Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ngôn Ngữ và Ý Thức

Đây là bản in lần thứ ba được chờ đợi từ lâu về tuyển tập các bài viết của Chomsky về ngôn ngữ và ý thức. Sáu chương đầu, được công bố vào những năm 1960, tạo nền tảng cho lí thuyết ngôn ngữ. Lần in mới này bổ sung vào một chương nữa và một lời tựa mới, đưa cách tiếp cận có ảnh hưởng của Chomsky vào thế kỷ mới. Chương 1 - 6 trình bày công trình của Chomsky về bản chất và thụ đắc ngôn ngữ như là một hệ thống sinh học được thiên phú về di truyền (ngữ pháp phổ niệm), thông qua các quy tắc và nguyên tắc của nó chúng ta thụ đắc kiến thức nội hiện (I-language). Hơn 50 năm qua, khung lí thuyết này đã châm ngòi cho sự bùng nổ và nghiên cứu trong một phạm vị rộng lớn các ngôn ngữ, và đã thu được những vấn đề lí thuyết quan trọng. Chương cuối cùng trở lại những vấn đề chủ chốt, tổng quan lại cách tiếp cận "ngôn ngữ học sinh học" đã dẫn đường cho công trình của Chomsky từ những khởi nguồn của nó cho đến nay, đưa ra một số thách thức mới gây phấn khích cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức. NOAM CHOMSKY là Giáo sư Ngôn ngữ học ở Viện Công nghệ Massachusetts. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách : Những chân trời mới trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức (New Horizons in the Studies of Language and Minds) (Cambridge University Press, 2000) và Về tự nhiên và ngôn ngữ (On Nature and Language) (Cambridge University Press, 2002).   Noam Chomsky được The New York Times bình chọn là tri thức gia quan trọng nhất hiện đang còn sống. Ông đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới về ngôn ngữ và theo ông, ngôn ngữ chính là một chiếc chìa khóa để mở ra cánh cửa đi tới bản chất con người. Ông không chỉ là một nhà ngôn ngữ học mà còn là một nhà phê bình chính trị, sử gia, triết gia đồng thời dấn thân vào hoạt động xã hội một cách chừng mực. Bài phỏng vấn dưới đây được thực hiện bởi Wiktor Osiatynski vào năm 1984 về chủ đề Ngôn ngữ và Văn hóa. BookHunter xin giới thiệu với bạn đọc để chúng ta hiểu rõ thêm góc nhìn của Noam Chomsky về bản chất con người thông qua ngôn ngữ học.   *** Hỏi:  Ngài đưa ra một cách tiếp cận nhân học đối với ngôn ngữ.  Ngài cho rằng ngôn ngữ có thể góp phần giải mã các vẫn đề mang tính triết học trong tự nhiên lẫn văn hóa của nhân loại? Chomsky: Tôi cảm thấy là sự tồn tại của loài người hay bất kỳ sinh vật phức tạp nào đều có một hệ thống các cấu trúc nhận thức, thứ phát triển theo theo sự phát triển về mặt thể chất. Nó thuộc về đặc điểm cơ bản  bẩm sinh của chúng; hình thái sơ khai này được định hình bằng cấu trúc gen di truyền. Tất nhiên, chúng phát triển dưới những điều kiện môi trường riêng biệt, giả sử như một hình thái đặc trưng nhường chỗ cho một vài sự thay đổi. Phần lớn cái phân biệt giữa loài người với nhau là cách cư xử riêng rẽ mà trong đó phát triển hàng loạt các cấu trúc nhận thức được chia sẻ. Có lẽ phần rắc rối nhất trong những cấu trúc này là ngôn ngữ. Trong nghiên cứu ngôn ngữ, chúng ta có thể khám phá ra rất nhiều thuộc tính cơ bản của cấu trúc nhận thức này, cơ cấu tổ chức, và cả các tố bẩm di truyền – nền tảng cho sự phát triển của nó. Vậy nên về điểm này, ngôn ngữ học, trước nhất, đang cố gắng mô tả nét đặc trưng chính trong tổ chức nhận thức của con người. Và điều thứ hai, tôi nghĩ nó có thể cung cấp một hình mẫu có tính gợi ý cho việc nghiên cứu các hệ thống nhận thức khác. Đồng thời ghi nhập những hệ thống này là một khía cạnh tự nhiên của con người. Hỏi: Ngôn ngữ, sau đó, là chìa khóa cho bản chất của loài người? Chomsky: Tư tưởng khoa học phương Tây từ vài thế kỷ trước cho đến giờ có khuynh hướng giả sử rằng bản chất tự nhiên của con người bị giới hạn ở cấu trúc vật lý có thể nhìn thấy ngay tức thì của cơ thể. Và  đối với những khía cạnh khác của bản chất con người, cụ thể là cử chỉ, lại không hề có các cấu trúc được xác định nhờ di truyền nào có thể so sánh được về bản chất phức tạp với các tổ chức vật lý có thể nhìn thấy được trực tiếp bên trong cơ thể. Vì vậy, cấu trúc vật lý của con người và cấu trúc trí năng nói chung được nghiên cứu theo những phương pháp khác nhau. Gỉa định rằng các cấu trúc vật lý đó được di truyền và các cấu trúc trí năng được học. Tôi cho rằng giả định đó không chính xác. Không cấu trúc nào trong số đó học được cả. Tất cả chúng phát triển; chúng phát triển theo cách so sánh; các hình thái sau chót của chúng phụ thuộc nhiều vào các tố bẩm sinh di truyền. Nếu chúng ta hiểu được, nhưng chúng ta không làm được vậy, cơ sở vật chất của những cấu trúc này, tôi có hơi ngờ vực rằng chúng ta hẳn sẽ tìm thấy trong não bộ các cấu trúc tương tác xã hội, ngôn ngữ hoặc phân tích độc lập – sự nguyên vẹn của các hệ thống đã phát triển dựa trên nền tảng của một khả năng sinh học đặc biệt. Hỏi: Ý ngài là toàn bộ hành vi của chúng ta đều do bẩm sinh mà có, được xác định bằng di truyền? Chomsky: Không, nhưng các cấu trúc cơ bản cấu thành lên hành vi của chúng ta là bẩm sinh. Những chi tiết đặc trưng trong cách chúng phát triển sẽ phụ thuộc vào tương tác với môi trường. Hỏi: Giả sử ngôn ngữ học có thể mô tả một cấu trúc như vậy, liệu có thể áp dụng những điều khám phá được cho toàn bộ các hoạt động trí não của chúng ta? Chúng ta chỉ suy nghĩ trong ngôn ngữ? Hay cũng tồn tại những thể thức phi ngôn ngữ của suy nghĩ? Chomsky: Việc phân tích các cấu trúc ngôn ngữ có thể giúp hiểu về các cấu trúc trí năng khác. Hiện nay, tôi không nghĩ có bất cứ bằng chứng khoa học nào cho câu hỏi rằng chúng ta chỉ suy nghĩ thông qua ngôn ngữ hay không. Tuy nhiên, tự xem xét từ bản thân thì cũng đã chỉ ra khá rõ ràng rằng chúng ta không cần thiết suy nghĩ thông qua ngôn ngữ. Chúng ta cũng có thể suy nghĩ qua các hình ảnh nhìn thấy được, chúng ta suy nghĩ trong các tình huống cũng như các sự kiện, và nhiều nữa, nhiều trường hợp chúng ta không thể thể hiện được bằng từ ngữ cái chúng ta đang nghĩ trong đầu. Cho dù là chúng ta có khả năng thể hiện nó bằng từ ngữ, người ta nói về thứ gì đó theo thói quen thường thấy và sau đó nhận ra rằng nó không diễn đạt được ý của mình, nó là một cái gì đó khác. Điều này có nghĩa là gì? Là có một dạng suy nghĩ phi ngôn ngữ đang diễn ra mà ở đó chúng ta cố trình bày bằng ngôn ngữ, để rồi đôi lúc chúng ta biết mình thất bại. Hỏi: Tôi đã có lần đọc được là chúng ta suy nghĩ bằng ngôn ngữ nhưng lại “cảm thấy” nó phi ngôn ngữ. Chomsky: Tôi biết điều đó không đúng với bản thân tôi, ít nhất nếu “ngôn ngữ” (trong trường hợp của tôi) quy vào tiếng Anh, và tôi giả sử rằng nó sai đối với những người khác. Tôi không nghĩ bạn sẽ gặp khó khăn gì để quyết định rằng bạn đang nghĩ về vài sự kiện rồi sau đó mường tượng nó xảy ra kèm với các hệ quả, và  phân tích sáng suốt mà không thể phát biểu thành lời thật đầy đủ sự phức tạp của nó. Hỏi: Ngài dùng cụm “phân tích sáng suốt.” Ngài tin rằng tất cả suy nghĩ của chúng ta đều sáng suốt và tuyến tính? Chomsky: Tôi không nghĩ tất cả suy tư đều là một dạng cấu trúc sáng suốt. Nhưng tôi cũng không cho rằng nó đúng để định hình sự  phân định sáng suốt – không sáng suốt với phân định ngôn ngữ – phi ngôn ngữ. Hỏi: Vậy ngôn ngữ có thể không sáng suốt? Chomsky: Đúng thế; vì vậy đó là hai chiều không tương quan với nhau. Đúng là ngôn ngữ ở trong một tuyến tính ý thức tuy nhiên điều đó cũng rõ ràng như không gian nhận thức là ba chiều. Hỏi: Như tôi hiểu thì ngôn ngữ có một nền tảng sinh học bẩm sinh. Công dụng của nó, tất nhiên, là tính xã hội. Ngài nghĩ các chức năng xã hội của ngôn ngữ là gì? Trước nhất có phải là phương tiện giao tiếp? Chomsky: Tôi nghĩ một khía cạnh rất quan trọng mà ngôn ngữ phải làm được là thiết lập các mối quan hệ xã hội và tương tác. Thường thì điều này được miêu tả như là giao tiếp. Nhưng tôi nghĩ, như thế rất sai lầm. Có một tầng hẹp của việc sử dụng ngôn ngữ  mà ở đó bạn dự định giao tiếp. Sự giao tiếp dẫn đến cố gắng đưa người ta vào cùng một ý hiểu giống nhau. Và điều đó, chắc chắn, là một cách sử dụng ngôn ngữ đang được dùng trong xã hội. Tuy vậy, tôi không nghĩ chỉ có xã hội sử dụng ngôn ngữ. Cũng như ngôn ngữ chỉ được dùng có vậy trong xã hội. Ví dụ, ngôn ngữ có thể dùng để bộc lộ hoặc tường minh những suy nghĩ của một người ít quan tâm đến xã hội, nếu có. Tôi nghĩ sử dụng ngôn ngữ bằng cách nào đó mang ý nghĩa rất quan trọng với các loài, bởi thiên tính sinh học của nó, tạo ra một loại không gian xã hội, để đặt chính nó vào những mối tương tác với những người khác. Nó không có tác dụng với sự giao tiếp ở trong một cảm quan chật hẹp; đó là, nó không tham gia vào sự truyền giao thông tin. Có nhiều thông tin được truyền giao nhưng lại không phải là truyền giao nội dung được nhắc tới. Rõ ràng không phải tranh cãi nhiều để biết về những cách sử dụng ngôn ngữ trong xã hội, để giao tiếp hoặc cho những mục đích khác. Nhưng ở hiện tại, không có gì nhiều trong cách nghiên cứu một giả thiết ngôn ngữ học, về giao sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội, theo như tôi biết. Hỏi: Điều gì, sau đó, trong lĩnh vực ngôn ngữ học, là thành tựu vĩ đại nhất? Chomsky: Tôi nghĩ công việc quan trọng nhất vẫn đang tiến hành là nghiên cứu các đặc trưng chung cũng như trừu tượng về cái mà đôi lúc được gọi là ngữ pháp phổ quát: những đặc tính chung của ngôn ngữ phản ánh một dạng nhu cầu sinh học hơn là nhu cầu logic; có nghĩa rằng, các đặc tính đó không cần thiết logic khi đặt trong một hệ thống nhưng ngôn ngữ của loài người lại cần phải có các đặc tính bất biến và được biết đến mà không cần đến sự học. Chúng ta biết những đặc tính này nhưng chúng ta không học chúng. Chúng ta chỉ đơn giản là dùng tri thức tự có của bản thân làm nền tảng cho sự học. Hỏi: Chúng ta di truyền tri thức này? Chomsky: Đúng, chúng ta được di truyền. Thực tế, thông qua ngữ pháp phổ quát, tôi có ý rằng hệ thống các quy tắc và cấu trúc là những điều kiện tiên quyết cho sự tiếp thu của ngôn ngữ, và để mọi ngôn ngữ nhất thiết đều tương thích. Hỏi: Thế có nghĩa là nền tảng di truyền của ngôn ngữ là phổ quát? Chomsky: Đúng thế. Nhưng chúng ta chỉ là một giống loài. Bạn có thể tưởng tượng ra một thế giới khác mà ở đó có một số lượng các loài sinh vật đã phát triển với các hệ thống ngôn ngữ được xác định theo di truyền. Không xảy ra tiến hóa. Cái đã xảy ra là một loài phát triển, và cấu trúc di truyền của loài này tham gia vào sự đa dạng của các quy phạm trừu tượng rắc rối trong tổ chức ngôn ngữ đó, do vậy, cần phải hạn chế mọi ngôn ngữ, và, thực tế, tạo ra nền tảng học ngôn ngữ như  một cách trải nghiệm vẫn hơn là dùng việc học từ kinh nghiệm để cấu thành điều gì đó. Hỏi: Vậy tri thức này cũng sẽ giúp ích cho việc hiểu về thiên tính của con người? Chomsky: Đúng thế, theo hai hướng. Thứ nhất, tự thân nó là một phần của việc nghiên cứu trí tuệ con người, có lẽ là khía cạnh cốt lõi của thiên tính con người. Và thứ hai, tôi nghĩ, nó là khuôn mẫu tốt cho việc nghiên cứu những đặc trưng khác của con người, cái nên được các chuyên gia tâm lý xem xét theo phương pháp tương tự. Hỏi:  Ý của ngài là ngôn ngữ học đem lại lợi ích cho ngành tâm lý? Ngài có thể giải thích rõ hơn không? Chomsky: Một thứ mà cả tôi và bạn đều biết là ngôn ngữ. Cái khác chúng ta cũng biết là cách các khác thể hành xử trong không gian cảm quan. Chúng ta có nguyên cả đống các cách hiểu phức tạp về bản chất của không gian thị giác. Phần nào của tâm lý học, và trong vài năm gần đây nữa, nên cố gắng  tìm hiểu các quy tắc về cách chúng ta tổ chức không gian thị giác. Tôi sẽ nói rằng sự tương đồng này chính xác trong mọi phạm vi của ngôn ngữ học lẫn nhân học. Ví dụ thế này, để hiểu cách con người tổ chức các hệ thống xã hội, chúng ta phải tìm hiểu về những nguyên tắc mà chúng ta đặt ra để khiến một vài tầng lớp xã hội hiểu được. Hỏi: Tôi hiểu là chúng ta đã có thể có một dạng ngữ pháp phổ quát của các hình thái phi ngôn ngữ trong hành vi ứng xử của con người . Nhưng nếu thế, như ngài nói, hành vi của chúng ta và ngôn ngữ đều bị định hình bởi các quy tắc chúng, tại sao và trên toàn thế giới thì chúng khác nhau nhiều chứ? Chomsky: Tôi không nghĩ chúng khác nhau nhiều lắm. Tôi cho rằng cũng như sự tồn tại của con người, một cách khá tự nhiên chúng ta chứ cho rằng cái gì nằm trong sự tồn tại đó cũng đều giống nhau, và, sau đó, chúng ta chú ý đến cái gì khác biệt với mình. Điều đó tạo ra cảm giác hoàn hảo đối với sự tồn tại của chúng ta. Tôi cho là những con ếch không chú ý đến sự tồn tại của chúng. Chúng quan tâm đến cái khác. Điều một con ếch quan tâm là những khác biệt trong giống loài của mình. Từ góc nhìn của chúng ta, chúng giống nhau nhiều hoặc ít, còn từ góc nhìn của chúng thì tất cả hoàn toàn khác. Tương tự vậy. Với mình, tất cả chúng ta rất khác biệt, ngôn ngữ của chúng ta khác nhau, và xã hội của chúng ta cũng thế. Nhưng nếu chúng ta có thể tự rút ra từ góc nhìn của mình và phần nào nhìn cuộc đời con người theo cách một nhà sinh vật học xem xét các loài sinh vật khác, tôi nghĩ chúng ta có thể nhìn nó theo cách khác đi. Hãy tưởng tượng một người quan sát công tâm đang xem xét chúng ta. Người này sẽ được đánh giá chính xác thông qua tính chất đồng nhất của các ngôn ngữ của con người, qua sự thay đổi nhỏ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, và bằng cách lưu ý tới những điểm giống nhau trong tất cả các ngôn ngữ. Tiếp đến, anh ta sẽ để ý rằng chúng ta không tập trung lắm vào điều đó bởi mục đích của cuộc đời con người là hết sức tự nhiên và chỉ cho rằng mọi thứ đều là bình thường.  Chúng ta không quan tâm đến chính mình, tất cả chúng ta lại lo lắng về những điều khác biệt. Hỏi: Người quan sát khách quan này sẽ có cùng cách nghĩ về các biểu tượng, ý tưởng, nhu cầu và giá trị của chúng ta chứ? Chomsky: Tuyệt đối là vậy, tôi nghĩ thông qua sự đồng nhất giữa các tầng lớp của xã hội loài người trong mọi khía cạnh, anh ta sẽ bị thu hút. Hãy tưởng tượng một lần nữa, anh ta vẫn đang nhìn chúng ta mà không có bất kỳ định kiến nào. Tôi cho là anh sẽ lại chú ý đến thực tế, mặc dù sự tồn tại của con người có khả năng phát triển tri thức khoa học, nó hẳn là khả năng bị giới hạn bởi được thực hiện trong những phạm vi nhỏ hẹp và đặc biệt. Có những lĩnh vực to lớn, nơi suy nghĩ của con người dường như là không có khả năng được khoa học định hình, hoặc ít nhất là vẫn chưa làm được. Lại có những lĩnh vực khác – rất khác nữa, trong thực tế, một lĩnh vực duy nhất  –  mà ở đó chúng ta đã và đang chứng minh khả năng cho sự phát triển đúng đắn của khoa học. Hỏi: Các lĩnh vực vật lý chăng? Chomsky: Các lĩnh vực vật lý và những phần thuộc các lĩnh vực mở rộng của vật lý – hóa học, cấu trúc đại phân tử – đều nằm trong đó, có tiến bộ đáng kể. Ở nhiều lĩnh vực khác thì sự phát triển tri thức khoa học thực tế rất ít. Hỏi: Không phải là do con người muốn tập kiểm soát thế giới vật lý đấy chứ? Chomsky: Tôi không nghĩ thế. Ý tôi là nó hầu như phản ánh điều gì đó rất đặc biệt về đặc tính tư duy của chúng ta. Không có sức ép tiến hóa nào tạo ra được cho tư dụy khả năng định hình khoa học; nó chỉ xảy đến. Sức ép tiến hóa không giúp tăng khả năng giải quyết các vấn đề hay hình thành các ý tưởng khoa học mới mẻ. Vì thế, trong thực tế, các khả năng định hình khoa học được thể hiện vì những lý do khác, sẽ không quá ngạc nhiên nếu các cấu trúc khác thường đó phát triển và được chứng minh rằng đặt chúng đặc biệt hơn khi đặt trong tính bẩm sinh, nó cho thấy những ngẫu nhiên trong tiến hóa hoặc cách vận hành của quy luật vật lý. Hỏi: Ý ngài là chúng ta có thể, nhờ vào ưu điểm mà nguồn gốc ngẫu nhiên của khoa học này đem lại, có khả năng phát triểu một vài quy luật khoa học và không có khả năng khác? Đồng thời chúng ta cũng không ý thức được điều đó? Chomsky: Đúng vậy, giống cách chúng ta không ý thức về sự tồn tại của loài người, bởi chúng mặc nhiên cho rằng các cấu trúc tinh thần của bản thân là phổ quát. Tuy nhiên, tôi tin rằng một nhà sinh vật học nhìn từ ngoài vào sẽ thấy rất khác. Anh ta sẽ thấy, giống như cách xem xét các loài khác, chúng ta có một khoảng hẹp mà ở trong đó chúng ta vẫn tốt đẹp, nhưng nơi ấy cũng bị giới hạn. Và rằng, thực ra, những thành tựu chúng ta có thể có trong ấy lại gây ra sự thiếu thốn ở nhiều chỗ khác. Điều kiện để xây dựng một học thuyết khoa học từ dữ liệu và có thể nhận ra rằng nó là học thuyết hợp lý, là cần có một số nguyên tắc giới hạn rõ ràng, thứ dẫn dắt bạn đi theo hướng nhất định cũng như ngăn bạn lạc sang hướng khác. Nếu không thì bạn sẽ chẳng có khoa học gì sất, chỉ đơn thuần chọn một giả thiết ngẫu nhiên nào đó. Rồi tiếp đến, những thiên tài có thể có nhiều cơ hội không bị giới hạn để phát triển theo một hướng, nhưng đồng thời thiên tài cũng sẽ không đi theo hướng khác được. Và hai điều cân nhắc đó có liên quan đến nhau. Rất nhiều đặc tính của tư duy con người đem đến một cơ hội lớn cho thiên tài trong vài lĩnh vực sẽ trở thành chướng ngại vật cho sự phát triển của những lĩnh vực khác, chính xác thì những đặt tính bộc lộ ở mỗi đứa trẻ nhằm cho phép có được một ngôn ngữ phức tạp và ngăn việc thu nhập các hệ thống ngôn ngữ tưởng tượng khác. Hỏi: Ngài nghĩ những lĩnh vực nào sẽ trở lên lạc hậu nhất và bị sao nhãng? Chomsky: Tôi nghĩ về cơ bản thì chũng ta chẳng có gì trong lĩnh vực ứng xử con người. Có thể đó chỉ là tình cảnh bỏ bê tạm thời. Nhưng cũng có thể là chúng ta chỉ đơn giản là không được trang bị theo cách thông minh để phát triển một học thuyết như vậy. Hỏi: Ý ngài là chúng ta không chỉ không có công cụ để phát triển một học thuyết như vậy mà còn không có khả năng tạo ra công cụ cần thiết? Chomsky: Đúng rồi, những công cụ thông minh. Tư duy của chúng ta đặc biệt phù hợp với việc phát triển các học thuyết cố định, và chúng ta có một ngành khoa học nếu các học thuyết tồn tại trong tư duy của mình diễn ra theo hướng gần với sự thật. À, không có lý do đặc biệt nào để tin rằng sự giao cắt giữa những học thuyết đúng đắn với các học thuyết, thứ dễ dàng đạt được trong tư duy, là có quy mô. Nó có thể không quá lớn. Hỏi: Ít nhất chúng ta có thể biết nó rộng đến thế nào chứ? Chomsky: Đó là một câu hỏi thuộc về sinh học, mối tương giao ấy to lớn ra sao. Và nếu con người được cấu thành giống như mọi loài thì chúng ta nên trông chờ, rằng có một vài lĩnh vực mà sự tiến bộ của khoa học là khả thi, còn những cái khác thì không. Người dịch: Leica Green Mời các bạn đón đọc Ngôn Ngữ và Ý Thức của tác giả Noam Chomsky.

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Làm Ra Làm Chơi Ra Chơi - Cal Newport
Đã bao giờ bạn ngồi xuống để làm việc và sau đó, không hề nhận ra mình lại kết thúc bằng việc dành một (vài) tiếng đồng hồ lướt Youtube, Facebook, tin tức? Tất cả chúng ta đều đã từng làm vậy. Có vẻ như có quá nhiều thứ lôi kéo sự chú ý của chúng ta trong thời đại này, nên rất khó để thậm chí đạt đến trạng thái tinh thần giúp hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Trong Làm ra làm chơi ra chơi, tác giả Cal Newport nhấn mạnh chủ đề “làm việc sâu” (deep work) đang ngày càng được chú trọng. Học cách làm thế nào để làm việc sâu – khả năng tập trung vào một nhiệm vụ khó nhằn mà không hề bị sao lãng – là chìa khóa để tạo ra những kết quả tốt hơn trong thời gian ngắn hơn. Cuốn sách đưa ra hai mục tiêu, được chia làm hai phần. Phần 1 nhằm thuyết phục bạn rằng giả thiết về làm việc sâu là đúng. Phần 2 giới thiệu đến bạn một số cách để tận dụng làm việc sâu bằng cách rèn luyện não bộ và chuyển đổi thói quen làm việc sang hướng đặt làm việc sâu ở trung tâm sự nghiệp. Newport không hề đưa ra những lời khuyên xáo rỗng, mang tính lý thuyết hay giáo điều. Ông đề nghị chúng ta nên học cách làm quen với sự hời hợt và từ bỏ các công cụ truyền thông xã hội như Facebook, Instagram, (Thậm chí, nếu bạn không muốn làm vậy thì lý lẽ của ông cũng rất đáng đọc). Nếu bạn đã từng dành một ngày làm việc trong tình trạng bị sao lãng bởi đám email và thông báo hiện lên liên tục rồi băn khoăn bạn đã làm gì cả ngày thì đây chính là cuốn sách dành cho bạn. Mời các bạn đón đọc! *** DEEP WORK có dành cho bạn : - Nếu bạn là người tin vào làm việc chăm chỉ... work harder, harder and harder - Nếu bạn tin tưởng vào làm việc một cách CỰC KHỔ sẽ cho ra KẾT QUẢ bởi vì ở đây DEEP WORK không dạy bạn cách làm việc thông minh, không dạy cách bạn cheat, không dạy cách bạn trick,...có những cách làm việc thông minh, rất nhẹ nhàng, nhưng có lẽ nó chỉ dành cho người thông minh. => những điều trên có thể không phải những thứ được đề cập trong quyển Deep work chính thống, but SHUT UP and JUST KEEP IT IN YOUR MIND Các giai đoạn deep work : - Giai đoạn 1 : Beginner ( 4 tuần ) +) Mục tiêu :  - Bỏ được thói quen multi tasking, rèn sự tập trung - Hoàn thành đúng và đủ thời gian => Ở giai đoạn này của việc deep work, cái bạn muốn đạt được ở đây là số lượng, cũng chính là cái TIME ở trong công thức to đùng trên kia. Đừng quan tâm tới chất lượng vội, cũng giống như khi người ta chỉ bạn cách để đọc một quyển sách tiếng Anh, chẳng ai bảo bạn đi dịch từng từ ra, hay thấy từ nào khó thì đi ra, ai cũng bảo bạn cứ đọc hết đi, không hiểu cũng đọc, từ từ sẽ ngộ ra +) Khó khăn : - Thường mất tập trung - Thường làm không đủ giờ - Bị nhiễu loạn, gia đình, âm thanh ồn ào (vd bạn đang học, có người nhảy vào nhờ đi phơi quần áo,etc...) - Mạng xã hội khiến bạn khó tập trung - Áp lực quá lớn,bởi những người tìm tới DEEP WORK như một giải pháp thường là những người đang có áp lực công việc lớn, ví dụ thi cử, và bản thân mình cũng thế lúc mới đầu +) Giải pháp : - Sống ích kỉ, vô trách nhiệm : như mình từ chối giúp mẹ nấu cơm và bị chửi, tuy nhiên để cải thiện thì sau đó thời gian rảnh bạn có thể làm việc nhà, deep work sẽ dễ hơn nếu bạn ở một mình, nhưng đang trong thời gian DEEP WORK, CÚT, bạn sẽ phải hi sinh gì đó để đạt được thứ bạn muốn - Mục tiêu - động lực : viết ra 5 mục tiêu bạn muốn đạt được NHẤT, cái này thì bất cứ phương pháp cải thiện bản thân lol nào cũng có, nhưng chi tiết hơn chút, viết ra, dán lên bàn chỗ bạn học, tạo nó thành wallpaper trên laptop,desktop của bạn, nếu nó không giúp bạn có động lực ngồi mài đít 1-2 tiếng trên ghế tập trung thì NHẢM CẸC, ĐÓ ĐÉO PHẢI THỨ BẠN MUỐN NHẤT :gach: - BIẾN DEEP WORK THÀNH THÓI QUEN : cái này tôi hay nói với những người beginner, bạn nào đã đọc DEEP WORK sẽ biết có 2 kiểu, một là kiểu DEEP WORK mà bạn sẽ làm theo lịch, ví dụ đọc sách từ 5h-7h sáng mỗi ngày. Kiểu thứ hai là kiểu nhà văn, nhà báo, nghĩa là bạn có thể từ chế độ bình thường, bắt được cảm hứng liền lâm vào deep work ngay lập tức vài tiếng liền. Và tôi thường YÊU CẦU beginner theo KIỂU MỘT, hãy dành ra 2 tiếng mỗi ngày, vào một khung giờ cố định để làm một cái mả mẹ gì đó, và chỉ cái đó thôi , ví dụ như tôi lúc bắt đầu, từ 10h-12h tôi chỉ lên spotlight, nghe người ta đọc tiếng anh và chép ra giấy,...hay như người yêu tôi thì đọc sách từ 9h - 12h mỗi ngày :"> Cho tới bây giờ thì tôi có thể DEEP WORK bất cứ lúc nào, nhưng xin lỗi, bạn ĐÉO PHẢI TÔI :"> - BẠN ĐÉO PHẢI TÔI : Vâng, nhắc lại câu trên, vì bạn đéo phải tôi, nên bạn cũng sẽ gặp những vấn đề không giống tôi, vậy nên bạn chỉ cần nhớ những cái căn bản, những cái khó khăn ngoài ra, bạn phải tự tìm cách giải quyết, như tôi đéo phải Carl Newport (tác giả cuốn Deep Work) nên tôi cũng đéo làm giống ông ấy, nhưng Key Concept thì chúng tôi như nhau, chỉ là cách triển khai khác nhau cho phù hợp mỗi người, nhớ, TRIAL AND ERROR Giai đoạn 2 tôi sẽ up sau nếu mọi người ủng hộ :"> Too long dont read :  - Sách Deep work - Bản cứng : Link đã ẩn. Bạn cần đăng nhập - Sách Deep work - PDF : Link đã ẩn. Bạn cần đăng nhập - Lười đọc sách thì đây : Link đã ẩn. Bạn cần đăng nhập Note 1 : Cơ bản mà nói thì tôi vẫn khuyên bạn đọc sách, xong sau đó thì xem video mà tóm lại, mặc dù 196 pages, nhiều đoạn nó nhảm lol (nhất đoạn đầu) vì nó chỉ nêu ra này kia để tiếp cho bạn động lực và khá lan man, phần 2 mới nói rõ cách làm, nhưng cũng lan man, nhưng tại sao tôi khuyên bạn đọc, vì nó cho thấy QUYẾT TÂM của bạn, nên nhớ DEEP WORK không phải ngày một ngày hai là nó thay đổi bạn, nếu bạn muốn thay đổi bản thân mà chả đủ động lực để đọc xong 196 trang sách thì CÓ LẼ DEEP WORK không/chưa dành cho bạn. Cái thứ hai là ngay cả việc đọc xong cuốn sách dài loằng ngoằng với nhiều đoạn nhảm shit này nó cũng sẽ giúp bạn RÈN DEEP WORK. Nên nhớ khi DEEP WORK, bạn sẽ gặp nhiều thứ nhảm chỉ vì bạn đặt lịch sai, ví dụ như bạn muốn học môn A, hay mai thi môn A mẹ rồi, nhưng lỡ đặt vào môn B, bạn ghét B và B thi cuối cùng, nhưng đm đã đặt lịch ra thì làm cho xong, ngu một lần cho chừa, lần sau làm gì thì nghĩ kĩ. Hay đơn giản bạn nhìn cuốn sách này hay vkl, ai cũng kêu hay, bạn đặt lịch đọc, xong đọc được 20 trang bạn nghĩ đm nói cl gì thế này, tốn time vcl, nhưng ai bảo bạn ngu ko nghĩ kĩ, đã cầm sách lên thì cố mà đọc cho hết (với những quyển ít hơn 200 trang, một khi tôi cầm lên là tôi đọc cho xong thì thôi) :byebye: Note 2 : Deep work không dễ, nó khó, và cực khó chịu, nó có thể khiến bạn stress, trầm cảm, nên tôi không khuyên Deep Work nhiều hơn 4 tiếng/ngày (advance) và 2 tiếng/ngày (beginner) nếu bạn không có quá nhiều áp lực công việc và nhiều thứ phải hoàn thành. Và nếu bạn xong deep work mà bạn không rơi vào trạng thái "zombie" hay đm não bộ như muốn ngưng hoạt động, nhức đầu, đầu ong ong thì rất tiếc, đó đéo phải deep work, nhưng tất nhiên là dành cho những người đã deep work được một thời gian, còn nếu bạn mới bắt đầu, chỉ cần hoàn thành đủ số lượng là tốt lắm rồi :nosebleed: Note 3 : Như ở Note 2 tôi đã đề cập tới trạng thái "Zombie", vậy tôi làm sao để giải trừ trạng thái XẤU này, nếu ở trong game, sẽ có một loại thuốc nào đó, còn ở ngoài đời, bạn có thể sử dụng : 1. Caffeine : cái này tôi thường dùng trước khi deep work, khoảng 200mg, bạn có thể/nên sài caffeine dạng viên, hơn là uống, dễ kiểm soát lượng cf nạp vào cơ thể bạn hơn, như tôi sài lọ của Allmax thì phải (chả nhớ tên hãng), giá cũng rẻ nhưng tôi sẽ ko đi sâu hơn kẻo lại nhầm là bán tpbs :gach: 2. Pzizz : cái app này sẽ giúp bạn NAP 20 phút, hoặc thiền, nhưng tôi thì không thích ngồi kiểu Thiền, mà ngồi kiểu đó ai nhìn tưởng thần kinh đang luyện bí kíp võ công tàu thì bỏ mẹ. Tôi thì thích nằm hơn, đừng cố ngủ, ko biết người ta định nghĩa nap của họ như nào, với tôi, nap chỉ đơn giản nằm xuống thoải mái nhất, relax, và KHÔNG NGHĨ BẤT CỨ GÌ trong 20-25 phút, không phải ngủ, cũng không nên lâu hơn, nếu không sẽ rất dễ ngủ quên mẹ luôn :surrender: Bạn nên nap trước và sau khi Deep Work, tại sao cả trước, bởi vì nhiều bạn hay kêu là ko thể tập trung khi vào deep work, vì trước đó các bạn ấy hay lướt mxh như fb, voz,... hay thứ gì đó thú vị, tôi ko bắt các bạn bỏ, nhưng các bạn nên có một đầu óc SẠCH trước khi vào DEEP WORK, NAP là cách tốt giúp bạn dọn dẹp đầu óc cả trước và sau khi xong DEEP WORK 3. Gym/Thể thao : Tôi thì chọn Gym, đó là cách tốt để bạn rèn, Gym cũng là một kiểu rèn Deep Work, não bạn sẽ tập trung tập luyện trong khoảng 1 tiếng (trung bình), tất nhiên trừ các ông tới Gym để lên facebook =]] Và nó cũng rèn bạn tính kỉ luật,giúp xả stress và trên hết là Sức Khỏe :byebye: 4. Nói chuyện với ny/người bạn thân : tôi có thể nói chuyện với ny cả ngày chỉ về việc chúc cô ấy ngủ ngon, tất nhiên bạn không nên bỏ nhiều thời gian, nhưng rảnh thì có thể làm, hơn nữa nc với ny nhiều cũng sẽ giúp bạn trong việc nofap đấy, ít nhất là nó hiệu quả với tôi, và giúp tôi giết thời gian rảnh. Bạn rảnh, đừng deep work, bạn deep work 2 tiếng,quá đủ cho 1 ngày rồi, nếu hôm nay 2 tiếng đó, bạn chưa làm được cái gì cho đời, thì hôm nay, bạn là thằng vô dụng, đó là trừng phạt với bạn, bạn ko được phép làm gì nữa, có gì muốn làm, để mai, lúc đó bạn sẽ thấy quý thời gian deep work và tập trung hơn vào nó _______________________________________________________________ Lâu không Deep Work, bắt đầu từ hôm nay tôi cũng sẽ deep work từ mức beginner với anh em, mọi thứ được cập nhật bên dưới Bạn đã đủ động lực? : - Nếu bạn chưa đủ động lực muốn thay đổi, tôi khuyên bạn nên từ bỏ, vậy làm sao biết bạn đủ động lực chưa? - Khi tôi bắt đầu deep work, tôi biết về cuốn sách này qua reddit, một số user trên đó khuyên tôi đọc, lúc đó khi tôi xem một video, tôi ít khi xem quá 2 phút, tất nhiên là video về lập trình, học hành chán ngắt, tôi mua quyển "Tôi nói gì khi tôi nói về chạy bộ" mà mới đọc có 20 trang :stick: Vậy đây là thử thách để xem động lực của bạn tới đâu, hãy chọn 1 cuốn sách (nhiều hơn 100 trang, bản thân tôi chọn thẳng cuốn Deep Work), chọn một khoảng thời gian thích hợp, chọn một chỗ ngồi và lấy 1 cốc nước ra, bắt đầu đọc, không biết nó tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Tàu, không cần biết bạn có hiểu hết không, hãy ngồi đọc, đọc cho hết thì thôi, đọc không sao nhãng. Nếu bạn đọc trên máy tính, bật f11 lên, bất cứ khi nào mà bạn nghĩ lung tung, ko tập trung vào sách, hay muốn mở cái khác, tắt f11,etc... uống hết cốc nước, đứng lên lấy cốc khác, bắt đầu lại. Hoặc bạn có thể chơi hard mode hơn là tự vả vào mặt, lấy bút đâm ngón tay hay là đọc lại từ đầu nếu bị xao nhãng :"> Mấy cái tra tấn này là tôi nghĩ ra thôi chứ cũng chưa thử làm =]] Nói chung làm sao bạn có thể đọc hết cuốn sách mà ko sao nhãng chút nào, vì bất cứ việc gì, thì ok, bạn đã sẵn sàng, đủ hành trang để vào Deep Work ***   Mời các bạn đón đọc Làm Ra Làm Chơi Ra Chơi của tác giả Cal Newport.
Một Túi Yêu Thương - Gail Reichlin & Caroline Winkler
Cuốn sách này ủng hộ việc các bậc phụ huynh nghiêm khắc dạy bảo, uốn nắn sửa sai khi trẻ mắc lỗi, nhưng đồng thời cũng đề cao thái độ tôn trọng cả cha mẹ và trẻ nhỏ. Cuốn sách khuyến khích bạn không chỉ nghĩ về những gì bạn nên nói, mà cả cách bạn nói điều đó ra như thế nào. Cách mà chúng ta giao tiếp với con trẻ có thể khích lệ con hợp tác hơn, giúp gắn kết các thành viên gia đình, và để chúng ta có thêm những khoảnh khắc hạnh phúc bên nhau. *** Lần đầu tiên nuôi dạy một đứa trẻ, bạn sẽ có rất nhiều câu hỏi. Một số câu hỏi không thực sự quan trọng, một số khác bạn có thể tự trả lời bằng chính bản năng làm cha mẹ và bằng những kiến thức sẵn có của bản thân. Nhưng sẽ còn rất nhiều câu hỏi mà bạn không tìm được câu trả lời, trong suốt nhiều năm, cho đến khi con dần khôn lớn. Bạn biết tìm ai để có thể nhận được lời khuyên? Bạn có thể tìm được câu trả lời qua rất nhiều cuốn sách nuôi dạy trẻ nhưng thực tế là chỉ có một vài trong số đó đáng để bạn mua. Những câu trả lời mang tính tức thời, nặng tính lý thuyết, thiếu thông tin, không thể nào áp dụng thành công cho các tình huống thực tế trong cuộc sống. Thực tế, nuôi dạy trẻ là một lĩnh vực đầy phức tạp và khó khăn. Đã nhiều năm, tôi khuyên các cha mẹ trẻ tìm tới ông bà – những người đã làm rất tốt công việc nuôi nấng những đứa trẻ của họ, và hãy để bản năng làm cha, làm mẹ chỉ đường cho bạn. Ai sẽ cho lời khuyên về những vấn đề như dạy một đứa trẻ đang chập chững ngồi bô tốt hơn một bà mẹ đã thành công trong việc nuôi con? Hay để có lời khuyên khi đứa trẻ lên 3 bị đau ốm thì còn gì tốt hơn là tìm đến và nghe lời chia sẻ của một ông bố đã thành công trong tình huống như vậy? Gail Reichlin và Caroline Winkler chính là những vị phụ huynh mà bạn cần tìm. Tôi đã biết Gail được một vài năm nay, và tôi cảm thấy cô có khả năng viết nên một cuốn sách nuôi dạy trẻ. Cô rất giàu kinh nghiệm và là người đặc biệt quan tâm tới trẻ em. Cô và người cộng sự, Caroline Winkler, hai phụ nữ giỏi giang, những bà mẹ tuyệt vời của ba đứa trẻ, họ có cả một kho báu kinh nghiệm để cho bạn những lời khuyên, những hướng dẫn chính xác và đáng tin cậy. Họ cũng là những người thường xuyên tiếp xúc, gần gũi với các ông bố, bà mẹ, thậm chí cả các chuyên gia về trẻ em. Được viết nên từ những kiến thức thực tế và tấm lòng chân thành, ấm áp, cuốn sách chứa đựng hầu hết những điều mà người đọc tìm kiếm và sẽ tìm thấy, ngay trong cuốn sách này. — Tiến sĩ Burton L. White Tác giả của cuốn sách The New First Three Years of Life (tạm dịch: Ba năm đầu tiên của cuộc đời) và Raising a Happy, Unspoiled Child (tạm dịch: Nuôi nấng một đứa trẻ hạnh phúc, ngoan ngoãn) Mời các bạn đón đọc Một Túi Yêu Thương của tác giả Gail Reichlin & Caroline Winkler.
Gia Huấn Ca - Nguyễn Trãi
Đặt quyển sách, vắt tay nằm nghĩ, Hễ làm người dạy kỹ thì nên, Phấn-son cũng phải bút-nghiên, Cũng nhân-tâm ấy há thiên-lý nào.  Nguyễn Trãi hiệu Ức Trai, người làng Nhị-khê, huyện Thượng-phúc (tức phủ Thường-tín, tỉnh Hà-đông bây giờ). Năm 21 tuổi, đỗ Thái-học-sinh (Tiến-sỹ) niên-hiệu Thánh-nguyên thứ 1 triều Vua Hồ Quí Ly (1400). Làm quan đến chức Ngự-sử-đài chánh chưởng. Thân-phụ là Nguyễn Phi Khanh, đỗ Bảng-nhỡn niên-hiệu Long-khánh thứ 2 triều Vua Trần Duệ-Tông (1374), vì cớ là hàn-tộc mà lấy con-gái Trần Nguyên Đán là tôn-thất nhà Trần, theo phép nhà Trần không được bổ-dụng. Mãi đến triều nhà Hồ mới được dùng làm Trung-thư thị-lang. Khi quân Minh sang xâm-lấn, hai cha con vua nhà Hồ bị bắt, Phi Khanh cũng bị giải về Tàu. Nguyễn Trãi khóc theo đến Nam-quan. Phi Khanh ngoảnh lại bảo rằng : « Con về rửa hờn cho nước, báo thù cho cha, mới là người đại trung đại hiếu, không nên theo nhi-nữ thường tình ! » Nguyễn Trãi trở về đi theo Lê Thái-Tổ khởi nghĩa ở Lam-sơn. Trong 10 năm kháng-chiến với quân Minh, giúp Vua Lê bằng mưu-kế : phàm các văn-thư từ-trát giao-thiệp với tướng nhà Minh, đều do một tay ông thảo thiện. Sau khi đã đánh đuổi ngoại xâm về Tàu, Nguyễn Trãi được phong tước Quan-phục-hầu, liệt vào hạng khai quốc công thần đệ-nhất. Triều Vua Lê Thái-Tông được làm Nhập-nội hành-khiển (tức Tể-tướng). Năm 60 tuổi, về trí-sĩ tại Côn-sơn (thuộc huyện Chí-linh, tỉnh Hải-dương bây giờ). Ba năm sau, vì án Nguyễn Thị Lộ, bị tru di tam tộc. Sử chép : Niên-hiệu Đại-bảo thứ 3 triều Lê Thái-Tông (1442), nhà vua đi tuần phương đông, duyệt võ ở Chí-linh, Nguyễn Trãi đón xa-giá đến chơi chùa Côn-sơn. Thiếp của Nguyễn Trãi là Thị Lộ, có tài có sắc, được nhà vua vời. Khi xa-giá đến vườn Lệ-chi (xã Đại-lai, huyện Gia-bình, tỉnh Bắc-ninh bây giờ) nhà vua bị bệnh sốt, Thị Lộ vào chầu suốt đêm rồi Vua mất, ai nấy đều nói Thị Lộ thí nghịch, nên Nguyễn Trãi phải tội tru di. Năm ấy Nguyễn Trãi 63 tuổi, có người thiếp đương có thai trốn được, sau sinh ra Nguyễn Ánh Vũ. Đời Lê Thánh-Tông, Nguyễn Trãi được minh oan, truy tặng Tế-văn-hầu. Anh Vũ được bổ chức Tri-châu. Nguyễn Trãi chẳng những là bậc năng-thần kinh bang tế thế, mà còn là một nhà đại văn-hào của Việt-nam ta. Tác-phẩm của Tiên-sinh bằng chữ Hán rất nhiều, hiện nay còn truyền lại đều in trong bộ Ức Trai toàn tập như Ức Trai thi-tập, Ức Trai văn-tập, Quân-trung từ-lệnh tập, An-nam Vũ-cống, v.v… Tác-phẩm bằng Quốc-âm, nay chỉ còn truyền lại có 2 : tức là tập « Gia huấn ca » này và bài thơ « Hỏi ả bán chiếu » mà người ta thường truyền-tụng. Mời các bạn đón đọc Gia Huấn Ca của tác giả Nguyễn Trãi.
3 Chìa Khoá Mở Cửa Thành Công - Lord Beaverbrook
LỜI NGƯỜI DỊCH TUNG loại sách ích lợi trực tiếp cho các bạn trẻ hai mươi năm trước đây, tôi đã chọn cuốn MỘT NGHỆ THUẬT SỐNG (Un art vivre) của André Maurois để dịch ra VIỆT NGỮ (1953). Lần này tôi chọn cuốn « BA CHÌA KHÓA MỞ CỬA THÀNH CÔNG » của Lord Beaverbrook, vì cuốn sách này có thể đem lại nhiều ích lợi thực tiễn cho các bạn trẻ muốn thành công trên đường đời. Hơn thế nữa, những kinh nghiệm bản thân của tác giả tác phẩm giá trị này được đúc kết như là một thứ cẩm nang tranh đấu trên đường kinh doanh có thể giúp các bạn thanh niên học hỏi để tiến mạnh tới đích. Dịch giả không ước mong gì hơn là các bạn trẻ bước vào đời xem qua cuốn sách này sẽ rút ra được những bài học thích đáng đưa đến một tương lai tốt đẹp. HOÀNG THU ĐÔNG *** LỜI MỞ ĐẦU CỦA J. P. KENNEDY Tôi chưa biết người nào đủ tư cách hơn là Huân Trước Beaverbrook để hướng dẫn thanh niên, cũng chưa thấy có người nào mà lịch sử thành công của đời sống cá nhân hấp dẫn bằng. Sinh ra trong một gia đình thanh bạch ở Tân Brimswich, tại Gia Nã Đại, Max Aitken (về sau trở thành Lord Beaverbrook) ngay từ lúc nhỏ tuổi đã tỏ ra những dấu hiệu có năng khiếu kinh doanh. Khi lên mười chẳng hạn, ông ta hết sức mong ước một chiếc xe đạp, song những may mắn để có được còn yếu kém hơn số lương ít ỏi của thân phụ ông, một mục sư. Thế rồi một hôm, có một hãng xà bông đề nghị treo giải thưởng một chiếc xe đạp mới cho đứa trẻ nào gởi về số giấy gói xà bông nhiều nhất. Thay vì đến các nhà hàng xóm để yêu cầu họ mua dùng loại xà bông có thứ giấy gói quý giá kia, Max nghĩ ra một sáng kiến đặc biệt. Ông ta đem tất cả số tiền dành dụm được ra mua các kết xà bông kia, đem bán lại mỗi bánh theo một giá hạ hơn trên thị trường – với điều kiện người mua trả lại giấy gói cho ông – và lập đi lập lại nhiều lần dịch vụ này. Nhờ thế mà Max đã đoạt được chiếc xe đạp, ghi vào bảng kinh doanh sự thành công đầu tiên trong số nhiều thành quả trên đường hoạt động dịch vụ. Đầu óc tháo vác và hiểu biết bén nhậy của ông được khai thác về sau đã mang lại cho ông tài sản, danh tiếng quốc tế, địa vị Nam Tước, các sở hữu địa ốc ở Sirrey, ở Jamaique, ở Nassau và Fredericton, một nông trại ở Ontario, một khách sạn đặc biệt ở Luân Đôn, một cao ốc văn phòng choáng ngợp bằng sắt và kính ở Fleet-Street, nhiều cổ phần lên đến nhiều triệu bảng Anh trong các đại xí nghiệp, làm chủ một tờ báo hàng ngày có số xuất bản vào hàng mạnh nhất trên thế giới. Buổi đầu Max kiếm ra tiền bằng cách bán báo, rồi mở rộng sự phát hành báo chí ở thị trấn quê nhà tại New Castle. Như thế còn chưa đủ, ông thành lập một hội và ấn hành tờ báo nhỏ của mình, NGƯỜI LÃNH ĐẠO (The Leader), trông nom lấy tòa soạn, sắp chữ và in bằng máy quay tay. Rời ghế nhà trường, Max làm việc ít lâu trong một tiệm tạp hóa, rồi đến một văn phòng pháp luật, trong lúc vừa tiếp tục học luật ở Saint John tại trường đại học Tân Brimswisk. Ông đã khổ công để giao thiệp, làm quen với người mới. Cho đến đỗi ông phải thuê dạ phục về mặc với hy vọng được mời dự một cuộc họp quan trọng có nhiều người tại Quốc hội. Ông chờ đợi cho đến giờ mở cửa buổi dạ hội, song tấm thiệp mời không bao giờ đến. Đau lòng vì cảm thấy bị gạt bỏ ra bên lề, Max nhất quyết phải thành công để có thể mở ra bất cứ cánh cửa nào bấy lâu vẫn khép kín đối với ông. Tin chắc rằng có tiền bạc mới có thể đến khắp mọi nơi, ông đã sử dụng tất cả đầu óc sáng tạo và hiểu biết của mình để làm ra tiền. Sau một thời kỳ ngắn ở trong hãng Bảo hiểm sinh mạng, ông đến Halifax và vào làm thư ký cho John F. Stairs, một tài phiệt già có nhiều quyền lợi lớn ở phía đông Gia Nã Đại. Ông chủ và người làm công trẻ tuổi chẳng mấy chốc trở thành đôi bạn. Max đề nghị với Stairs tập hợp lại nhiều ngân hàng nhỏ địa phương để tăng cường năng suất. Stairs cho phép Max thi hành dịch vụ, nhìn nhận là anh phải thành công. Anh chàng trẻ tuổi bị thử thách đã không lùi bước. Bấy giờ ông chưa được hai mươi mốt tuổi, gặp phải những giám đốc ngân hàng khắc khổ liên hệ đến dịch vụ, thảo luận với họ, thuyết phục họ là sáng kiến của ông đem lại lợi tức. Việc phối hợp các ngân hàng thành tựu, và lần đầu tiên trong đời Max được 10.000 đô la. Stairs lấy làm thích thú, mới giao cho ông vụ bán trái khoán của Hội Cưa và Thanh Tân-Ê-Cốt. Từ văn phòng này đến văn phòng nọ, Max đi tìm kiếm những khách hàng có thể mua, mang trái khoán trong một cái túi xà cột. Nhiệm vụ thành công và kiếm được một món lời riêng khá lớn. Max tạo lập « Nghiệp hội An Ninh Hoàng Gia » với Stairs làm chủ tịch, còn ông thì trở thành tổng giám đốc. Trong những năm đầu của thế kỷ này, người ta chứng kiến buổi đầu điện khí hóa, đã trở nên vô cùng quan hệ trong đời sống hiện nay. Nhiều tài sản lớn lao đã được tạo nên nhờ thiết lập điện trong những nhà ở, kỹ nghệ, nông trại, xe lửa. Max đã dấn thân hết mình trong công cuộc phát triển lớn lao này, đem về lợi tức quan trọng cho « Nghiệp hội An Ninh Hoàng Gia ». Khi John Stairs mất, phần cả Max sau khi giải quyết dịch vụ lên tới 50.000 đô la. Bấy giờ ông mới về ở Montréal, rồi lại bắt đầu trông nom tổ chức và thay đổi các hội, nhưng trên một phương diện to lớn hơn. Vào lúc cực thịnh của thời kỳ ở Montréal, ông được Ngân hàng thế lực Montréal giao phó công việc kiểm soát hoạt động dịch vụ của ba hội xi măng Gia Nã Đại. Trong lúc hoàn thành nhiệm vụ này, Max nhận thấy khả năng phối hợp cả ba hội lại và phụ thêm các hãng xi măng khác nữa để thành lập một hội liên hiệp mới quan trọng. Việc này đòi hỏi phải góp một số vốn 38 triệu đô la, một số tiền hết sức lớn lao chưa từng thấy trong lịch sử Gia Nã Đại, và sẽ lợi ích cho nền kinh tế chung trong nước. Ngân hàng Montréal và các xí nghiệp Gia Nã Đại khác chấp thuận kế hoạch và ủng hộ ông. Tuy vậy, trong lúc đang thương thuyết, một phe liên hệ đề nghị đem một công ty xi măng của mình nhập cuộc. Max từ chối, cho rằng lời yêu cầu bán công ty kia quá cao và nhận thấy dịch vụ không được lương hảo về mặt tài chính. Tác giả đề nghị liền rút lui khỏi buổi họp đang tiếp tục, phản đối Max trước Nghị viện, buộc tội ông đã tạo nên những tiền lời bất hợp pháp khi phóng đại giá trị tư bản pháp định của Hiệp hội. Như vậy là Max phải đương đầu với một đối thủ quỉ quyệt, có nhiều thế lực để đánh ngã bất cứ một thanh niên nào dưới ba mươi tuổi. Song Max đã không chiến bại. Anh chỉ có việc trình bày những dữ kiện ra trước Nghị viện và dân chúng, thế là chấm dứt nội vụ. Một khi bắt đầu, hiệp hội tỏ ra là một cơ sở tuyệt hảo và làm cho giá xi măng hạ xuống khắp Gia Nã Đại. Tuy vậy, ấm ức xót xa vì những lời lẽ rỉ tai của bọn thù nghịch loan truyền trong dân chúng chống lại ông, Max thanh toán phần của mình lên tới gần năm triệu đô la lúc bấy giờ, và tuyên bố là từ bỏ mãi mãi giới kinh doanh. Thời ấy ông đang ở lợi thế để lưu ý đến việc thực hiện một hoài bão vẫn ôm ấp bấy lâu : là đồng nhất những địa phận cách biệt của Đế quốc Anh thành một khối thịnh vượng hơn bằng cách hạ bỏ hàng rào thuế quan. Ông bắt đầu suy nghĩ thực sự đến việc nhảy vào chính trường để tranh đấu cho một sự cải cách giá biểu thuế quan và như thế là đảm bảo cho một sự đoàn kết chặt chẽ hơn của Đế quốc Anh. Ông đã gặp Bonar Law, một ngươi đồng hương ở Tân Brimswich, hoạt động chánh trị từ vài năm nay ở Anh. Max đến Luân Đôn, đi gặp Law, nói chuyện cải tổ quan thuế và Đế quốc Anh. Law hết sức quan tâm đến. Một tình bạn nồng ấm và lâu dài bắt đầu. Ít lâu sau đó, khi Law bắt đầu cuộc vận động bầu cử cho phe Đoàn kết, ông yêu cầu Max giúp cho một tay. Max mới quyết định đứng chung liên doanh với Law. Ông ra ứng cử trong một khu vực ở Lancashire. Khi bắt đầu cuộc vận động tranh cử, chỉ còn có mười ngày nữa thôi, mà ông lại phải đương đầu với một đối thủ có tên tuổi. Nhưng Max không sợ. Ông đã có dịp làm mau lẹ và đâu ra đấy. Ông liền thảo một kế hoạch vận động có thể giúp mình gặp tất cả những cử tri trong địa hạt. Max chưa có một kinh nghiệm nào về hùng biện chính trị, và hơn thế nữa giọng nói Gia Nã Đại của Ông làm cho cử tri Anh nghe lạ tai lắm. Bởi thế khi giới thiệu bạn cùng liên doanh, Bonar Law đã phải nói : « Xin quí vị đừng xét đoán bạn tôi qua các bài diễn văn đầu tiên. Tôi xin bảo đảm cùng quí vị rằng Ông ta sẽ giúp được nhiều việc cho khu vực nào bầu ông lên ». Law đã lo ngại không đúng. Thái độ chân thành của Max, sự ngay thật gạt bỏ những mánh lới mị dân, tất cả làm cho dân chúng chất phác ở Lancashire khoái chí tử. Max đã thắng lợi với một đa số đáng kể. Ông ta không gây sôi nổi trong năm đầu tiên ở nghị trường. Ông nghiên cứu thấu đáo những vấn đề chính trị Anh và liên kết bạn hữu trong tất cả các giới công luận, cũng như ông đã từng làm trong giới kinh doanh. Ông áp dụng cách trau dồi tuyệt hảo tài hùng biện của mình bằng lối chấp nhận đứng lên phát biểu khắp mọi nơi. Dần dà ông trở thành một nhân vật chính trị. Ông được trao tặng chức hiệp sĩ năm 1911. Mặc dù hết sức gắt gao, chính trị chỉ thu hút một phần hoạt động hăng say của Sir Max. Tuy đã tuyên bố là rời bỏ kinh doanh, ông trở thành chủ tịch Ngân hàng Thuộc địa và Công ty tổ hợp Công binh, trong lúc ông có mặt tại Luân Đôn từ một năm nay. Năm 1912, trong một tháng, đầu óc tháo vát của Ông đã phá vỡ những kỷ lục của ông. Ông điều đình mua tất cả những mễ cốc chở đến trong cùng một tỉnh,135 kho mễ cốc và hai máy xay, cộng với 1.370 đô la tài sản địa ốc ở Montréal, cũng trong thời gian ấy, ông làm tăng số vốn của một hội kim khí từ 200.000 đô la lên đến một triệu và gia tăng sự sản xuất theo đà ấy. Nhưng đến năm 1.913, ông đã trả giá cho nhưng năm lao lực không ngừng, phát bệnh nặng. Trong thời kỳ dưỡng bệnh, ông khám phá ra rằng tinh thần tháo vát và sự hiểu biết mà ông đã trông vào để tạo nên sự nghiệp, không đáng kể gì thiếu sức khỏe. Cho nên, ông tự hứa là ngừng bớt hoạt động. Bệnh trạng đã giúp ông tìm thấy một chìa khóa thứ ba, cộng thêm với hai chìa khóa đã đưa ông tiến lên khá xa. Người ta thấy Sir Max miễn cưỡng tỏ ý quyết liệt từ chối nhiều đề nghị hấp dẫn của người ta mang đến tận văn phòng ông tại Thredneedle Street. Một nghiệp vụ hiếm có thời bấy giờ có vẻ hình như là một lỗi lầm của thời đại lúc ấy, nhưng sẽ bộc lộ là nguyên nhân của một sự thành công lớn lao, đó là việc mua một số cổ phần nhỏ của nhựt báo xuất bản ở Luân Đôn, tờ Daily Express. Thế rồi vụ Sarajevo châm lửa vào là thuốc súng. Chiến thanh thế giới thứ nhứt xảy đến, và những quyết định hạn chế hoạt động của Max liền quên đi. Sir Max tự cảm thấy phải nhảy vào cuộc đấu tranh vì chính phủ Anh dấu kín không cho dân chúng biết những tin tức xấu từ mặt trận đưa về từng giờ. Ông nghĩ rằng người ta phải nói sự thật, dù là tốt hay xấu, và chỉ sau khi biết rõ các tai họa thì đế quốc Anh mới cảm thấy cần đoàn kết với nhau để nổ lực chiến thắng. Ông muốn nhất là những đồng bào Gia Nã Đại của ông biết rõ sự thật, chắc hẳn rằng họ sẽ chịu nổi và sẽ vì thế mà hành động quyết liệt. Sự khẩn khoản của ông gắt gao đến độ người ta phải cử ông làm đại diện cho chính phủ Gia Nã Đại ở mặt trận. Bắt đầu bằng mặt trận ở Ypres năm 1915, Sir Max nói cho thế giới hay những nỗi khốn khổ và tính chất anh hùng của binh sĩ Gia Nã Đại ở chiến trường. Trong khi chính phủ Anh còn dấu diếm dưới các hình thức tốt đẹp những sự thiệt hại ghê gớm của binh sĩ, thì Sir Max không rời nhiệm vụ đã định, chấp nhận cho những thông tín viên chiến tranh được tự do vào các phòng tuyến Gia Nã Đại và cung cấp cho họ tất cả những tin tức đòi hỏi, nếu không phương hại đến bí mật quân sự. Việc làm của ông có kết quả. Từ Tân Brunswich đến Vancouver, người Gia Nã Đại nỗ lực gấp đôi, khoác đầy mình danh dự. Tại Luân Đôn, hành động của Sir Max cũng được chú ý vì đến năm 1917, ông được phong làm huân tước Beaverbrook. Vài tháng sau, ông kiểm soát hoàn toàn nhựt báo Daily Express. Tất cả mọi người ở Fleet Strees đều cho rằng ông đã nhắm quá cao. Huân tước Northcliff, ấn hành tờ báo thế lực Daily Mail, tiên đoán rằng Max sẽ tiêu tan đến đồng xu cuối cùng vì báo chí. Cuối năm ấy, tờ Daily Express chứng tỏ thành công. Tuy vậy, Beaverbrook không ngủ trên những vòng hoa chiến thắng, đưa ra nhiều câu hỏi, nghiên cứu, hoàn bị kiến thức về nghề làm báo như ông đã từng hoàn bị kiến thức về tài chánh, kinh doanh. Nhiệm vụ nặng nề trông nom một nhựt báo bán chạy chưa đủ chiếm hết thì giờ, năm 1918 ông nhận giữ chức bộ trưởng Thông tin và hoàn thành nhiệm vụ khá tốt đẹp. Bao nhiêu nỗ lực làm việc đã được tưởng thưởng. Năm năm sau khi ông chủ trương tờ Daily Express vượt con số một triệu ấn bản. Ngày nay, các cơ sở xuất bản của ông ở Luân Đôn, Manchester và Glasgow, cùng hai tờ báo khác mà Beaverbrook lấy về sau đó, những nhựt báo buổi chiều ở Luân Đôn và Glasgow, Evening Standard và Evening Citizen, tổng cộng có năm triệu độc giả. Khi những đám mây đen vần vũ của chiến tranh thế giới thứ hai nổi lên, Beaverbrook (đã sáu mươi tuổi) thuộc nhóm ít người hướng dẫn cho nước Anh đang hướng về họ. Có dịp may được tham dự gần cuộc chiến đấu của những lũ khổng lồ, tôi có thể xác nhận với tính cách chứng nhân, rằng huân tước Beaverbrook, có lẽ hơn ai hết, là một trong số người tạo nên chiến thắng bằng cách làm cho nước Anh kiêu hãnh bị chiến bại đè nặng, đã ngẩng đầu lên trở lại. Vì cuộc chiến đã thắng lợi trên không nhờ R.A.F. (Không lực Hoàng gia), trong tháng chín năm 1940. Huân tước Beaverbrook, với tư cách là Tổng trưởng sản xuất Hàng không, đã cho « vài người » làm ra vô số phi cơ để chiến thắng trận đánh Anh quốc cho « bao nhiêu người ». Khi Thủ tướng Winston Churchill đưa ông lên làm Tổng trưởng Không quân năm 1940, Beaverbrook không để mất thời giờ chờ đợi chính phủ cấp cho những văn phòng cần thiết cho công việc bề bộn này. Ông lập tức biến đổi cơ sở của mình thành Đại bản doanh tạm thời, soạn thảo ngay cho mình và các cộng sự viên trực tiếp một kế hoạch làm việc bắt đầu từ tám giờ mỗi sáng để kết thúc vào hai giờ sáng hôm sau. Trong ngày hôm ấy, ông đến viếng bất ngờ một cuộc họp của những tay cầm đầu kỹ nghệ hàng không thường vẫn diễn ra. Ông tuyên bố rõ rệt với họ rằng bổn phận của họ không phải là mất thì giờ nhóm họp với nhau để bàn cãi các vấn đề. Vận mệnh của đất nước đang lâm nguy. Họ chỉ có một công việc độc nhất để làm : trở lại xưởng của họ để đóng máy bay. Ông đã nói với họ một cách hết sức giản dị, song thông điệp của ông mang đầy ý nghĩa : nếu họ muốn cho đất nước của mình còn tồn tại, thì họ phải hành động gấp, gấp hơn bao giờ hết và cho các phi công Anh phương tiện, bất cứ phương tiện gì, để hạ oanh tạc cơ của Hitler. Một ủy ban chủ nhân đem trình với ông một kế hoạch ba tháng sắp tới, ông mời họ về luôn, tuyên bố ngay rằng ông không để ý đến một kế hoạch cho ba tháng sắp tới. Họ có thể cho ông bao nhiêu máy bay trong ngày mai đây ? Không bận bịu vì giấy tờ, gạt bỏ tất cả những gì trên lối đi, ông chiếm các khoảng đất thuộc các cơ quan khác của chính phủ để làm xưởng máy, thu nhận những nhà chuyên môn tài giỏi có thể kiếm được, bất chấp các sự liên lạc của họ với chính phủ và quốc tịch của họ ; ông chỉ cần sản xuất máy bay với bất cứ giá nào. Kết quả ra sao ? Trong vòng một năm, Beaverbrook làm tăng con số sản xuất máy bay Hurricane từ 500 lên đến 2.850, máy bay Spitfire từ 430 lên đến 1.500. Ông giao cho không lực Hoàng gia (R.A.F.) 9.000 máy bay được sửa chữa trong một năm và 12.000 động cơ xét lại. Thương thuyết ký hiệp ước với chính phủ Hoa Kỳ, ông đã nhận được thêm 3.000 máy bay mỗi tháng. Ông kêu gọi những bà nội trợ Anh đi quyên hàng tấn nhôm phế thải. Ông mở một chiến dịch lớn hô hào gởi tặng phẩm để có « một phi cơ ghi tên bạn ». Ban đầu các nhóm gởi tiền cho ông, để mua các phi cơ lẻ loi, nhưng rồi chẳng mấy chốc, ông nhận được nhiều tiền để sắm cả bao nhiêu phi đoàn. Cuối chiến dịch này, ông nhận được các chi phiếu từ 25.000 đến 100.000 đô la, cùng một chi phiếu một triệu đô la. Khi Huân tước Beaverbrook bước vào bộ Không quân, vấn đề lớn đối với Anh quốc là tìm đủ số máy bay cho phi công, một năm sau, vấn đề là tìm ra đủ số phi công cho tất cả những máy bay sản xuất. Khi hòa bình trở lại, huân tước Beaverbrook quay về với báo chí của ông, tiếp tục cuộc đấu tranh cho sự thống nhất hợp tác, tương trợ lẫn nhau giữa các địa phận của Đế quốc Anh. Ông hết lòng ủng hộ vị trí Hoa kỳ trong cuộc chiến tranh Triều tiên, đến độ sa thải một viên chủ bút đã tỏ ra xem thường việc đó. Từ đấy, ông luôn luôn làm việc theo hướng làm sao cho Anh và Mỹ hiểu biết nhau hơn. Ông cho rằng việc liên lạc tốt đẹp giữa hai nước nầy là một cần thiết hệ trọng cho thời đại chúng ta. Sau gia đình, ông vẫn yên nhất là Đế quốc Anh : lý tưởng của ông là những vấn đề quốc tế phải do sự đoàn kết Anh Mỹ chi phối. Trong đời ông chẳng làm việc gì mà không phục vụ cho Đế quốc Anh. Điều đó cũng thực như việc ông phối hợp các ngân hàng nhỏ ở Halifax để có thể phục vụ thân chủ tốt hơn, việc ông hăng say sản xuất phi cơ trong thời chiến đã qua. Cho đến các đại nhựt báo của ông, trước tiên đối với ông không phải là phương tiện để làm ra tiền. Phần lớn những số tiền do các báo mang lại, ông đều đem tái đầu tư để phát triển báo chí và thúc đẩy phục vụ Đế quốc Anh tốt đẹp hơn.   J. P. KENNEDY Mời các bạn đón đọc 3 Chìa Khoá Mở Cửa Thành Công của tác giả Lord Beaverbrook.