Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đóa Hồng Quỷ Quyệt

Phần tiếp theo của loạt series trinh thám ăn khách bậc nhất Vườn Bướm Đêm Được độc giả đánh giá bằng những cảm xúc chân thật nhất: lôi cuốn, ám ảnh đến nghẹt thở. Bốn tháng sau vụ nổ ở Vườn, nơi giam giữ những người phụ nữ trẻ được biết đến với cái tên Bướm Đêm, các đặc vụ FBI Brandon Eddison, Victor Hanoverian và Mercedes Ramirez vẫn kiên trì giải quyết hậu quả, giúp những người sống sót trong quá trình thích nghi với cuộc sống bên ngoài. Khi mùa đông sắp kết thúc, những nàng Bướm Đêm có thời gian chữa bệnh dài và ấm áp hơn ở phía trước. Nhưng đối với các đặc vụ, khi băng tuyết tan có nghĩa là một điều khủng khiếp sẽ xảy đến: một lời đảm bảo ớn lạnh rằng ở nơi nào đó trên đất nước này, một phụ nữ trẻ khác sẽ chết trong một nhà thờ với vết rạch cổ họng và cơ thể được bao quanh bởi hoa. Em gái của Priya Sravasti đã trở thành nạn nhân của kẻ sát nhân nhiều năm trước. Bây giờ cô ấy và mẹ cô ấy chuyển nhà vài tháng một lần, hy vọng vào một khởi đầu mới. Nhưng khi cô ấy sa vào cái bẫy của kẻ điên, cuộc đi săn diễn ra theo chiều hướng mới. Chỉ với sự giúp đỡ của Priya, kẻ sát nhân mới có thể bị vạch trần, nhưng liệu hy vọng mãnh liệt có thôi thúc cô ấy đặt cuộc sống của mình vào tình thế hiểm nguy? *** Dot Hutchison là tác giả cuốn A Wouned Name (tạm dịch: Cái tên bị thương tổn), một tiểu thuyết về người trẻ dựa trên tác phẩm Hamlet của Shakespeare, và tiểu thuyết trinh thám người lớn Vườn Bướm Đêm. Với kinh nghiệm làm việc tại một trại Hướng đạo sinh nam, một cửa hàng đồ thủ công, một hiệu sách và một Hội chợ Phục hưng 9vowis tư cách là một quân cờ người), Hutchison tự hào mình luôn giữ được niềm vui như thiếu nữ trong nội tâm của mình. Cô yêu các cơn bão, truyện thần thoại, lịch sử và các bộ phim có thể và nên được xem đi xem lại. *** Tên nàng là Darla Jean Carmichael và nàng là mối tình đầu của anh. Nhưng anh thật sự vẫn chưa biết gì về nàng đâu. Điều duy nhất mà anh biết, trong ngày xuân tươi đẹp này, chỉ là dường như ngay cả Chúa cũng dốc tâm dốc sức làm nàng trở nên lộng lẫy hơn. Nàng là vẻ đẹp thuần túy, chân thật, không giả tạo cũng chẳng phô trương; và đó là lý do vì sao anh yêu nàng. Mái tóc vàng óng ả của nàng đổ những lọn sóng xuống tấm lưng và nàng đang mặc lại chiếc váy trắng Phục sinh kiểu cổ của mình, thậm chí còn mang găng tay đăng ten và đội mũ kết đăng ten. Anh đã từng chiêm ngưỡng một tuyệt tác nào đẹp đến dường này chưa? Thuần túy tới dường này chưa? Và ngay cả thiên nhiên hôm nay cũng đồng ý với anh. Dọc hai bên con đường đầy bụi và không một bóng cây dẫn tới nhà thờ, cỏ mọc xanh rì lẫn với những bụi thủy tiên cả vàng cả trắng, như thể chúng không hề có ý định vươn cao hơn để với tới Darla Jean. Kể cả những đóa cúc đại cũng chỉ mang hai sắc vàng, trắng, và từ bấy đến nay chúng chỉ như những dải ruy băng tô điểm cho hoa oải hương tím nhẹ nhàng chạy xuyên qua những cánh đồng. Nhưng năm nay chỉ có Darla Jean mà thôi. Ngoại trừ… đó không hoàn toàn là Darla Jean. Tay nàng vòng qua cánh tay của một gã trai trẻ, bấu lấy khuỷu tay gã như thể tay nàng thuộc về nơi ấy, nhưng thật sự nó không dành cho nàng. Bàn tay nàng không thuộc về nơi đó vì gã kia không phải anh. Darla Jean là của anh. Nàng luôn là của anh. Nàng chưa từng cần anh nói với nàng điều này, bản thân nàng luôn biết nàng là của anh, theo cách mà nàng nên thế, bởi hai người sinh ra là dành cho nhau, bất kể người khác có nói gì nếu biết về điều này. Giận dữ, tan nát, anh theo họ tới nhà thờ nhỏ xây bằng gạch, tựa lưng vào hằng hà sa số những cây hoa đang thì rực rỡ, khiến cho nhà thờ trông như một mũi kim. Bằng cách nào đó, mặc dù cảm xúc đang chạy đua dồn dập trong hai tai anh như một nhịp tim khác, anh vẫn có thể cảm nhận được những điều khác. Bàn tay còn lại của gã trai kia cầm một cái lẵng chứa những kỷ vật mà mẹ nàng muốn nàng mang tới lễ đường, mỗi món được gói lại cẩn thận để bán nhằm quyên góp cho nhà thờ xây lại phần ngói mới trước khi mùa bão tới. Hắn cứ tựa vào nàng mỗi khi nàng cười. Còn nàng thì đang cười rất nhiều. Nhưng những thanh âm đó là của anh, giống như mọi thứ thuộc về nàng, chúng là của anh, làm sao nàng lại có thể chia sẻ chúng với một người khác cơ chứ? Tiếng cười ấy đã luôn vỗ về anh, xoa dịu cơn giận dữ đang bùng nổ trong anh. Nhưng giờ đây mỗi khi nghe thấy tiếng cười của nàng - lanh lảnh và mềm mại, tựa như những ngọn gió trên mái hiên nhà sau - anh đều cảm thấy đau nhói trong lồng ngực, một vọng âm nhói cả óc. Họ cùng tiến vào lễ đường và chỉ một hai phút sau, anh đã tìm thấy một ô cửa sổ nơi anh vừa có thể nhìn thấy họ rõ ràng, vừa tránh bị phát hiện. Nàng không nên biết anh đang ở đó để chứng kiến nàng đã nợ anh những gì và lẽ ra nàng nên cư xử như thế nào. Bên trong lễ đường, những mảng tối sáng của ánh mặt trời rực rỡ ngoài kia đan vào nhau tạo nên một khoảng không mơ hồ khiến anh không thể biết điều gì đang diễn ra trong đó. Nhưng rồi anh nhận ra. Tất cả những gì anh thấy là máu. Gã đang hôn nàng, hay nàng đang hôn gã, hai gương mặt nghiêng về phía nhau, còn cơ thể hai người chỉ cách nhau có một gang tay. Đó có lẽ là nụ hôn đầu của gã. Anh biết đó là nụ hôn đầu của nàng. Nụ hôn mà lẽ ra phải thuộc về anh - nụ hôn anh đã đợi chờ suốt những năm tháng qua. Nhưng thật kỳ lạ, anh lại đang chúc phúc cho nàng, bởi anh biết rằng nàng quá thuần khiết, quá trong sáng và không đáng bị những hờn ghen vớ vẩn bôi nhọ. Nàng quả thật quá thuần khiết. Quá trong sáng. Anh trượt xuống bức tường bao ngoài nhà thờ, những mảnh gạch ngói thô ráp cào xước và xuyên qua áo quần, đâm vào da thịt anh đau nhói. Anh rùng mình - có lẽ anh đang khóc. Làm sao nàng có thể? Làm sao nàng có thể làm điều đó cho chính nàng, và cho anh? Làm sao nàng có thể để chính mình bị bôi nhọ? Bây giờ nàng chẳng có giá trị gì, chẳng khác chi những cô gái điếm ngoài kia, lúc nào cũng phô bày cơ thể, nụ cười cùng ánh mắt vừa độc ác vừa lọc lõi của mình. Thế mà, anh những tưởng đã có thể tôn thờ nét tinh khôi của nàng cho tới hơi thở cuối cùng. Nhưng anh vẫn yêu nàng. Làm sao anh có thể vẫn yêu nàng cơ chứ? Tình yêu anh dành cho nàng đủ lớn để cứu rỗi nàng, ngay cả khi anh phải cứu nàng khỏi chính nàng. Anh nghe thấy tiếng cậu bé rời đi, một lời xin lỗi buột khỏi đôi môi cậu - cậu phải rời đi để giúp những người anh em chuẩn bị sẵn sàng. Anh nghe thấy tiếng cha xứ vui vẻ chào Darla Jean. Cha nói với nàng rằng cha phải vào thị trấn để mua cốc đựng nước chanh - và hỏi liệu nàng sẽ ổn khi ở một mình chứ. Đương nhiên nàng sẽ ổn. Nàng lớn lên trong chính nhà thờ này. Nơi đây là mái ấm an toàn của nàng. Nàng chẳng thể tưởng tượng ra thế giới ngoài kia, nơi không phải lúc nào mọi thứ cũng thật, cũng đúng. Trong khi nhìn theo bóng cha xứ đi xuống phía con đường, xa dần, xa dần, anh bỗng nghe thấy nàng cất tiếng hát. Những bài hát của nàng cũng là của anh và không ai khác có thể nghe chúng lúc này. Nàng chào anh bằng một nụ cười thành tiếng khi anh đi vào lễ đường, đôi mắt nàng bừng sáng. Anh không thể gọi đó là chân thật. Không còn chân thật nữa. Không hề chân thật khi mà giờ đây nàng đã mất đi sự trong sáng. Nụ cười của nàng trở nên ngượng ngùng khi anh tới gần. Nàng có đủ dũng khí để hỏi anh rằng vấn đề ở đây là gì. Anh biết anh chẳng có nhiều thời gian - từ đây vào thị trấn chỉ chưa tới hai dặm và cha xứ thường xuyên đi bộ tới đó - nhưng anh có đủ thời gian để nói cho nàng nghe. Anh sẽ nói cho nàng nghe mọi điều. Anh đã hứa sẽ ở bên nàng cả cuộc đời, anh sẽ luôn ở đó khi nàng cần. Anh đã hứa cho nàng cả thế giới. Nhưng nàng đã ném lời hứa đó đi. Đó hoàn toàn là lỗi của nàng. Anh đã bỏ chạy thật nhanh, trong lòng vẫn sục sôi những tổn thương và phản bội. Darla Jean ở lại phía sau, nằm dài trên tảng đá, chiếc váy Phục sinh tan tác và rách vụn, như vừa được lôi lên từ một bể nước đỏ. Những đóa thủy tiên anh ngắt cho nàng - một món quà và hãy xem nàng đã làm gì với nó kìa - đang nằm la liệt xung quanh nàng. Đôi mắt nàng mở to và trống rỗng, một tiếng vang của nỗi hoang mang, và anh đã trao cho nàng một nụ cười nham nhở mà nàng có thể chia sẻ cho cả thế giới nếu nàng muốn. Nàng không thể cười, không thể hát, không thể phá hủy những thứ là của anh nữa. Nàng không thể làm gì nữa. Có lẽ đây không phải là điều anh mong muốn. Có lẽ lưỡi dao săn mồi của anh đã trượt khỏi tay và đâm quá sâu. Có lẽ anh đã quên rằng có quá nhiều máu gần với bề mặt. Có lẽ anh đã hành động đúng như những gì anh mong muốn. Sau tất cả nàng cũng chỉ là một cô gái điếm. Giờ đây Darla Jean đã chết. Anh không hề biết nàng là mối tình đầu của anh. Có điều này anh chưa biết, nàng cũng không phải là người cuối cùng của anh. Mời các bạn đón đọc Đóa Hồng Quỷ Quyệt của tác giả Dot Hutchison & Hoài Thu (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cái Chết Giữa Thinh Không - Agatha Christie
Cái Chết Giữa Thinh Không (Cái chết trên mây), Nguyên tác: Death in the Clouds/ Death in the Air. Là tập 12 trong series về Thanh Tra Hercule Poirot. Trên chuyến phi cơ hạng sang Prometheus nhắm hướng bay đến phi trường Croydon, thám tử Hercule Poirot theo thói quen nghề nghiệp đưa mắt theo dõi từng hành khách trên máy bay. Trước tiên là nàng Jane Grey đang ngồi thu mình rụt rè... còn Norman Gale đăm chiêu nghĩ ngợi... đến anh chàng nhà khảo cổ trẻ tuổi Jean Dupont vừa nhổm người đứng dậy giơ tay đập chết con o­ng vò vẽ bay vù vù trên đầu mọi người. Mãi đến lúc phát hiện Madame Giselle ngồi chết ở dãy ghế phía sau khoang tàu, thám tử Hercule Poirot mới nhận ra còn một con o­ng khác nữa, chính là một mũi tên tẩm độc dùng ống xì đồng thổi bay đi.  Tên của Hercule Poirot được lấy theo hai nhân vật thám tử khác là Hercule Popeau của nhà văn Marie Belloc Lowndes' và Monsieur Poiret của Frank Howel Evans trong đó Poiret là một thanh tra cảnh sát người Bỉ đã nghỉ hưu và sống ở Luân Đôn. Hercule Poirot xuất hiện lần đầu trong tiểu thuyết trinh thám đầu tay của Agatha Christie Vụ án bí ẩn ở Styles (The Mysterious Affair at Styles) xuất bản năm 1920. Hercule Poirot bắt đầu thực sự nổi tiếng sau khi tiểu thuyết Vụ ám sát Roger Ackroyd (The Murder of Roger Ackroyd) được Agatha Christie cho xuất bản năm 1926, sau đó nữ nhà văn còn cho ra đời nhiều tiểu thuyết xuất sắc khác về Poirot như Án mạng trên chuyến tàu tốc hành Phương Đông (Murder on the Orient Express), The ABC Murders (1935), Cards on the Table (1936) hay Five Little Pigs (1942). Lần xuất hiện cuối cùng của Poirot là trong tiểu thuyết Thám tử rời sân khấu (Curtain: Poirot's Last Case) xuất bản năm 1975 chỉ một năm trước khi Agatha Christie qua đời. Sau khi Thám tử rời sân khấu được xuất bản, tờ New York Times trong số báo ra ngày 6 tháng 8 năm 1975 đã có một bài điếu văn với tựa đề "Hercule Poirot is Dead; Famed Belgian Detective" ("Hercule Poirot đã chết; Thám tử người Bỉ danh tiếng"), Poirot là nhân vật giả tưởng duy nhất cho đến nay có được vinh dự này. Mặc dù Hercule Poirot là nhân vật xuất hiện nhiều nhất trong số các tiểu thuyết của Agatha Christie nhưng ngày từ năm 1930 nhà văn đã bộc lộ sự chán ngán với nhân vật này, tuy nhiên bà vẫn tiếp tục sáng tác các tiểu thuyết mới xoay quanh viên thám tử người Bỉ vì theo Christie thì nhiệm vụ của nhà văn là sáng tác ra những gì công chúng yêu thích, và Poirot lại là nhân vật được độc giả hết sức yêu mến. *** Agatha Christie sinh năm 1890 tại Torquay, Anh. Cha bà tên là Frederick Miller, nên tên khai sinh của bà là Agatha Miller. Hồi còn nhỏ, Agatha không được tới trường mà chỉ được gia đình thuê gia sư về dạy dỗ tại nhà.    Là một đứa trẻ nhút nhát, khó có thể diễn tả chính xác ý kiến của mình, ban đầu bà tìm đến âm nhạc như một cách giải tỏa tâm sự và sau này là viết sách. Năm 1914, bà kết hôn với Archie Christie, một phi công chiến đấu. Trong khi đức lang quân bận rộn chiến đấu ngoài chiến trường thì bà làm y tá trong bệnh viện. Chính trong thời kỳ này, ý tưởng viết tiểu thuyết trinh thám đã nảy sinh trong tâm trí bà. Chỉ một năm sau bà đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Những bí ẩn vùng Styles, nhưng phải tới 5 năm sau nó mới được xuất bản (1920). Agatha Christie được mọi người tôn vinh là Nữ hoàng truyện trinh thám. Trong suốt cuộc đời mình, bà đã sáng tác 66 tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn, kịch và hàng loạt tiểu thuyết tình cảm lãng mạn với bút danh là Mary Westmacott. Vở kịch Chiếc bẫy chuột của bà có lẽ là vở kịch trinh thám hay nhất thế giới. Một số tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim, nổi bật là bộ phim Murder on the Orient Express (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) đã đoạt giải thưởng Hàn lâm năm 1974. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn 100 thứ tiếng.    Trong suốt cuộc đời mình, nữ nhà văn Agatha Christie luôn căm ghét bạo lực và máu. Bà thường thú nhận rằng không biết gì về những công cụ giết người thông thường. Thậm chí bà cũng chưa từng một lần tiếp xúc với một kẻ giết người. Mời các bạn đón đọc Cái Chết Giữa Thinh Không (Cái chết trên mây) của tác giả Agatha Christie.
Cái Bẫy Chuột - Agatha Christie
Tính đến năm 2007, Vở kịch The Mousetrap (Cái bẫy chuột) của Agatha Christie hiện đang giữ kỷ lục vở kịch được công diễn lâu nhất trong lịch sử sân khấu London, ra mắt lần đầu tại rạp Ambassadors Theatre ngày 25 tháng 11 năm 1952 và vẫn tiếp tục được diễn cho đến nay với trên 20.000 buổi diễn. Nội dung của nó kể về một vụ án mạng có thật, từng gây chấn động Vương quốc Anh vào năm 1945. Chiến tranh thế giới thứ hai, Vương quốc Anh là một trong những đế quốc tham chiến sớm nhất. Cho đến ngày hiệp ước đình chiến được các bên ký kết, tổng thiệt hại về người của đảo quốc sương mù cho cuộc chiến này là 320.000 người. So với những quốc gia tham chiến khác như Liên Xô, Đức, Ba Lan… thì con số này rất "nhỏ". Thế nhưng, chỉ tính riêng tại Vương quốc Anh, thì con số này lớn vô cùng. Ngày 9/1/1945, cậu bé Dennis O’Neill - 13 tuổi bị phát hiện đã chết trong tình trạng thể chất vô cùng kinh khủng. Cậu bé gần như chỉ còn một bộ da bọc xương, cơ thể bầm dập những vết đòn roi, vết đòn cũ chưa mờ thì đã bị che lấp bởi những trận đòn kế tiếp. Dennis và em trai Terence - 11 tuổi, được một đôi vợ chồng trung niên nuôi nhận ở một nông trại hẻo lánh tại Shropshire. 13 giờ chiều, mẹ nuôi của Dennis - bà Esther Gough gọi điện báo với bác sỹ rằng Dennis đã ổn định, sức khỏe đang hồi phục. Thế nhưng đến 15h cùng ngày, khi vị bác sỹ đến nông trại, Dennis đã chết. Và theo khám nghiệm tử thi cũng như kết luận từ các bác sỹ, Dennis đã chết nhiều giờ trước đó. Nước Anh một phen chấn động về cái chết của Dennis. Thời điểm ấy, báo chí xứ sở sương mù chỉ đưa tin về những chiến thắng của quân đội Anh trước phe phát-xít, về hàng nghìn kẻ thù bị tiêu diệt trong ở mỗi chiến trường, về những thiệt hại của người Anh trong cuộc chiến. Vậy nhưng, hình ảnh về cái chết thương tâm của Dennis O’Neill vẫn khiến tất cả phải ngậm ngùi. Kết quả khám nghiệm tử thi gây sốc với tất cả. Dennis bị trụy tim do bị đánh quá mạnh vào lồng ngực. Cậu bé bị giết, chứ không phải vì chết đói nữa. Dennis chết, chỉ 2 ngày trước sinh nhật tuổi 13. Và phải có kẻ phải chịu trách nhiệm cho tội ác này. *** Agatha Christie sinh năm 1890 tại Torquay, Anh. Cha bà tên là Frederick Miller, nên tên khai sinh của bà là Agatha Miller. Hồi còn nhỏ, Agatha không được tới trường mà chỉ được gia đình thuê gia sư về dạy dỗ tại nhà.    Là một đứa trẻ nhút nhát, khó có thể diễn tả chính xác ý kiến của mình, ban đầu bà tìm đến âm nhạc như một cách giải tỏa tâm sự và sau này là viết sách. Năm 1914, bà kết hôn với Archie Christie, một phi công chiến đấu. Trong khi đức lang quân bận rộn chiến đấu ngoài chiến trường thì bà làm y tá trong bệnh viện. Chính trong thời kỳ này, ý tưởng viết tiểu thuyết trinh thám đã nảy sinh trong tâm trí bà. Chỉ một năm sau bà đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Những bí ẩn vùng Styles, nhưng phải tới 5 năm sau nó mới được xuất bản (1920). Agatha Christie được mọi người tôn vinh là Nữ hoàng truyện trinh thám. Trong suốt cuộc đời mình, bà đã sáng tác 66 tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn, kịch và hàng loạt tiểu thuyết tình cảm lãng mạn với bút danh là Mary Westmacott. Vở kịch Chiếc bẫy chuột của bà có lẽ là vở kịch trinh thám hay nhất thế giới. Một số tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim, nổi bật là bộ phim Murder on the Orient Express (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) đã đoạt giải thưởng Hàn lâm năm 1974. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn 100 thứ tiếng.    Trong suốt cuộc đời mình, nữ nhà văn Agatha Christie luôn căm ghét bạo lực và máu. Bà thường thú nhận rằng không biết gì về những công cụ giết người thông thường. Thậm chí bà cũng chưa từng một lần tiếp xúc với một kẻ giết người. Mời các bạn đón đọc Cái Bẫy Chuột của tác giả Agatha Christie.
Ba Điều Bí Ẩn - Agatha Christie
Ba Điều Bí Ẩn là tập 18 trong series về Thanh Tra Hercule Poirot. Tên của Hercule Poirot được lấy theo hai nhân vật thám tử khác là Hercule Popeau của nhà văn Marie Belloc Lowndes' và Monsieur Poiret của Frank Howel Evans trong đó Poiret là một thanh tra cảnh sát người Bỉ đã nghỉ hưu và sống ở Luân Đôn. Hercule Poirot xuất hiện lần đầu trong tiểu thuyết trinh thám đầu tay của Agatha Christie Vụ án bí ẩn ở Styles (The Mysterious Affair at Styles) xuất bản năm 1920. Hercule Poirot bắt đầu thực sự nổi tiếng sau khi tiểu thuyết Vụ ám sát Roger Ackroyd (The Murder of Roger Ackroyd) được Agatha Christie cho xuất bản năm 1926, sau đó nữ nhà văn còn cho ra đời nhiều tiểu thuyết xuất sắc khác về Poirot như Án mạng trên chuyến tàu tốc hành Phương Đông (Murder on the Orient Express), The ABC Murders (1935), Cards on the Table (1936) hay Five Little Pigs (1942). Lần xuất hiện cuối cùng của Poirot là trong tiểu thuyết Thám tử rời sân khấu (Curtain: Poirot's Last Case) xuất bản năm 1975 chỉ một năm trước khi Agatha Christie qua đời. Sau khi Thám tử rời sân khấu được xuất bản, tờ New York Times trong số báo ra ngày 6 tháng 8 năm 1975 đã có một bài điếu văn với tựa đề "Hercule Poirot is Dead; Famed Belgian Detective" ("Hercule Poirot đã chết; Thám tử người Bỉ danh tiếng"), Poirot là nhân vật giả tưởng duy nhất cho đến nay có được vinh dự này. Mặc dù Hercule Poirot là nhân vật xuất hiện nhiều nhất trong số các tiểu thuyết của Agatha Christie nhưng ngày từ năm 1930 nhà văn đã bộc lộ sự chán ngán với nhân vật này, tuy nhiên bà vẫn tiếp tục sáng tác các tiểu thuyết mới xoay quanh viên thám tử người Bỉ vì theo Christie thì nhiệm vụ của nhà văn là sáng tác ra những gì công chúng yêu thích, và Poirot lại là nhân vật được độc giả hết sức yêu mến. *** Hamborough Close, Westshire Ngày 24-9-1936 Kính gửi ông Hercule Poirot, Một vụ việc vừa phát sinh, đòi hỏi sự xử lý tinh tế và kín đáo. Tôi đã nghe nhiều người nói tốt về ông, nên quyết định giao phó việc này cho ông. Tôi có nhiều lý do để tự tin mình là nạn nhân của một vụ gian lận, Nhưng vì lý do gia đình, không muốn kêu cảnh sát. Tôi đã có một số biện pháp để phòng thân và đối phó với tình hình, nhưng ông cần sẵn sàng đến đây ngaykhi vừa nhận được điện. Ông khỏi cần trả lời thư này, xin gửi tới ông lòng biết ơn. Kính thư: Gervase Chevenix-Gore *** Agatha Christie sinh năm 1890 tại Torquay, Anh. Cha bà tên là Frederick Miller, nên tên khai sinh của bà là Agatha Miller. Hồi còn nhỏ, Agatha không được tới trường mà chỉ được gia đình thuê gia sư về dạy dỗ tại nhà.    Là một đứa trẻ nhút nhát, khó có thể diễn tả chính xác ý kiến của mình, ban đầu bà tìm đến âm nhạc như một cách giải tỏa tâm sự và sau này là viết sách. Năm 1914, bà kết hôn với Archie Christie, một phi công chiến đấu. Trong khi đức lang quân bận rộn chiến đấu ngoài chiến trường thì bà làm y tá trong bệnh viện. Chính trong thời kỳ này, ý tưởng viết tiểu thuyết trinh thám đã nảy sinh trong tâm trí bà. Chỉ một năm sau bà đã hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay mang tên Những bí ẩn vùng Styles, nhưng phải tới 5 năm sau nó mới được xuất bản (1920). Agatha Christie được mọi người tôn vinh là Nữ hoàng truyện trinh thám. Trong suốt cuộc đời mình, bà đã sáng tác 66 tiểu thuyết, rất nhiều truyện ngắn, kịch và hàng loạt tiểu thuyết tình cảm lãng mạn với bút danh là Mary Westmacott. Vở kịch Chiếc bẫy chuột của bà có lẽ là vở kịch trinh thám hay nhất thế giới. Một số tác phẩm của bà đã được chuyển thể thành phim, nổi bật là bộ phim Murder on the Orient Express (Án mạng trên chuyến tàu tốc hành phương Đông) đã đoạt giải thưởng Hàn lâm năm 1974. Tác phẩm của bà được dịch ra hơn 100 thứ tiếng.    Trong suốt cuộc đời mình, nữ nhà văn Agatha Christie luôn căm ghét bạo lực và máu. Bà thường thú nhận rằng không biết gì về những công cụ giết người thông thường. Thậm chí bà cũng chưa từng một lần tiếp xúc với một kẻ giết người. Mời các bạn đón đọc Ba Điều Bí Ẩn của tác giả Agatha Christie.
Thành Phố Trộm - David Benioff
Trong cuộc phong tỏa Leningrad tàn bạo của quân Đức, Lev Beniov bị bắt vì tội hôi của và bị ném vào cùng xà lim với tên đào ngũ điển trai tên Kolya. Thay vì bị hành quyết, Lev và Kolya còn có cơ hội giữ mạng sống bằng cách thực thi một nhiệm vụ tưởng chừng không thể: tìm về một tá trứng. Trong một thành phố bị cắt đứt mọi nguồn tiếp tế và chịu sự thiếu đói không thể tin nổi, Lev và Kolya dấn thân vào một cuộc săn lùng qua khắp tình trạng hỗn loạn tàn khốc của Leningrad và đằng sau phòng tuyến địch để tìm cái bất khả. Với những diễn biến khôi hài và thâm thúy, kinh hoàng và xúc động, Thành Phố Trộm là một cuộc phiêu lưu Thế chiến 2 nghẹt thở, đầy chất điện ảnh, là câu chuyện của lứa tuổi thành niên thân thiết với cảm xúc cực kỳ hiện đại để nói về quá trình các chàng trai trở thành đàn ông. “Cuốn tiểu thuyết thứ hai của David Benioff khắc họa một cốt truyện mạnh mẽ, một tình bạn sôi nổi, một chuyện yêu đương kỳ quặc, đủ hạng người xấu đáng sợ, một bầu không khí chập chờn giữa chủ nghĩa hiện thực thô sượng và sự lố bịch kiểu thần thoại và một khiếu hài tăm tối nhưng khó cưỡng; thật ra là mọi thứ mà bạn đọc có thể mong đợi ở một câu chuyện về tình bạn đặt trong bối cảnh quân Đức bao vây Leningrad trong Thế chiến 2.” *** Mùa đông năm 1941, Leningrad bị quân Đức vây hãm gắt gao. Gió rét cắt da cắt thịt, mọi mẩu gỗ trong thành phố đều đã biến mất và cháy trong bếp lò của ai đó, thức ăn đã từ lâu biến thành giấc mơ xa xỉ, những cư dân với phần ăn tem phiếu khiêm tốn trở nên gầy rộc vì đói kém và mọi hành vi phạm tội đều bị hành quyết bởi không có đủ lương thực nuôi tù nhân. Khi Lev Beniov bị bắt vì tội hôi của, cậu đã nghĩ mình sẽ chết chắc, cho đến khi bị ném vào cùng xà lim với tên đào ngũ điển trai Kolya. Họ có cơ hội được sống bằng cách thực hiện một nhiệm vụ bất khả thi: tìm về một tá trứng để làm bánh cho đám cưới của con gái ông đại tá. Trong một thành phố bị cắt đứt mọi nguồn tiếp tế và dường như không còn chút thực phẩm nào, Lev và Kolya đã dấn thân vào cuộc săn lùng không thể nào quên… Lev mười bảy tuổi, thân hình gầy gò càng thêm còi cọc vì thiếu ăn, tự nhận không phải là ý trung nhân lý tưởng của con gái, vẫn còn khá ngây thơ và chưa biết tình yêu là gì. Trong khi đó, Kolya hoàn toàn ngược lại: điển trai, khỏe mạnh, tự tin, là một gã khoác lác biết tuốt và nói nhiều không thể tin được. Đồng thời, Kolya là người tử tế, nghĩa hiệp, liều lĩnh, và là bộ óc chỉ dẫn lẫn hành động cho cả hai người. Nhưng dù trái ngược nhau về cả ngoại hình và tính cách, họ vẫn là một cặp bài trùng cực kỳ hợp rơ. Kolya đóng vai trò là người chăm sóc, còn Lev với vai trò một người lắng nghe và chia sẻ. Ngay từ lần đầu gặp mặt, Kolya đã cho Lev một miếng xúc xích ngon lành, rồi không ít lần bảo vệ cho Lev như thể đang bảo vệ một đứa em trai thân thiết. Còn Lev, mặc dù hay cáu kỉnh vì Kolya cứ lải nhải suốt trên hành trình, nhưng vẫn kiên nhẫn lắng nghe những câu chuyện của Kolya mà hóa ra đó chính là câu chuyện anh ta sáng tác. Tình bạn của họ, không phải là kiểu săn sóc cho nhau từng ly từng tí, đây là kiểu tình bạn điển hình của hai đứa con trai: trêu chọc và khiêu khích, nói tục, tình yêu, tình dục, ban đầu là khó chịu và tưởng như không thể hòa hợp, rốt cuộc lại nảy nở rực rỡ, sôi nổi, ồn ào nhưng sâu sắc và cảm động một cách diệu kỳ. Kolya thường vòng tay lên vai Lev và nói đủ thứ chuyện, khi thì để khai thông đầu óc vẫn còn ngây thơ của Lev, khi thì chia sẻ những khát khao bình dị hoặc kể tiếp câu chuyện dở dang… Thật ra, người thuần khiết nhất chỉ thích cho đi mà không cần nhận lại, và người ngây thơ nhất không cần biết phía trước là muôn vàn khó khăn chết chóc, người lạc quan nhất hài hước ngay cả khi cận kề cái chết, lại chính là Kolya.    Hành trình đi tìm trứng băng qua cả thành phố đến tận chiến tuyến kẻ thù cũng là hành trình băng qua súng đạn tàn khốc, băng qua những hậu quả nặng nề của chiến tranh, đối diện với cái đói khủng khiếp và cái lạnh tê người, chứng kiến những phận người lụi tàn và bất hạnh mà họ không thể nào giúp đỡ gì được vì chính họ cũng đang bị cái đói cào xé. Trong hành trình đó, họ đã trưởng thành hơn, Lev đã can đảm hơn và có thể tự hào kể lại đã đoạt mạng hai tên Đức bằng dao khi chưa đủ mười tám tuổi. Họ dấn thân vào cuộc phiêu lưu với mục đích được sống, nhưng đôi khi chỉ mong ước có một miếng bánh mì thật hay một miếng xúc xích thật, hoặc Lev thì ganh tị với Kolya vì được ngủ với Sonya xinh đẹp tốt bụng, hay như Kolya sẽ mở tiệc ăn mừng nếu có thể đi ị. Khôi hài, trần trụi nhưng sâu cay, những bất hạnh này chẳng phải để tố cáo hiện thực chiến tranh, mà sao vẫn nghe sống mũi cay cay. Khi mà chất bi kịch hòa lẫn trong hài kịch, khi mà nước mắt của cái đau khổ được giấu sâu cùng trong những cái cười khôi hài, thì những cái bất hạnh này đã trở nên quá lớn để nghĩ đến. Họ chỉ chấp nhận số phận của mình.    Giọng văn phóng khoáng và táo tợn, ngôn ngữ rất đời và rất chân thực, dùng những mảnh đời bất hạnh và những khát khao trần trụi để mô tả tinh vi bức tranh hiện thực của chiến tranh làm bối cảnh cho một tình bạn lạ kỳ. Diễn biến nhanh và thu hút như một bộ phim điện ảnh, dễ dàng đọc liền mạch từ trang đầu tiên đến trang cuối cùng, mới cười đó rồi lại tê dại đi sau đó, để lại sau cùng một ấn tượng mạnh mẽ về một tình bạn trong hoàn cảnh bắt buộc đã nhanh chóng nảy sinh và gắn bó không thể quên đến cuối đời. *** David Benioff sinh năm 1970 tại New York trong một gia đình Do Thái. Ông là nhà văn, nhà biên kịch, nhà sản xuất truyền hình và đạo diễn. David Benioff là một nhà biên kịch và nhà sản xuất truyền hình, nhà văn và đạo diễn người Mỹ. Cùng với cộng tác viên của mình D. B. Weiss, anh được biết đến nhiều nhất với tư cách là đồng sáng tạo, người dẫn chương trình và nhà văn của Game of Thrones, bộ phim chuyển thể từ HBO của George R. R. Mời các bạn đón đọc Thành Phố Trộm của tác giả David Benioff.