Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hồi ký Wilfred Burchett - Wilfred Burchett

Wilfred Graham Burchett (sinh ngày 16 tháng 9 năm 1911 tại Melbourne, Úc, mất ngày 27 tháng 9 năm 1983 tại Sofia, Bulgaria) là một phóng viên cánh tả nổi tiếng. Burchett từng tường thuật Chiến tranh thế giới thứ hai cho báo chí Anh. Ông cũng chính là phóng viên phương Tây đầu tiên có mặt tại Hiroshima, Nhật Bản sau khi Mỹ thả bom nguyên tử, lúc thành phố còn đầy mùi bụi phóng xạ. Một trong những dòng chữ đầu tiên mà Burchett viết về sự kiện này là: “    Tôi viết để cảnh báo thế giới    ” Ông là phóng viên phương Tây hiếm hoi từng sống cùng với bộ đội Việt Nam tại chiến khu Việt Bắc và chiến trường miền Nam trong hai cuộc chiến tranh của người Việt Nam chống lại quân đội Pháp và Mỹ. Burchett đã viết trên 40 cuốn sách trong cuộc đời. Ông qua đời vì bệnh ung thư năm 1983 tại Sofia, Bulgaria ở tuổi 72. Ông là bác của nhà văn Stephanie Alexander. *** Triết gia Anh Bertrand Arthur William Russell (1872-1970) coi Wilfred Burchett là người đầu tiên lên tiếng thông báo cho dư luận phương Tây về cuộc chiến đấu chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Wilfred Burchett (1911 - 1983), nhà báo Australia nổi tiếng thế giới từ những thập niên 1940 và 1950, được mệnh danh là “Con sói cô độc”. Australia đã từng coi Burchett là “kẻ thù số 1”, nhưng mới đây đã cho xuất bản cuốn Hồi ký của nhà báo nổi loạn: Tiểu sử tự thuật của Wilfred Burchett. Burchett là nhà báo nói tiếng Anh đầu tiên chứng kiến và tường thuật hậu quả tang thương của vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima. Trong tờ Daily Express của Anh ra ngày 6/9/1945, ông đã mô tả chi tiết sự khủng khiếp tại “bãi thử hạt nhân sống” với một động cơ rất đỗi đơn giản: “Tôi viết những dòng này để cảnh báo thế giới”. Từ đó cho đến khi ông qua đời trong cảnh lưu vong năm 1983 ở Sofia (Bulgaria), Burchett đã dành toàn bộ thời gian để đề cập những gì diễn ra sau lằn ranh chiến tranh ở Triều Tiên, Việt Nam. Ông đã sống ở Liên Xô, Trung Quốc, Campuchia; bị chính quyền nước nhà coi là điệp viên KGB và kẻ thù số một của Australia. Cho nên sẽ không khó tin khi biết rằng Burchett có quan hệ thân thiết với Chủ tịch Hồ Chí Minh và cố Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai. Trong chương “Chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất”, Burchett đã đề cập chi tiết cuộc gặp đầu tiên của ông với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại chiến khu Việt Bắc tháng 3 năm 1954, ít lâu trước chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử đánh bại thực dân Pháp. Lúc đó mặc dù nhiều nguồn tin phương Tây tung tin Bác Hồ đã chết, nhưng Burchett vẫn quyết tâm tìm gặp bằng được. Và hai tuần trước chiến dịch, Burchett đã hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Phản công lớn mà người Pháp nói đến là gì?”. Bác Hồ đặt ngược chiếc mũ trên bàn, đưa những ngón tay gầy guộc theo rìa bên ngoài của chiếc mũ và nói: “Tình hình thế này. Đây là những ngọn núi nơi mà lực lượng chúng tôi đang chiếm giữ. Dưới kia là thung lũng Điện Biên Phủ. Đó là nơi đóng quân của người Pháp với những đội quân thiện nghệ nhất mà họ có tại Đông Dương. Họ sẽ không bao giờ rút ra ngoài”. “Và đây chính là Stalingrad của Đông Dương?” - Burchett hỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Căn cứ vào điều kiện ở đây thì đúng như vậy. Nói khiêm tốn, thì đó là một điều gì đó giống như thế”. Trong một chương đáng nhớ khác có tên gọi là “Lửa lại cháy ở Việt Nam” (Renewed Fires in Vietnam), Burchet đã chỉ ra rất đúng rằng chỉ sau vài năm nữa cuộc chiến của nhân dân Việt Nam chống lại chế độ Sài Gòn được Mỹ ủng hộ sẽ có kết cục tương tự, giống như những gì mà Việt Minh đã làm được trong cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp và chế độ tay sai. Theo ghi nhận của Burchett, Tết Mậu Thân 1968 là chiến dịch đỉnh cao trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai: Đó là một trong những kỳ tích chiến tranh cho đến thời điểm đó. Cuộc đối đầu với người Mỹ chỉ là một ví dụ nữa trong cuộc kháng chiến lâu dài của người Việt chống lại giặc ngoại xâm: Hán, Nguyên - Mông, Pháp, Nhật, Mỹ. Những người hiểu được lịch sử Đông Dương giống như Burchett có thể nhìn thấy kết cục chắc chắn của cuộc chiến là việc ký kết hiệp định hoà bình ở Paris ngày 27/1/1973. Báo The Australian (Người Australia) ra ngày 3/12/2005 nhận xét: “Đọc những dòng hồi ức này, không ai không thể so sánh cuộc chiến của những người yêu nước Việt Nam với tình hình ở Iraq hiện nay. Trong cả hai trường hợp, ta có cảm giác người Mỹ bị mắc kẹt trong cuộc chiến không thể thắng nổi”. Không có gì đáng ngạc nhiên, khi Washington thông qua Kissinger đã thử mời Burchett làm trung gian đàm phán giữa chính quyền Nixon với Hà Nội. Năm qua, báo New York Post đã đăng tải cuộc điều tra chi tiết cho thấy, chính Kissinger đã trực tiếp ra lệnh làm ngơ quy định hạn chế phạm vi đi lại ở New York trong bán kính 40 km đối với Burchett. Cuộc gặp gỡ giữa họ diễn ra trong phòng mạch của một bác sĩ bên bữa ăn sáng. Theo nhiều tờ báo, ngay cả những người ghét cay ghét đắng quan điểm chính trị của Burchett, cũng thừa nhận rằng ông là người có duyên một cách tuyệt đối. Denis Warner - Thông tín viên lâu năm của tờ Herald Melbourne, một đối thủ của Burchet - đã dành những lời nồng ấm để nói về đối thủ của mình: “Một trong những tính cách kiệt xuất của ông ta là lòng quả cảm vĩ đại. Ông ta không bao giờ tính đến hiểm nguy nếu thấy cơ hội có tin. Ông là món quà tặng tuyệt vời đối với ngôn ngữ...”. Nhân cách của Burchett, cuộc đời và sự nghiệp của ông còn được đề cập trong bộ phim tài liệu Kẻ thù số 1 của David Bradbury - Đạo diễn từng đoạt giải Oscar. Ông nhận xét: “Burchett là người Australia vĩ đại. Ông yêu những người dân bình dị. Ông là người nhân ái. Ông thực sự tin rằng ngòi bút của ông phải được sử dụng vì mục tiêu tiến bộ xã hội”. Wilfred Burchett viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh “Cảm giác đầu tiên của tôi là sự thân mật, ấm áp và giản dị. Hồ Chủ tịch có khả năng khiến người ta thấy nhẹ nhõm ngay từ khoảnh khắc đầu tiên và trình bày những vấn đề phức tạp nhất chỉ trong vài từ và cử chỉ rõ ràng. Trong những cuộc gặp tiếp theo với nhân cách vĩ đại này, sự ấm áp, giản dị, cách thể hiện rõ ràng xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp, và sự thấu hiểu trọn vẹn chủ đề khiến ta có ấn tượng vô cùng sâu sắc. Bất cứ ai được Hồ Chủ tịch tiếp đều bình luận về những phẩm chất ấy và cao hơn hết là cảm giác của họ ngay lập tức được “ở nhà” với Người”.   Mời các bạn đón đọc Hồi ký Wilfred Burchett của tác giả Winfred Burchett.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Phải Sống - Van B. Choat
"Phải Sống"_Hành trình từ Chiến tranh đến Tự do của một bé gái mồ côi là một cuốn hồi ký kể về cuộc đời nhiều mất mát, đau thương của tác giả Vân B. Choat nhưng thay vì đầu hàng số phận, cô vẫn luôn nỗ lực để sống và vươn lên hết lần này đến lần khác. Ngôi mộ không phải là mục đích của cuộc đời. “Con sẽ sống bởi vì con là một người con gái và là một người chị, và ngôi mô không phải là mục đích của con.” (tr.221) Đối với một đứa trẻ mồ côi từ khi lên 4 trong chiến tranh, việc có thể sống sót thôi đã là một kỳ tích. Nhưng Vân Bích Choat còn làm được hơn thế nữa khi cô luôn mạnh mẽ, đầy nghị lực để không chỉ sống mà còn sống tử tế và đạt được nhiều thành công. Giờ đây, Vân viết Phải Sống như một lời khích lệ cho những ai đang cảm thấy tồi tệ trước cuộc sống khó khăn. Cuộc đời đã nợ Vân quá nhiều khi an bài cho cô một số phận là sự cộng gộp những bất hạnh của mọi đứa trẻ mồ côi nói chung và của những đứa trẻ mồ côi do chiến tranh nói riêng trên khắp thế giới này.  Những ký ức đầy ám ảnh về chiến tranh, sự đói nghèo, những trận bạo hành, lạm dụng của bác dâu, của dượng; hay trận đụng xe kinh hoàng từng hủy hoại khuôn mặt cô, . . Những “cơn ác mộng”, những Con Quái Vật ấy cứ thi nhau đổ trút xuống đời Vân, không cho cô có ít thời gian “nghỉ giữa hiệp” nào để lấy lại sức, tiếp tục chiến đấu.  Và sự ghẻ lạnh của họ hàng, sự dè bỉu, khinh rẻ của người đời dành cho trẻ mồ côi vẫn luôn song hành cùng Vân kể cả trong những khoảng lặng ngắn ngủi giữa hàng loạt biến cố. Không dừng lại ở đó, số phận lại có ý khác khi để cho một đứa trẻ với “ba ngôi sao chiến trận” xứng đáng được nghỉ ngơi tiếp tục bị dày vò bởi những trận bạo hành, sự day dứt về bà ngoại bị bỏ lại quê nhà kể cả khi Vân đã đặt chân đến Mỹ.  Và thường thì, nếu một người có tuổi thơ bất hạnh, họ sẽ được Trời “đền” lại cho một người chồng tuyệt vời, một gia đình riêng hạnh phúc. Vân cũng có một và chỉ một mối tình khiến cô có thể viết ra hẳn một cuốn tiểu thuyết lãng mạn.  Nhưng không có gì kéo dài mãi mãi, và hạnh phúc có thể biến thành nỗi đau chỉ trong một chớp mắt. Người yêu từ thời Trung học, người chồng tuyệt vời của cô sớm ra đi với căn bệnh nan y, để lại cho cô 2 đứa con trai thơ dại. Dù vậy, chưa bao giờ chúng ta thấy chút suy nghĩ từ bỏ cuộc sống nào ở người phụ nữ kiên cường này. Một mình nuôi dạy 2 con trưởng thành, cố gắng học tập, làm việc và đạt được nhiều thành công. Đó, là lời đáp trả tốt nhất của cô đối với nghịch cảnh đời mình. Không chỉ vậy, ở Vân còn có một điều khiến chúng ta khâm phục đó là cách cô nhìn cuộc đời và hành xử một cách đầy lý trí, tỉnh táo, cứng rắn nhưng không tuyệt tình, sắt đá. Trong vô vàn những tháng năm đau thương đó, Vân vẫn nhặt nhạnh ra được những mẩu kí ức hạnh phúc, yên bình hiếm hoi và lưu giữ trong tim tựa như cách cô cất giữ hình của cha mẹ cho đến tận bây giờ dẫu có những lúc tưởng chừng không biết phải đi đâu về đâu và đến cả tính mạng mình cũng không có gì bảo đảm. Cô vẫn sống, vẫn yêu thương bà ngoại và các anh em, vẫn bảo vệ em gái mình và chống trả lại nghịch cảnh một cách đầy quyết liệt, cứng cỏi.  Còn với những bàn tay từng nắm lấy tay mình, dẫu thỉnh thoảng những bàn tay ấy cũng chẳng dịu dàng gì, cô vẫn luôn biết ơn và đủ bao dung để hiểu cho những nỗi đau, khó khăn đã biến họ thành Quái Vật dù họ không muốn thế. Không hận người, không trách đời, không đổ lỗi cho hoàn cảnh và luôn cố gắng sống tốt với tất cả sự mạnh mẽ, nghị lực, sự lạc quan là những gì chúng ta có thể tìm được trong Phải Sống - Hành trình từ Chiến tranh đến Tự do của một bé gái mồ côi.  Nếu cha mẹ vẫn còn bên chúng ta hay ít nhất là còn có một người để yêu thương, một người thân hay một mái nhà để nương náu thì chúng ta đã quá may mắn và đừng tuyệt vọng, hãy xốc lại tinh thần để đương đầu với mọi khổ đau, khó khăn trong đời. "Phải sống", vì chết chưa bao giờ là mục đích của đời người! Mời các bạn đón đọc Phải Sống của tác giả Van B. Choat.
Ngày Hôm Qua... Đã Từng (My Life)
“Mỗi người trên thế giới này đều có một ai đó lặng lẽ yêu thương ở đâu đó, có lúc ta sẽ nhận ra, đôi lúc lại chẳng hề hay biết người ấy, có bao giờ bạn nhìn lại phía sau, có bao giờ bạn biết rằng ai đó vừa đi ngang qua cuộc đời bạn… như cách mà họ đến.” Đó là điều mà tác giả trẻ Nguyễn Moon luôn tâm niệm. Với Nguyễn Mon, “Ngày hôm qua… đã từng” (My Daisy) là cuốn hồi ký, nhưng có thể với một số bạn đọc, cuốn sách này như là tiểu thuyết với rất nhiều cung bậc cảm xúc của một người trẻ đã từng trải qua. Có nước mắt, có máu, có những hờn ghen, những toan tính và có cả những yêu thương chân thành.  Nếu cuốn một “My Life” là câu chuyện tình đẹp nhưng dang dở của hai người trẻ, để lại trong lòng bạn đọc cảm giác nuối tiếc, day dứt khiến người ta muốn khóc, thì với cuốn thứ hai “My Daisy” lại là một màu trắng trinh nguyên của thứ tình cảm nhẹ nhàng, thầm kín nhưng đẹp đến nao lòng, hay đâu đó là vẻ đep của một chuyện tình đơn phương. Để rồi cuốn ba “My Angel” là một câu chuyện bình dị với muôn vàn câu chuyện trong đời thường.  Với lời kể dung dị, thân thuộc, bộ ba cuốn sách trong “Ngày hôm qua… đã từng” sẽ kể cho bạn về tình yêu thương, cũng như sự bình yên khi vượt qua những giông bão của cuộc đời. Và tình yêu là món quà dành cho những ai dũng cảm sống với nhịp đập trong trái tim mình.  Mời bạn đón đọcNgày Hôm Qua... Đã Từng (My life) của Tác giả: Nguyễn Mon . Review Thụy Oanh: Yêu thương và cùng nhau đi hết quãng đường dài rộng của cuộc đời là hai câu chuyện rất khác nhau. Có những mối tình đẹp vì nó đã trở thành hồi ức. Nếu tuổi trẻ là ánh cầu vồng thì tình yêu là màu đỏ chói chang trong bảy sắc màu rực rỡ ấy. Người chúng ta yêu năm 20 tuổi có thể không cùng ta đi hết cuộc đời, nhưng nếu đã từng thật lòng với nhau thì những yêu thương vẫn sẽ còn ở đó, dù chẳng vẹn nguyên. Tiểu thuyết Ngày hôm qua… đã từng của tác giả Nguyễn Mon giống như một điệu nhạc da diết về những năm tháng thanh xuân. Người ta gặp gỡ nhau, phải lòng nhau và mơ về hạnh phúc ở tương lai. Tình yêu nếu chỉ có hai người thì đơn giản lắm. Thế nhưng, cuộc sống này phức tạp hơn rất nhiều. Bởi thế, tình yêu không còn là chuyện riêng của đôi lứa. Khi con tim loạn nhịp trên mảnh đất Sài Gòn phồn hoa Nhân vật chính của tác phẩm là Mon một chàng trai miền tây lên Sài Gòn học đại học. Anh chàng đã đặt chân đến thành phố này với tất cả sự háo hức của tuổi đôi mươi. Xa nhà, xa vòng tay của mẹ là cơ hội tốt để trưởng thành. Vừa lên thành phố, Mon đã sốt sắng tìm việc làm thêm. Anh chàng may mắn xin được chân chạy bàn ở quán cafe Windown. Nơi đây, chính là điểm bắt đầu cho chuyện tình của Mon và Thy. Thy là một cô gái có vẻ ngoài xinh xắn, pha nét mong manh, dễ khiến những chàng trai rung động và muốn che chở, trong đó có Mon. Nhưng sự thật đôi khi khác rất nhiều với những thứ mà chúng ta mơ mộng. Hóa ra, Thy mới là người che chở và chăm sóc cho Mon. Không may, ở quán cafe Windown xảy ra xô xát, Mon không may bị thương ở tay và chảy rất nhiều máu. Thy không ngần ngại xé ngay chiếc váy cô đang mặc để băng bó cho anh.  Đưa Mon đến bệnh viện, mà lòng Thy nóng như lửa đốt. Cô còn lo lắng hơn cả người bị thương. Suốt thời gian Mon nằm viện, Thy luôn ở bên anh không rời, cô cẩn thận tỉ mỉ chăm sóc cho người mình yêu từng chút một. Hóa ra, cô gái nhỏ dễ thương hơn vẻ ngoài lạnh lùng mà Mon vẫn thường thấy. Tình yêu nảy nở trong lòng họ một cách rất tự nhiên, như mầm cây non được tắm mát bằng cơn mưa rào của Sài Gòn. Họ đã bên nhau cùng cười đùa và tận hưởng những phút giây được gọi là hạnh phúc. Tình yêu ấy, cũng có những giận hờn, hiểu lầm và trách móc. Những thử thách cứ thế đến rồi đi, để người ta biết rằng họ thương ai đó thật lòng! Nhưng tình yêu vốn không phải là câu chuyện của riêng hai người. Nếu được như vậy, thì trên đời này đã không có những kẻ phải dằn vặt, khổ sở vì tình ái. Giữa Thy và Mon có quá nhiều khoảng cách: tiền bạc, địa vị xã hội, gia cảnh, xuất thân…. Giữa những khúc mắc và cách ngăn ấy, Quang xuất hiện. Anh ta trưởng thành và giàu có. Người đàn ông ấy có thể chăm sóc cho Thy tốt hơn Mon rất nhiều. Liệu anh có thể buông tay và cô có thể chấp nhận. Tình yêu đâu phải là thứ chỉ có được và mất, đúng và sai?... Tình yêu cho ta nhiều thứ hơn cảm xúc Dõi theo câu chuyện tình của Mon và Thy trong Ngày hôm qua… đã từng, người đọc, đặc biệt là các bạn trẻ, sẽ nhận ra nhiều điều. Tác phẩm không chỉ là mối tình đầy màu sắc của những năm tháng thanh xuân. Tình yêu dạy cho ta nhiều thứ hơn là chỉ nuông chiều cảm xúc. Và bài học lớn nhất của quãng đời tươi đẹp ấy, có lẽ là sự trưởng thành. Ở bên một người, yêu thương và che chở cho họ đồng nghĩa với việc chúng ta phải mạnh mẽ. Thanh xuân sẽ trọn vẹn hơn nếu chúng ta có ai đó ở bên để cùng chia sẻ những vui buồn. Thế nhưng, những năm tuổi trẻ của Mon, Thy, Hân, Phương, Phong hay Duy không chỉ có tình yêu. Họ còn có ước mơ cùng bao nhiêu hoài bão. Chúng ta không thể chỉ nói suông về tương lai, hãy chuẩn bị kĩ càng cho những ngày tháng sau này. Có như vậy, hạnh phúc mới có thể được bảo vệ. Yêu thôi chưa đủ, trong tình ái luôn cần đôi phần dũng cảm. Bên cạnh những cung bậc cảm xúc đa dạng của tình yêu, Nguyễn Mon còn đem đến cho độc giả một bức tranh sống động về cuộc sống của những bạn trẻ rời quê lên thành phố lập nghiệp. Họ ra đi để trưởng thành và tìm kiếm cho mình những cơ hội mới. Để có được chúng, người ta đã phải đánh đổi cả thanh xuân, máu và nước mắt.
Hồi Tưởng Về Cha Tôi Hồ Học Lãm - Hồ Mộ La
Chí sĩ yêu nước Hồ Học Lãm sinh năm 1884 tại Quỳnh Lưu - Nghệ An. Những năm đầu thế kỷ XX, ông cùng một số người trẻ tuổi sớm đi theo tiếng gọi Đông Du của cụ Phan Bội Châu, xuất dương tìm đường cứu nước. Tuy không phải là một Đảng viên Cộng sản nhưng chí sĩ Hồ Học Lãm đã sống như người Cộng sản chân chính. Suốt đời chiến đấu, dâng hiến tất cả cho lý tưởng cao quý mà mình đã lựa chọn là giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc. Tuy ra đi khi nghiệp lớn chưa thành nhưng Hồ Học Lãm vẫn mãi là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước mà mỗi thế hệ hôm nay cần soi vào, học tập. “Hồi Tưởng Về Cha Tôi Hồ Học Lãm” là những dòng hồi ức chân thực và xúc động của bà Hồ Mộ La về người cha kính yêu của mình - chí sĩ Hồ Học Lãm. Thông qua những câu chuyện nhỏ, bạn đọc sẽ có được cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về chí sĩ Hồ Học Lãm. Đồng thời các bạn sẽ biết thêm nhiều thông tin thú vị về những thanh niên Việt Nam yêu nước đã đi theo lời kêu gọi của cụ Phan Bội Châu trong phong trào Đông Du.  *** Từ nhiều chục năm nay, tôi rất muốn tự tay viết một cái gì đó về cha mình - Chí sĩ Hồ Học Lãm - người đã cùng một số người trẻ tuổi sớm theo tiếng gọi Đông Du của cụ Phan Bội Châu xuất dương tìm đường cứu nước vào những năm đầu thế kỷ XX. Nay đã quá tuổi "cổ lai hy" (tôi sinh năm 1930), với đôi mắt mờ lòa, ước nguyện đó của tôi mới thành hiện thực. Cuốn sách nhỏ này là những hồi tưởng của tôi về người cha kính yêu đã quá cố, những hồi tưởng không hoàn chỉnh và có phần lộn xộn. Ở tuổi ngoài bảy mươi, tôi cố gắng để không giấu diếm những cảm xúc và những suy nghĩ thật của mình. Biết có ai đó chăng thương cảm với kẻ ra đi tìm đường cứu nước những năm đầu thế kỷ XX, thời kỳ Tổ quốc ta lầm than, thời kỳ đế quốc thực dân đang hoành hành trên những miền đất hoang sơ lạc hậu ở Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam... Kẻ ra đi, và suốt 37 năm trời ở quê người đất khách, ông sống giữa những người xa lạ "Đồng sàng dị mộng"; chỉ muốn tung hoành mà lực bất tòng tâm. Cuối cùng cha tôi phải nằm bỏ xương quê người, phải ngậm ngùi đau khổ vì mình chưa làm được gì nhiều cho công cuộc cứu nước, cứu nòi và không được gặp lại người mẹ mà ông vô cùng yêu thương và kính trọng - Bà đã là ngọn đuốc soi đường, là tấm gương sáng cho cha tôi noi theo và cố gắng làm những việc có ích cho đời, cho nhân dân và cách mạng hai nước Việt Nam - Trung Quốc. Cha tôi không phải là đảng viên cộng sản, nhưng ông sống như người cộng sản chân chính theo tiêu chí của chủ nghĩa Mác. Suốt cuộc đời ông đã chiến đấu, dâng hiến tất cả cho lý tưởng cao quý mà ông đã lựa chọn. Tôi rất tự hào và cảm phục cha mình. Những dòng cuối của "Hồi tưởng" này tôi phải viết bằng bút dạ ngòi to với sự trợ giúp của kính phóng đại. Sau gần ba năm, giờ khi đã 80 tuổi mụ tôi mới hoàn thành ý nguyện. Một sự hồi tưởng ít vui sướng, nhiều đau đớn, dường như cả cảm xúc nữa cũng đã quá sức chịu đựng của tôi. Tôi biết ngày tôi ra đi đã rất gần, ngày đó tôi sẽ tìm thấy cha, sẽ gặp chị và mẹ ở thế giới bên kia, thế giới của Tâm linh - Siêu vật chất "... Sắc bất dị không, không bất dị sắc...". Tất cả tôi xin dâng tặng hương hồn cha tôi - Chí sĩ Hồ Học Lãm. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn bè, người thân đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi hoàn thành cuốn hồi tưởng này. Nguyên Tiêu Kỷ Sửu HỒ MỘ LA Mời các bạn đón đọc Hồi Tưởng Về Cha Tôi Hồ Học Lãm của tác giả Hồ Mộ La.
Gió Ơi, Cứ Thổi - Kim Hye Jung
Lấy bối cảnh là một đất nước khác - đất nước Trung Quốc - chứ không phải mảnh đất Hàn Quốc quen thuộc như bao tiểu thuyết đương thời, tác phẩm đã đưa đến cho nền văn học hiện đại Hàn một luồng gió mới thật lạ lẫm và cuốn hút. Tác phẩm viết về chuyến bộ hành của những cô gái đến “con đường tơ lụa” của đất nước Trung Hoa. Đó là Lee Eun Sung - một đứa trẻ ưa bạo lực, thích dùng nắm đấm để giải quyết mọi việc, từ lâu đã trở thành nỗi ám ảnh của bạn bè trong lớp. Là cô bé Bo Ra bị bọn trẻ cô lập, mỗi khi bị ức hiếp, bắt nạt, cô bé lại phải ăn cắp một món đồ nào đó của bọn bạn thì mới cảm thấy lòng nhẹ nhõm. Là Mi Ju, người chị dẫn đầu cho cuộc hành trình mang nét chín chắn vì đã từng trải qua một tuổi trẻ đầy nông nổi, cũng từng in dấu trên con đường đầy gian khổ này. Hai đứa trẻ đó, thay vì phải vào Trung tâm giáo dục trẻ vị thành niên, chúng đã chọn chuyến bộ hành dài dằng dặc trên “con đường tơ lụa” dài những 1200km. Với hình dung ban đầu về một con đường tơ lụa đẹp và mềm mại, một địa danh du lịch đáng để đến một lần trong đời. Cô bé Eun Sung đã bị thất vọng tràn trề bởi đến cả trong mơ cô bé ấy cũng chưa từng nghĩ mình phải cuốc bộ mỗi ngày trên con đường hun hút đầy cát và gió bụi trong thời tiết nóng nực và khô hạn của vùng sa mạc và sự lạ lẫm với những món ăn không hợp khẩu vị. Đã có những lúc nản định bỏ cuộc, đã có những giây phút muốn quay trở lại, thà đối mặt với sự mất tự do, sự giáo dục nghiêm khắc của Trung tâm, nhưng mỗi bước đi lại là một bước trưởng thành, một sự mở mang tầm nhìn về cuộc sống và những suy nghĩ, tình cảm đã thay đổi như một “người lớn” thực thụ. Tác phẩm có sự đan xen, hòa quyện tuyệt vời giữa quá khứ và hiện tại, mạch truyện đi về tự nhiên giữa một bên là ký ức tuổi thơ, một bên là những suy nghĩ và trải nghiệm ở cuộc sống hiện tại. Sau chuyến hành trình đầy gian khổ ấy, cô bé Eun Sung đã thấu hiểu và có ý đón nhận tình cảm của người mẹ mà bấy lâu nay mình từng căm ghét, xa lánh, đã thấy được sai lầm của bản thân khi trước đây luôn dùng cú đấm để giải quyết tất cả mọi việc như một kẻ côn đồ. Còn Bo Ra, một người đã từng trốn chạy, không muốn quay về mảnh đất mà mình bị cô lập ấy cuối cùng cũng đã đi hết cuộc hành trình và trở về. Dõi theo từng bước chân nhân vật, người đọc như thấy được sự nông nổi, bồng bột tuổi trẻ của mình ở trong đó, thấy chuyến đi như một phép nhiệm màu đã làm thay đổi hoàn toàn những suy nghĩ và nhận thức của những đứa trẻ đã từng mắc lỗi. Xét cho cùng, tác phẩm đã xây dựng nên một phương pháp giáo dục trẻ vị thành niên hoàn toàn mới và hiệu quả trong xã hội hiện đại. Với văn phong  nhẹ nhàng, trong sáng và đậm chất tự nhiên của hội thoại đời thường, tác giả Kim Hye Jeong đã khiến cho độc giả tò mò ngay từ phần đầu của câu chuyện. Hơn thế, mỗi bước đi của mạch truyện dường như men theo con đường tơ lụa để đến với từng vùng miền khác nhau, và rồi từng nét  Mời các bạn đón đọc Gió Ơi, Cứ Thổi của tác giả Kim Hye Jung.