạ lẫm, điều này làm cho sự biến mất của nó thậm chí còn dễ nhận ra hơn.

Ông lão nhìn qua cửa sổ nơi những lá cây xào xạc trong khu rừng nhỏ. Chim chóc đang hót vang. Ánh sáng của mặt trời rực rỡ, và nó làm ấm căn phòng nơi mà những tia nắng của nó rọi vào. Vẫn không có âm thanh nào của những đứa trẻ đang chơi đùa, và khi dân làng đi lại ra đồng làm việc, họ cũng làm thế trong yên lặng. Những tiếng thở dài muộn phiền nổi lên tại nơi những tiếng thịch thịch của cuốc vang vọng xuống những luống cày. Thậm chí những thợ săn, ông lão tưởng tượng, ngừng cuộc săn đuổi dọc những đường mòn chạy qua những ngọn núi và thở dài xót xa khi họ nhìn xuống làng từ xa.

Đó là Thời điểm Hiến tế.

Ông lão là trưởng lão của làng Toksa. Năm nay ông đã bảy mươi tuổi, mười ba năm sau khi thừa kế vị trí từ cha mình. Ông chỉ vừa tiếp nhận chức vị của ông ấy, lòng tràn đầy những ý tưởng về chuyện mình sẽ làm những việc cha ông không thể làm như thế nào, và những chuyện cha mình chưa bao giờ thử làm, khi đứa trẻ được sinh ra. Đứa trẻ bất hạnh đó, chịu số phận là Vật tế.

Vào lúc đó, cha của trưởng lão đã bệnh rất nặng, cả cơ thể và tinh thần ông suy yếu trầm trọng. Dù vậy, cái đêm khi ông nghe được rằng một đứa trẻ được Muraj và Suzu sinh ra - một đứa trẻ với cặp sừng mọc lên trên đầu - ông đã lao khỏi giường bệnh, gương mặt ông ngập tràn sự đau khổ tột độ. Ông vội vã đến nhà hộ sinh trong làng và bế đứa trẻ sơ sinh trên đôi tay mình, lướt nhẹ những ngón tay mình trên cái đầu mềm của nó cho đến khi ông cảm nhận được cặp sừng.

Trong lúc trở về nhà, ông triệu con trai mình đến. Ông đóng hết cửa lớn và cửa sổ và vặn nhỏ tim đèn đến khi căn phòng sáng lờ mờ, và khi ông lên tiếng, giọng ông là một tiếng thì thầm, không lớn hơn một ngọn gió đêm.

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Ico - Lâu Đài Trong Màn Sương PDF của tác giả Miyuki Miyabe nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Emmanuelle – Tập 1
Emmanuelle – Tập 1 Emmanuelle – Emmanuelle Arsan Vào cuối thập niên sáu mươi, cuốn Emmanuelle được xuất bản ở Pháp và gây sôi nổi trong dư luận rộng lớn. Lý do chính không phải vì tác giả cuốn này, Emmanuelle Arsan, là một phụ nữ mà lại đi viết truyện dâm tình. Lý do làm cuốn Emmanuelle nổi tiếng phức tạp hơn nhiều. Lý do thứ nhất là tại từ trước đến giờ đa số dâm thư đều do đàn ông viết theo cảm quan và thân xác của nam iới. Lần này Emmanuelle Arsan viết theo cảm quan và thân xác nữ giới – dĩ nhiên là phải khác. Lý do thứ hai có nguyên nhân văn hóa văn minh. Trong các xã hội phụ hệ của thế giới hiện tại, người đàn bà thường được giản lược vào hai hình ảnh, hai chức năng: hình ảnh thứ nhất là một thánh nữ trên bục cao, hoàn toàn trong sạch, bước xuống bục đi lấy chồng chỉ cốt để đẻ con; hình ảnh thứ hai là làm gái điếm, làm một dụng cụ để thỏa mãn dục tình cho đàn ông. Kim Bình Mai 50 Sắc Thái – Tập 1: Xám Hồng Lâu Mộng Tác giả Emmanuelle Arsan không chịu như vậy. Bà chủ trương rằng người đàn bà cũng là một con người, cũng là một chủ thể tính dục, nghĩa là cũng có nhu cầu nhục tình cần phải được thỏa mãn, và có quyền được thoả mãn – như đàn ông vậy. Vì tác giả không phải chỉ định viết về những thú vui dục tình của nhân vật Emmanuelle, mà còn dưa ra cả mặt triết lý sống nữa. Một nhân sinh quan vượt thoát ra khỏi sự khống chế của chủ nghĩa thanh giáo của bất cứ đạo nào, đặc biệt là thanh giáo của Công Giáo cũng như Tin Lành. Bời có chủ đích như thế nên truyện có nhiều đoạn triết lý rườm rà, sử dụng nhiều điển tích cũng như trích dẫn thơ văn Âu Châu xa lạ với một tác giả trung bình người Việt, do đó người dịch đã mạn phép lược bỏ bớt.
Thép Đã Tôi Thế Đấy
Thép Đã Tôi Thế Đấy Thép Đã Tôi Thế Đấy – Nikolai A.Ostrovsky Nikolai Ostrovsky viết Thép Đã Tôi Thế Đấy trên giường bệnh, trong khi bại liệt và mù, bệnh tật tàn phá chín phần mười cơ thể. Chưa bao giờ có một nhà văn sáng tác trong những điều kiện gian khổ như vậy. Trong lòng người viết phải có một nhiệt độ cảm hứng nồng nàn không biết bao nhiêu mà kể. Nguồn cảm hứng ấy là sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ cách mạng bị tàn phế, đau đớn đến cùng cực, không chịu nằm đợi chết, không thể chịu được xa rời chiến đấu, do đó phấn đấu trở thành một nhà văn và viết nên cuốn sách này. Càng yêu cuốn sách, càng kính trọng nhà văn, càng tôn quý phẩm chất của con người cách mạng. Thép Đã Tôi Thế Đấy là cuốn sách gối đầu giường của bao thế hệ thanh niên Việt Nam. Pavel là một thanh niên, được tôi luyện, được nung rèn trong lò lửa của cách mạng và đã vượt qua được nhiều khó khăn, cực khổ. Tác phẩm lột tả được niềm tự hào đã vượt qua những thử thách cam go, sức mạnh của niềm tin và khát khao được sống, được cống hiến, được bùng cháy trọn vẹn ngọn lửa đời mình cho tố quốc, cho cách mạng. Cuộc Cách Mạng Một Cọng Rơm Suối nguồn 30 Tháng 4 – Chuyện Những Người Tháo Chạy Nhân dân Liên Xô, nhân loại tiến bộ chờ đợi văn học phản ánh và đào sâu cho mình hình ảnh con người anh hùng mới ấy. Lần đầu tiên trong văn học, N. A- xtơ-rốp-xki thu gọn được hình ảnh con người mới trong nhân vật Pa-ven Ca-rơ-sa-ghin. Pa-ven không những khác hẳn với những anh hùng của các thời đại trước. Khác hẳn với những tác phẩm văn nghệ của những năm đầu cách mạng, thường ca ngợi lòng dũng cảm vô tổ chức, tả sức mạnh tràn trề, lớn khỏe của quần chúng như một sức mạnh bột phát, tự nhiên. Thép đã tôi thế đấy cho ta thấy từng con người trong một quần chúng rộng lớn nảy nở như thế nào, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Thép đã tôi thế đấy ghi lại cả một quá trình tôi thép, bước đường gian khổ trưởng thành của thế hệ thanh niên Xô viết đầu tiên.
Ba Giai - Tú Xuất
Ba Giai – Tú Xuất Truyện Ba Giai Tú Xuất – Nhiều tác giả Ba Giai được biết nhiều bởi tài làm thơ châm biếm mà đối tượng chính là các quan lại tham nhũng, các người trọc phú. Ông được biết đến như là một người trong cặp bài trùng Ba Giai – Tú Xuất. Tú Xuất tên thật là Nguyễn Đình Xuất, ông và Ba Giai đã tạo nên một giai thoại Ba Giai – Tú Xuất “thứ nhất Ba Giai, thứ hai Tú Xuất”. Ông là một người thông minh, tri thức hơn người nhưng hay gặp thất bại trong khoa cử, từ đó sinh ra tính hay bông đùa, trêu cợt, đặc biệt là đả kích vào những thói hư, tật xấu và những tiêu cực của người đương thời. Đọc thêm: Trạng Quỳnh Tuyển tập truyện cười Vova Truyện cổ Grim hay nhất Đây cũng là một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ 20 và là một cặp bài trùng trong văn học Việt Nam, nhắc tới người này thì không thể quên người kia và ngược lại. Đó là những mẩu chuyện về hai nhân vật đầy cá tính, thích trào lộng và hay bày ra tình huống quái ác khiến đối tượng bị “chiếu tướng” phải dở khóc dở cười hay những giai thoại đầy mưu mẹo, lấy của quan tham chia cho dân nghèo.
Phía Tây Không Có Gì Lạ
Phía Tây không có gì lạ (All quiet on the Western front) “Phía Tây không có gì lạ” là câu chuyện về Pôn Baomơ, một người lính Đức trẻ, xung phong vào quân đội vì Căntôrec, vị giáo sư của anh, đã thuyết phục cả lớp tham gia quân đội để làm cho nước Đức được vẻ vang. Sau một thời kỳ huấn luyện gian khổ dưới quyền của Himmenxtôt, một phu trạm, Baomơ và các bạn ra tiền tuyến. Dù được vẽ vời trong nhà trường với những hình ảnh huy hoàng của các anh hùng, Baomơ nhanh chóng nhận thức được rằng những chiến hào đầy máu của Mặt trận phía Tây là một sa lầy của những khổ đau và chết chóc. Phía Tây Không Có Gì Lạ Ngay khi những quả đạn pháo đầu tiên nổ tung trong bùn lầy, Baomơ và các bạn thấy rằng tất cả những người ở lại nhà đều dối trá: chiến tranh không phải là một thay đổi vinh quang, chiến tranh không làm cho các cậu con trai trưởng thành mà nó hủy diệt một cách có hệ thống tất cả những ai khỏe mạnh và lịch sự. Tất cả các bạn của Baomơ đều chết, bị thương, hoặc đào ngũ. Pôn Baomơ bắt đầu tự vấn về cuộc đời mình và băn khoăn không biết mình có sống sót được sau cuộc chiến hay thậm chí có sống được trong một thế giới không có chiến tranh hay không. Xuyên suốt câu chuyện, Remarque thường dùng từ “chúng tôi” để nói lên tình đồng đội – cái quý nhất mà chiến tranh tạo nên. Những người lính ấy đã trải qua những giây phút cận kề cái chết cùng nhau nên họ gắn bó với nhau, chia sẻ với nhau tất cả những gì họ có. Đại Chiến Hacker John Đi Tìm Hùng Hai Số Phận “Chúng tôi không nói nhiều nhưng chúng tôi để ý săn sóc nhau từng ly từng tí, thiết tưởng còn hơn cả những cặp tình nhân. Chúng tôi là hai con người, hai tàn lửa sống nhỏ bé, và ngoài kia, là đêm tối, là vòng vây của thần chết.” Erich Maria Remarque (1898-1970) đã phục vụ trong Thế chiến thứ nhất và đã bị thương tất cả năm lần. Những hình ảnh ghê rợn của cuộc chiến trong giao thông hào đã để lại những vết sẹo không phai mờ trong tâm trí Remarque nên ông cố xua đuổi những bóng ma đó qua các sáng tác văn học. “Phía Tây không có gì lạ” là tác phẩm hay nhất của ông dù chín tác phẩm khác ông cũng viết về những đau đớn, khổ cực trong chiến tranh.