Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Kẻ Trừng Phạt

“Kẻ Trừng Phạt”, kích thích hơn “người giải mã tử thi” của Tần Minh, rúng động hơn “Tội ác tâm lý” của Lôi Mễ! Tác phẩm được các tác giả Liên Bồng, Lôi Mễ, Tri Thù, Tần Minh đặc biệt giới thiệu! “Kẻ Trừng Phạt”, tác phẩm mới nhất đánh dấu sự trở lại của tay bút được đánh giá là “hiện tượng” của dòng tiểu thuyết trinh thám trên trang Tianya.cn, kể về cuộc quyết chiến cuối cùng giữa CHÍNH NGHĨA và TÀ ÁC! Một “thi thể nữ” biết lái xe, một linh hồn “hồi sinh”, cuộc hẹn với người đã chết, những lời tiên đoán đáng sợ, khu trường học có “ma”… những tình tiết móc ngoặc, cảm xúc không ngừng thay đổi, yếu tố trinh thám dày đặc, biến thái, tuyệt mật, hồi hộp, những cách thức phạm tội tinh vi và hiện đại, chứng cứ vắng mặt hoàn hảo, những âm mưu quỷ kế không thể lật tẩy, những màn sương mù che phủ không thể làm tan biến, bạn sẽ đau tim đến cực độ, một cảm giác đọc sách thật đê mê! Với tên gốc trên mạng là “Rượt đuổi tới cùng”, trong nhiều ngày liên tiếp, “Kẻ trừng phạt” chiếm giữ vị trí đầu bảng trong bảng xếp hạng “Chuyện của Liên Bồng” (bảng xếp hạng những câu chuyện thần bí) trên trang Tianya.cn. Nhận được lượng chia sẻ vô cùng lớn, số lượt click trên 39.000.000, giành được sự quan tâm và bình luận rất nồng nhiệt của độc giả. Tiểu thuyết cũng được các tác giả tring thám đương đại hàng đầu Trung Quốc như Liên Bồng, Lôi Mễ, Tri Thù, Tần Minh đặc biệt giới thiệu. Phuc Minh Books hân hạnh giới thiệu đến độc giả! LỜI KHEN CHO KẺ TRỪNG PHẠT Vừa vào đầu sách đã đầy rẫy những điều kì bí bủa vây toàn cục, những bí ẩn cũ chưa kịp giải quyết, bí ẩn mới đã ập tới liên tục, khiến độc giả càng đọc càng bị cuốn hút. - Liên Bồng. Vi Nhất Đồng thông thạo các công tác cảnh sát và kiến thức tâm lí phạm tội, những đoạn phá án trong cuốn sách này không cố tình tiết lộ việc hung thủ là ai, mà đặt người đọc vào cùng vị trí với lực lượng cảnh sát chính nghĩa cùng nhau tìm ra câu trả lời, mỗi người đọc đều là một người phá án. - Lôi Mễ. “Kẻ trừng phạt” quả không hổ danh là cuốn sách tiêu biểu của dòng tiểu thuyết tội phạm và phá án, những tên hung thủ biến thái, những “kẻ khác biệt” đang ẩn náu trong hàng ngũ cảnh sát hình sự, những cảnh sát luôn lên tiếng vì chính nghĩa, thủ pháp khắc họa nhân vật một cách tỉ mỉ, chính xác, không cứng nhắc theo khuôn mẫu cũ. - Tri Thù. “Kẻ trừng phạt” không chỉ nói đến những kẻ phạm tội, mà hơn nữa là nhắc đến những người cảnh sát – hóa thân của sức mạnh chính nghĩa, chỉ có điều những tên hung thủ đứng trên danh nghĩa chính nghĩa mà gây tội ác, chúng chính là những kẻ đáng bị trừng phạt nhất. - Tần Minh. *** Nội dung bố cục câu truyện thì ở trang bìa sau đã nói rõ các vụ bí ẩn xảy ra, miêu tả chính xác độ ly kỳ của cuốn tiểu thuyết này, trinh thám gỡ từng lớp từng lớp bí ẩn đặt ra, một tử thi có thể lái xe và di chuyển từ trung tâm pháp y cảnh sát về nhà như chổ không người , pha các yếu tố ghê rợn không khác gì các bạn đang đọc 1 cuốn truyện kinh dị, nhưng chỉ là vài chương đầu thôi, về sau trinh thám hơi bị ly kỳ đấy. Vi Nhất Đồng đã dẫn dắt người đọc đi từ chứng cứ này đi đến chứng cứ khác, và có thể khi đã tìm ra chân tướng thực sự lại khiến vụ án đi vào lối mòn, và cho đến nhưng chương cuối cùng của tiểu thuyết, chân tướng dường như sáng tỏ rành mạch. hung thủ đã lộ diện và đã trả giá cho những gì hắn gây ra nhưng vụ án vẫn chưa kết thúc , và chỉ thực sự kết thúc khi người đọc được dẫn dắt đến trang cuối cùng. Điều tôi hoan nghênh nhất của tác giả là có sự xuất hiện nhân vật nữ ở giữa truyện, khiến tổ chuyên án như ” nắng hạn gặp mưa rào ” , cảnh sát nhân vật chính của chúng ta như được tưới tiêu ( về mặt tâm hồn và nhìn nhận thôi , ko có iu đương gì ở đây đâu nhé  … Đúng là có bàn tay phụ nữ vào thì mọi vấn đề sẽ hanh thông ! … nhân vật nữ xuất hiện là điểm nhấn hay nhất mà tôi thấy ở cuốn tiểu thuyết này ! Đúng như lời hung thủ bảo ” sự xuất hiện của cô ấy là bất ngờ trong kế hoạch của tôi, nếu không có cô ấy thì các cậu không tìm thấy tôi sớm vậy đâu ” … !!! ” Thiên và ác đôi khi chỉ cách nhau trong một ý niệm; tội ác và sự trừng phạt liệu có một ranh giới thật sự rõ ràng ” – Lục Dương Đây là câu tự hỏi khiến độc giả có thể suy nghĩ về hung thủ, về cảnh sát, về nạn nhân, thật sự là ai đáng thương và ai đáng trách ? Riêng bản thân tôi cũng xót thương cho những số phận trên, kẻ đáng chết đã chết, kẻ gây ra cũng đền tội, ai cũng có lý do để kể lễ cho hành động của mình, nhưng …. KHÔNG CÓ LÝ DO NÀO CÓ THỂ GIẢI THÍCH CHO VIỆC GIẾT NGƯỜI CẢ DÙ CHO NGƯỜI ĐÓ CÓ ĐÁNG CHẾT THẾ NÀO ! đó là điều tâm đắc của tôi nhiều tiểu thuyêt trinh thám đã được đọc qua .. Và 1 câu tôi cảm thấy tâm đắc khi đọc tiểu thuyết này : ” Hai chữ ” CẢNH SÁT ” gánh vác quá nhiều ước vọng, bao hàm vô số vinh quang, nhưng cũng đầy đau khổ và oan khiêng ! ” khiến cho tôi thấy công việc cảnh sát có thể có vinh quang nhưng cũng đầy mệt mõi, có nhiều vụ án đôi khi bản thân biết quá nhiều cũng không phải là điều tốt ! Review bởi Minh Lê *** thành tích xuất sắc, tôi được điều lên Đội Cảnh sát hình sự, bắt đầu chuỗi ngày điều tra các vụ án đủ thể loại. Làm trong ngành này, chứng kiến biết bao “kiểu” chết chóc, dù có nhát gan đến mấy cũng được luyện cho to gan lớn mật. Nhưng gần đây xảy ra một vụ án rất kì lạ, khiến mọi người vô cùng hoang mang, ngay cả những bậc tiền bối cũng phải sởn gai ốc. Sự việc bắt đầu khi một đồng nghiệp của tôi là Hồ Viễn bị tai nạn. Chiếc Sedan của cậu ta đâm trực diện vào một chiếc xe việt dã. Lúc đó trên xe có hai người, Hồ Viễn ngồi ở ghế phụ lái, còn người điều khiển là một phụ nữ. Hiện trường vụ tai nạn rất thảm khốc, cú va đập khiến Hồ Viễn tử vong tại chỗ, thi thể biến dạng, máu me đầm đìa. Điều kì lạ là, cơ thể người phụ nữ cũng bị biến dạng, nhưng lại không hề chảy giọt máu nào. Kết quả khám nghiệm tử thi cho biết... người phụ nữ này đã chết cách đây ba ngày. Những người đầu tiên có mặt ở hiện trường là lực lượng Cảnh sát giao thông. Họ tìm thấy thẻ Cảnh sát trên người Hồ Viễn, biết được đơn vị của cậu ấy, nên lập tức thông báo cho chúng tôi. Còn người phụ nữ không có bất cứ thứ gì để chứng minh được danh tính. Tôi hôm đó tới phiên tổ chúng tôi trực ban, ngoài trời mưa rả rích, mặt đường ướt nhẹp, thỉnh thoảng mới thấy bóng người đi lại, vô cùng vắng vẻ. Chúng tôi cứ nghĩ sẽ không có vụ án nào xảy ra, nên vừa ngồi buôn chuyện trong phòng trực vừa nhấm nháp đồ ăn đêm. “R... eng... eng...” Một hồi chuông điện thoại xé tan bầu không khí an nhàn. Nghe điện thoại xong, tôi vội báo cáo sự việc với anh Điên Tổ trưởng. Anh lập tức buông bát mì vừa mới ăn xuống. “Nhanh lên! Đi kiểm tra xem xảy ra chuyện gì!” Anh vừa nói vừa bước nhanh ra cửa, chúng tôi vội vã theo sau. Anh Điên tên thật là Dương Phong[1], tuổi ngoài bốn mươi, đầu đinh, nước da đen bóng, cơ thể cường tráng, vừa nhìn đã thấy ngay hình ảnh một viên cảnh sát hình sự. Do phong cách làm việc quả quyết và nhanh chóng, lúc nào cũng hừng hực khí thế nên mọi người đặt cho anh cái biệt hiệu ấy. Trên đường đến hiện trường, sau khi báo cáo tình hình với Đại đội trưởng, anh Điên ngồi im chẳng nói câu nào. Suốt mười năm làm cảnh sát hình sự, anh đã phá không biết bao nhiêu vụ án, có thể coi là một “thần thám” danh bất hư truyền. Nhìn thấy bộ dạng của anh lúc này, rồi nhớ lại nội dung cuộc điện thoại, tôi không khỏi thấy sởn gai ốc. Lần đầu tiên chúng tôi gặp phải sự việc quái dị như thế: người lái xe là một phụ nữ đã chết! Chúng tôi phóng như bay tới hiện trường, bây giờ xung quanh đã đông nghịt người, bên cạnh là một hàng xe dài, từ xe cảnh sát đến xe của bệnh viện và các đơn vị liên quan. Chúng tôi vội tìm một chỗ đỗ xe, rồi theo anh Điên chen vào đám người. Đầu chiếc Sedan màu đen hiệu Jetta của Hồ Viễn và chiếc xe việt dã kia đều bị bẹp rúm, trên mặt đất la liệt mảnh linh kiện và kính vỡ. Bên cạnh là hai cái xác được đậy vải trắng, một tấm đã nhuốm đỏ, màu máu hòa với nước mưa chảy sang bên cạnh, ứ lại thành một vũng, khiến ai nhìn cũng phải rùng mình. Anh Điên nhanh chóng giới thiệu rồi ngồi xuống lật tấm vải trắng nhuốm máu ra. Mặc dù khuôn mặt đã biến dạng, nhưng chúng tôi vẫn nhận ra nạn nhân là Hồ Viễn. Anh Điên không nhìn thêm nữa, lập tức di chuyển sang chỗ tấm vải trắng bên cạnh. Tim tôi như bị bóp nghẹt, vì đây không phải một người chết thông thường, mà là một xác-chết-biết-lái-xe. Tấm vải được lật ra, trước mắt chúng tôi là một khuôn mặt đen sạm, có nhiều vết bầm, một vài lọn tóc ướt bết trên trán. Mặc dù không phải bác sĩ pháp y, nhưng tôi cũng đoán được nạn nhân đã tử vong trên hai mươi bốn tiếng. Khi tôi còn chưa hết kinh ngạc, anh Điên đã nhanh chóng đeo găng tay, tiến hành kiểm tra khuôn mặt người phụ nữ. Thực sự tôi không có tâm trạng nào nhìn cảnh đó, vội quay người đi tới chỗ cảnh sát giao thông, hỏi thăm tình hình người lái xe việt dã. Nạn nhân bị thương rất nặng, đã được đưa đến viện cấp cứu. Theo quan sát hiện trường, có thể chiếc Sedan đã bất ngờ di chuyển sang làn đường bên cạnh, đâm thẳng vào chiếc xe việt dã. Do quá bất ngờ, cộng thêm trời mưa khiến tầm nhìn giảm sút, lái xe việt dã không kịp tránh khỏi vụ tai nạn thảm khốc. Viên cảnh sát giao thông đã đứng tuổi, nên tôi thử hỏi trước đây anh ta có gặp vụ nào tương tự không. Anh ta lắc đầu, nói trong bao nhiêu năm phụ trách sự cố giao thông, anh chưa từng gặp, thậm chí chưa từng nghe một sự việc kì lạ như thế này. Tôi hỏi thêm về khả năng chiếc xe của Hồ Viễn do người khác lái, chẳng hạn, hắn nhảy ra khỏi xe ngay trước vụ va chạm rồi đưa thi thể người phụ nữ vào ghế lái xe? Nhưng anh ta trả lời chắc nịch: “Chắc chắn là không, lái xe nhất định là người phụ nữ đó.” Tôi đang định hỏi vì sao có thể khẳng định như vậy thì anh Điên gọi: “Lục Dương, mau lại xem đây có phải Tần Hiểu Mai không?” Tẩn Hiểu Mai? Cái tên này vừa quen vừa lạ, đến khi quay lại tôi mới chợt nhớ ra, cô ta là tội phạm giết người trong một vụ án mà Phòng Cảnh sát đã phải lập cả một tổ chuyên án. Lúc đó tôi mới chuyển đến, chưa có nhiều kinh nghiệm nên không được chọn, còn anh Điên và Hồ Viễn đều tham gia. Dưới bàn tay của anh Điên, khuôn mặt người phụ nữ đã khôi phục tám chín phần, tóc được vén gọn gàng. Sau khi nhận dạng, tôi gật đầu xác nhận, đúng là Tần Hiểu Mai. Điều này khiến vụ tai nạn càng trở nên li kì. Tần Hiểu Mai đã bị kết tội giết người, mấy ngày nay chính là thời gian hành hình, sao thi thể cô ta có thể lái xe đưa Hồ Viễn đi “tự sát” được? Không chần chừ một giây, anh Điên lập tức báo lên cấp trên. Lãnh đạo Phòng Cảnh sát thành phố ra lệnh, vụ án này có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, yêu cầu Đội Cảnh sát hình sự điều tra cặn kẽ, Dương Phong được chỉ định là người phụ trách chính. Anh Điên lập tức yêu cầu Đồn Cảnh sát khu vực thông báo cho cha mẹ Tần Hiểu Mai đến nhận diện. Tần Hiểu Mai là sinh viên, nên cha mẹ cô ta chắc chỉ ngoài bốn mươi, nhưng mặt đầy nếp nhăn, đầu lấm tấm bạc, đủ thấy sự việc của con gái khiến họ sốc nặng đến mức nào. Mẹ Tần Hiểu Mai khóc suốt từ lúc đến hiện trường, chỉ có cha cô ta đến xác nhận danh tính con gái. Anh Điên giao lại hiện trường cho hai đồng nghiệp khác trong nhóm. Cha mẹ Tần Hiểu Mai ngồi trong xe cảnh sát, xe của nhà tang lễ theo phía sau, tất cả cùng trở về Đội Cảnh sát hình sự. Vụ án này vô cùng kì lạ, rất có thể cần tiến hành giám định pháp y cả hai thi thể. Về đến nơi, thi thể giao cho bên pháp y, còn chúng tôi đưa cha mẹ Tần Hiểu Mai đi lấy lời khai. Cha Tần Hiểu Mai là Tần Xuyên cho biết con gái ông đã chết từ ba ngày trước. Theo phong tục, sau khi chết, gia đình phải để xác ở nhà bảy ngày rồi mới được hỏa táng. Trong thời gian đó, lúc nào cũng có người canh linh cữu. Mấy ngày nay tại linh đường không hề xảy ra việc gì kì lạ, chiếc quan tài đặt xác Tần Hiểu Mai vẫn đóng nguyên. Khi nhận được điện thoại của cảnh sát, gia đình tin rằng có sự nhầm lẫn nào đó, nhưng để chắc chắn, họ vẫn mở nắp quan tài ra, thì phát hiện thi thể Tần Hiểu Mai đã không cánh mà bay. Họ vội vã chạy tới chỗ cảnh sát. Tần Xuyên trình bày xong, anh Điên lại hỏi: “Hàng ngày canh linh cữu gồm những ai?” “Theo phong tục ở quê chúng tôi, người trên không được canh linh cữu người dưới, nếu không cả dòng tộc sẽ bị trời quở, nên đành để các anh chị em họ của Hiểu Mai canh. Cũng may có mấy người họ hàng giúp đỡ lo hậu sự, chứ mỗi hai chúng tôi thì không thể xoay xở nổi. Đã thế mẹ Hiểu Mai còn suy sụp thế kia...” Tôi thấy hơi ngạc nhiên. Vụ án Tần Hiểu Mai được xử công khai, hành vi giết bạn cùng phòng của cô ta vô cùng tàn nhẫn, về lí mà nói, với loại người này, họ hàng thân thích cũng muốn tránh xa. Vậy sao sau khi chết vẫn có nhiều người giúp đỡ thế? Tôi bèn hỏi: “Họ hàng không có ý kiến gì về việc Tần Hiểu Mai giết người sao?” “Nói láo! Hiểu Mai không thể là hung thủ giết người được!” Mẹ Tần Hiểu Mai ngẩng đầu, trừng mắt nhìn tôi quát. Tần Xuyên vội kéo tay áo vợ, nhẹ nhàng khuyên nhủ: “Bà nó à, con gái đã đi rồi, nói những lời này còn có nghĩa lí gì nữa?” “Các người đổ oan cho Hiểu Mai, nên nó mới chết không nhắm mắt. Nhất định là nó quay về tìm các người báo thù đấy! Ha ha ha...” Vốn đã hơi ghê người về vụ “xác chết lái xe”, giờ nghe mẹ Tần Hiểu Mai nói vậy, cộng thêm khuôn mặt méo xệch của bà ta, trong lòng tôi không khỏi ớn lạnh. Nỗi sợ hãi thường đến từ những điều chúng ta chưa hiểu rõ. Cho dù không muốn tin việc ma quỷ báo thù, tôi vẫn quay sang nhìn anh Điên với ánh mắt ái ngại, vì anh ấy cũng tham gia điều tra vụ Tần Hiểu Mai. Tần Xuyên có vẻ áy náy, vội vàng xin lỗi, mong chúng tôi hiểu cho nỗi đau mất con của vợ mình. Anh Điên bình tĩnh hơn tôi rất nhiều. Tôi hỏi thêm vài câu nữa rồi gập cuốn sổ lấy lời khai lại, yêu cầu đến nhà Tần Xuyên kiểm tra linh đường, và bảo họ lập danh sách những người canh linh cữu trong ba ngày qua. Nhà Tần Xuyên nằm tại một thị trấn cách thành phố khoảng mười cây số, xung quanh hầu như đều là người bản xứ. Bây giờ trời đã tối, không có đèn đường, cũng rất ít người qua lại. Theo sự chỉ dẫn của Tần Xuyên, chúng tôi dừng xe trước một ngôi nhà nhỏ. Đó là kiểu nhà tự xây, có sân, khá phổ biến ở nông thôn. Linh đường của Tần Hiểu Mai được đặt giữa sân. Trong sân treo lác đác vài chiếc đèn lồng trắng tỏa ra những chùm sáng lạnh lẽo, bủa vây khu linh đường u ám. Xung quanh đặt bảy, tám vòng hoa, tất cả đều màu trắng, chính giữa treo bức di ảnh của Tần Hiểu Mai và một chữ “điện” rất lớn. Giữa khung cảnh ngập tràn màu trắng ấy, chiếc quan tài màu đỏ đậm ngay chính giữa sân càng trở nên nổi bật. Quan tài đặt trên hai chiếc ghế dài, bên dưới có một ngọn đèn dầu. Khi chúng tôi đến, trong sân không có một ai. Tần Xuyên nói, trước khi họ ra khỏi nhà, vì nghĩ ở đây cũng chẳng còn việc gì nữa, nên bảo họ hàng về hết rồi. Anh Điên quan sát một lượt khắp sân, rồi bước về phía chiếc quan tài. Vừa được mấy bước, Tần Xuyên đứng cạnh tôi bỗng “ớ” lên một tiếng. Ông bước nhanh qua tôi tiến về phía trước, vừa đi vừa nói: “Rõ ràng sau khi mở nắp quan tài để kiểm tra, tôi đã đậy cẩn thận rồi mà, sao giờ lại hé ra thế này?” Đúng lúc đó, một luồng gió lạnh thổi qua, mấy chiếc đèn lồng trắng khẽ đung đưa, những mảnh giấy trắng trên vòng hoa cũng lay động, bỗng chốc khiến khoảnh sân thêm phần ma quái. “Hiểu Mai về đấy...” Mẹ Tần Hiểu Mai hô lên rồi chạy về phía quan tài. Tôi nhíu mày hỏi Tần Xuyên: “Hay là ông nhớ nhầm?” Tần Xuyên do dự không dám khẳng định. Anh Điên xoa dịu không khí: “Có lẽ lúc đó họ đi vội quá nên nhớ nhầm”, rồi đưa tay kéo nắp quan tài. Tôi thở phào, vừa định bước tới giúp anh Điên một tay, thì nghe thấy mẹ Tần Hiểu Mai hét lên điên dại: “Hiểu Mai! Hiểu Mai!” Nói rồi bà ta lấy hết sức đẩy nắp quan tài sang một bên, khiến nó đổ “rầm” xuống đất. Ba người chúng tôi đều xông đến, ngó đầu vào bên trong. Tôi thấy miệng mình khô rát, cổ họng nghẹt thở: xác Tần Hiểu Mai rõ ràng phải nằm trong phòng khám nghiệm tử thi ở Đội Cảnh sát hình sự, sao giờ lại nằm sờ sờ trong quan tài? Sắc mặt cô ta vẫn còn nguyên vẻ đen sạm ấy, với vài chỗ bầm tím, chỉ khác là mắt cô ta đang mở trừng trừng, hai khóe mắt có vệt đỏ như hai hàng lệ máu, làn môi dường như cũng hồng nhuận hơn trước. Tôi sợ đến độ không thốt nên lời, định bỏ chạy nhưng đôi chân như bị đóng đinh tại chỗ. Cũng may anh Điên nhanh chóng đẩy tôi ra, nói lớn: “Gọi điện về Đội, cho người đến kiểm tra phòng khám nghiệm tử thi ngay!” Mời các bạn đón đọc Kẻ Trừng Phạt của tác giả Vi Nhất Đồng.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thời Hoang Dã
Một kị sĩ dưới cái lạnh âm hai mươi lăm độ giữa thảo nguyên mênh mông. Một cô gái điếm giữa căn phòng khách sạn vắng. Sáu đứa trẻ trong một container tại kho hàng bỏ hoang. Một phụ nữ dưới đáy hố khai thác sỏi. Một giáo sư điểu học bên ngoài căn lều giữa mùa dzüüd khủng khiếp. Họ đều không còn sống khi được tìm ra. Họ được phát hiện gần như cùng thời điểm. Các cuộc điều tra đưa Yeruldelgger cùng cộng sự đến với lãnh thổ nhiều quốc gia, khiến câu chuyện mở ra một hướng hoàn toàn khác Sau Công lý thảo nguyên, Ian Manook lại gói gọn những phong cảnh, tập tục, ẩm thực và cả những bí mật của một vùng đất xưa nay vẫn luôn bí ẩn với thế giới vào trong một cuốn “đại” trinh thám, nơi ông một lần nữa tái khẳng định tài năng trong việc xây dựng các tình tiết và soi chiếu sâu sắc vào nhiều vấn đề của xã hội hiện đại. Giải thưởng Saint-Pacôme cho thể loại trinh thám năm 2015. *** Bộ sách Yeruldelgger gồm có: Công Lý Thảo Nguyên Thời Hoang Dã ... *** Ian Manook (tên thật là Patrick Manoukian) sinh ngày 13/8/1949 tại Meudon, Pháp. Sau khi tốt nghiệp Luật châu Âu và Khoa học chính trị thuộc Đại học Sorbonne và Học viện Báo chí Pháp, ông làm phóng viên độc lập, biên tập viên và nhà văn.Ông là người ưa thích du lịch, và đã đi rất nhiều nơi: Mỹ, Canada, Ấn Độ, Kathmandu, Iceland, Belize, Braxin,…Trong sự nghiệp viết văn, ông đã được nhận giải Gulli 2012 cho tiểu thuyết Anh em Bertignac. Công lý thảo nguyên là tiểu thuyết trinh thám đầu tiên của Patrick Manoukian, được viết dưới bút danh Ian Manook, đã đạt nhiều giải thưởng danh giá: SNCF, Elle Polar, Quais du polar (năm 2014) và Audiolib 2015,… và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.   ***   …và đặt tay lên cò súng. Rụt cổ trong chiếc áo choàng lót lông có mũ, thanh tra Oyun cố gắng tìm hiểu tổng thể mọi việc. Cô ngồi xổm trên lớp tuyết lạo xạo và cúi xuống để nhìn cho rõ hơn. Cái lạnh rạch đứt hai bên đồng tử của cô, còn không khí giá buốt như cào xoang mũi mỗi lần hít vào. Cảm giác chẳng khác gì đang hít phải những mảnh thủy tinh vỡ. Xung quanh cô, thêm một dzüüd[^b1] khủng khiếp nữa bao trùm lên thảo nguyên trắng xóa. Đây là năm thứ ba liên tiếp nỗi bất hạnh trắng giáng xuống đất nước này. Những mùa đông lạnh giá vùng cực dài dằng dặc nối tiếp bằng những mùa hè nóng hừng hực quá ngắn ngủi. Những cơn bão tuyết kéo dài nhiều ngày khiến người ta không thể nhìn thấy cả căn lều, lạc lối để rồi đứng chết cóng khi chỉ cách lều có một mét. Rồi đến những ngày bầu trời xanh như sơn mài bị xuyên thủng bởi vầng dương nhỏ xíu trắng bệch chiếu lên một vùng đất đông cứng trong băng. Oyun không có chút ký ức nào về những dzüüd như thế trong tuổi thơ của mình. Lần đầu tiên cô còn nhớ là mùa đông năm 2001. Một mùa đông khắc nghiệt và kéo dài tới mức bảy triệu gia súc đã chết trên toàn quốc. Cô nhớ như in trong ký ức hình ảnh hàng nghìn người du mục, mới vài tháng trước còn đầy kiêu hãnh và cứng cỏi, bị đẩy dạt về thành phố để ăn xin và chết trong im lặng, rét cóng dưới cống ngầm ở Oulan-Bator. Đàn ông mất hết ngựa, phụ nữ mất hết bò và dê, trẻ con thì mất hết cừu non, thậm chí cả lũ cún con. Mùa đông năm đó đã cướp đi nhiều sinh mạng ở Mông Cổ hơn cả mấy chiếc máy bay đâm vào tòa tháp đôi ở Manhattan. Và trong hai năm tiếp theo, những dzüüd khác đã tàn sát nốt những gì còn lại của đàn gia súc yếu ớt. Đã từng có những nỗi bất hạnh đen, những mùa hè nóng như thiêu làm mặt đất nứt nẻ bị nung cháy đến tận tầng sâu, lẫn những nỗi bất hạnh trắng khi mà tuyết trùm kín thảo nguyên dưới một lớp vỏ băng giá. Hai nỗi bất hạnh khiến lũ gia súc bị bỏ mặc suốt mùa đông. Những con vật tản mát đi tìm thức ăn, lạc đàn, rồi chết vì đói và lạnh. Chỉ tới mùa xuân người ta mới tìm thấy hàng nghìn cái xác gầy trơ xương, bị tuyết làm chín cả da lẫn thịt. Thậm chí là hàng triệu, khi một dzüüd hội tụ trong nó nỗi bất hạnh còn lớn hơn cả hai nỗi bất hạnh đen và trắng. Đống xác nhỏ là chỗ nhô lên duy nhất trong bán kính nhiều kilômét thảo nguyên xung quanh. Oyun tự hỏi điều gì có thể lý giải sự hiện diện của nó, nhưng tránh tìm câu trả lời ở phía chân trời. Không khí lạnh căm khiến đường viền của những chỏm núi trở nên rõ nét tới mức mắt cô nhức như bị xé. Cô tập trung vào đám xác chất đống. Người lính lái chiếc xe bọc thép cổ lỗ từ thời Liên Xô xuống khỏi buồng lái chiếc AT-L cũ kỹ rồi đi tới bên cô. Cô nghe thấy tiếng cửa đóng sập lại, đanh gọn như tiếng một thân cây rỗng bị gãy, rồi tiếng lạo xạo đều đều của tuyết bị ép lún xuống dưới đôi bốt anh ta đi. Không nói một lời, anh ta ngồi xổm cạnh cô, đưa cho cô một cái ca sắt tây rồi lấy bình giữ nhiệt từ trong cái áo vạt dài truyền thống chần bông. “Ở trên cùng là một con bò Tây Tạng thuần hóa, cái này thì chắc rồi!” người lái xe xác nhận. “Một con bò Tây Tạng thuần hóa hoặc một con bò lai,” Oyun chỉnh lại. “Người du mục ở đây chỉ có bò lai. Hiếm khi có bò Tây Tạng hoang dã.” “Hoặc một con bò lai,” người lái xe nhượng bộ trong lúc xoay nắp chiếc bình giữ nhiệt giữa hai bàn tay đeo găng lót lông cừu to tướng. Anh ta tự rót cho mình một ca trà bơ nóng bỏng trước khi mời Oyun một ca. Là bò thuần hay bò lai, điều đó cũng chẳng làm thay đổi gì nhiều. Cái xác bị phanh bụng của con vật phủ lên những cái xác khác. Băng bện thành những lọn lấp lánh các đốm sương giá trên bộ lông và trong bụng con vật. Con vật phủ phục, bốn chân xoạc ra, nom thật ghê tởm, phủ phần ruột gan đóng băng lên những thứ nằm dưới bụng nó. Ít nhất cũng không có mùi gì. Vào mùa hè, khi nhiệt độ ở cùng địa điểm lên tới hơn bốn mươi độ, đống xác chết này hẳn đã phả ra mùi xú uế không thể nào chịu nổi. Không khí lạnh giá khử trùng cho mọi thứ, kể cả nỗi kinh hoàng. Người lái xe cúi xuống để nhìn qua những rẻ sườn bị gãy của con vật, rồi lách một bàn tay vào giữa khối phủ tạng cứng đơ, rắn chắc… “Bò cái!” anh ta nói. “Đây là con cái.” “Cũng chả quan trọng!” Oyun vừa thở dài vừa bấu chặt ngón tay vào ca trà. “Thế còn bên dưới?” “Bên dưới là một con ngựa,” người lái xe nói không chút do dự. Có thể nhận ra điều đó nhờ những chiếc móng đóng vào bốn cái chân bị bẻ trật khớp nằm lẫn lộn với chân của con bò Tây Tạng. Phần thân con vật mà Oyun nhìn thấy có vẻ đã bị gãy ở lưng. Xác một con bò cái Tây Tạng bị phanh bụng phủ lên xác bị đánh gãy của một con ngựa, trong điều kiện âm hai mươi lăm độ và ở cách Oulan-Bator năm trăm kilômét, đây không hẳn là cuộc điều tra thuộc đội cảnh sát hình sự. Có lẽ cô sẵn sàng để lại vụ này cho cảnh sát địa phương. Thế nhưng lại còn cái chân đó. Một cái chân đi ủng, bàn chân vẫn còn mắc vào bàn đạp thúc ngựa, trồi ra giữa phần lưng đóng băng của con ngựa chết và cái bụng mở phanh của con bò Tây Tạng. “Đó là người kỵ sĩ,” anh lính giải thích. “Tôi hơi nghi ngờ chuyện đó,” Oyun đáp, hai bên hông đột nhiên đau buốt vì giá lạnh và mệt mỏi. “Vấn đề là tìm xem anh ta làm gì ở đó!” “Anh ta đã ở trên lưng ngựa,” người lính nhận xét. “Phải, và bây giờ anh ta ở dưới con bò!” nữ thanh tra bực bội. “Ta đã có manh mối gì về việc đây có thể là ai chưa?” “Chưa,” người lính trả lời. “Ta mới chỉ có mỗi cái chân.” “Và anh đã không tìm cách kéo anh ta ra để tìm kiếm manh mối sao?” “Tôi là quân nhân,” người lính bật ra cụt lủn. Oyun quay đầu nhìn anh ta chằm chằm không chút e dè. Yeruldelgger đã kể với cô về những người du mục trở thành viên chức nhà nước. Mọi điều tạo nên phẩm chất của người du mục cũng chính là hạn chế của người viên chức. Nhất là nếu anh ta lại là quân nhân. “Dẫu sao cũng có thể thử tìm hiểu xem người này là ai, phải không?” Oyun quỳ gối xuống tuyết mà không chờ câu trả lời, rồi nắm lấy chiếc ủng mà băng giá đã gắn chặt phần da vào bàn đạp. Cô cố kéo cái chân của xác chết ra nhưng không ăn thua. Cẳng chân, cứng đơ như một thân cây hóa thạch, không nhúc nhích lấy một li. Cô liền chống người tạo thành đồn bẩy, tì vai vào xác con bò, và trong lúc thực hiện hành động của mình, cô bắt gặp ánh mắt người lính. Anh ta không có vẻ tán thành việc cô làm. “Sao hả?” cô bực bội, thở hổn hển vì gắng sức. Cô vã mồ hôi dưới lớp áo khoác, trong khi hai lá phổi của cô như bị băng giá phủ kín từ bên trong. Cô không trong tâm trạng có thể chịu đựng vẻ uể oải cam chịu của người lính. “Không nên làm thế,” anh ta lẩm bẩm chê trách. “À vậy hả? Thế sao lại không?” nữ thanh tra vừa đáp lại vừa kéo cái chân như một tên tù khổ sai đẩy mái chèo. “Vì băng giá.” “Bởi vì anh tin là nó…” Có thứ gì đó gãy rắc và Oyun ngã bật ra sau trong tiếng lạo xạo của tuyết bị đè bẹp. Khi cô nhổm dậy, khuôn mặt bị giá lạnh cứa vào, Oyun giật mình kinh hãi vội ném ngay cái cẳng chân ra xa. “Tôi từng thấy những mùa dzüüd làm thân bạch dương bị đóng băng tới tận lõi khiến chúng trở nên giòn như thủy tinh,” người lính giải thích. “Thế nên một cái chân…” “Tôi không tin chuyện đó!” Oyun vừa lẩm bẩm vừa nhặt cái chân đóng băng cứng giơ lên. Cả xương lẫn da thịt bị bẻ gãy ngang đùi, cũng như phần vải của ống quần. Nó không còn chút đặc tính nào của một cái chân người. “Ít nhất tôi cũng có thứ để yêu cầu xét nghiệm ADN…” Cô nhìn lần cuối đống xác chết nhỏ, ngẫm nghĩ một lát, rồi ra hiệu bảo anh lính lại gần. “Theo anh, chúng ta có thể chằng một sợi xích vòng quanh rồi dùng xe của anh kéo bật cả đống này lên được không?” “Cô sẽ làm gãy con ngựa và có thể là cả người kỵ sĩ nữa…” “Chúng ta không thể để anh ta lại đó suốt mùa đông được! Sớm muộn gì lũ thú ăn xác chết cũng tìm tới.” “Cô có thể nán lại hai ngày không?” “Ở đây á?” Oyun thốt lên. “Ở chỗ tôi, tại đồn.” “Làm thế sẽ giúp công việc của tôi tiến triển như thế nào?” “Nếu cô muốn mang ba cái xác của cô về, cần rã đông chúng, và tôi biết phải làm thế nào.” “Phải, tôi cũng đã nghĩ tới chuyện đó,” Oyun đáp. “Chúng ta có thể đốt lửa xung quanh…” “Chúng sẽ không trụ được qua đêm đâu. Ở đồn có một chiếc lều cũ do những người du mục bỏ lại sau một mùa dzüüd. Chúng ta sẽ quây lều xung quanh đống xác. Rồi đốt hai hay ba lò than bên trong, và tôi có hai chiếc máy sưởi điện nhỏ. Tất cả sẽ tan chảy trong hai mươi bốn giờ. Cô có thể ra về với trọn vẹn anh chàng gãy chân của cô.” “Này, nói năng tôn trọng một chút!” Oyun cắt ngang. “Đó là một nạn nhân.” “Tôi đâu phải người đã bẻ giò anh ta!” người lính nói đùa. “Đồng ý. Nhưng dù sao cũng tôn trọng anh ta. Tôi đủ hối tiếc về những gì mình đã gây ra cho anh ta rồi.” “Cô không phải hối tiếc đâu, cô em. Cô giúp anh ta chán vạn ra rồi!” “À thế sao?” “Phải. Tổ tiên chúng tôi nghĩ rằng phải bẻ xương người chết để linh hồn họ có thể thoát ra. Họ để người chết ngoài thảo nguyên mà không chôn cất để cho thú hoang tới gặm xương và giải phóng linh hồn những người này.” Oyun chợt nhớ Yeruldelgger từng kể cho cô nghe điều tương tự. Cô cũng nhớ lại tất cả những gì ông đã dạy cô về việc tôn trọng lều du mục. “Nhất trí về chiếc lều, nhưng đừng xúc phạm các linh hồn từng sống trong đó.” “Cô đừng có lo. Các linh hồn đã rời khỏi căn lều này từ lâu rồi. Hơn nữa chúng ta sẽ không bít kín các khe. Chúng ta chỉ phủ kín nó bằng mái lều lớn thôi. Linh hồn người xưa trú ẩn trong lớp dạ. Chúng ta sẽ không quấy quả họ.” “Được,” Oyun đáp, cô bắt đầu thấy có cảm tình với anh chàng quân nhân ngày càng ít chất quân nhân và nhiều chất du mục này. “Tôi sẽ quay lại cùng anh. Tôi nợ nạn nhân cụt chân khốn khố này điều đó.” Trước khi quay trở lại chiếc xe bọc thép, cô đưa mắt nhìn đống xác lần cuối, và người lính đoán ra điều cô đang nghĩ. “Tôi từng thấy lũ bò Tây Tạng nhảy chồm lên như dê bất chấp trọng lượng của chúng. Người ta nghĩ chúng lờ đờ và điềm đạm, nhưng nếu bị săn đuổi, chúng có thể trở nên nhanh nhẹn và hung hãn. Người kỵ sĩ có thể đã đuổi theo con bò cái để bắt nó về chuồng. Có thể con ngựa của anh ta đã trượt chân, và thế là trong cơn hốt hoảng, con bò cái đã nhảy chồm tới đè lên anh ta trước khi anh ta kịp nhảy khỏi ngựa.” “Và làm gãy lưng con ngựa sao?” “Một con bò cái to có thể nặng tới ba trăm kí lô.” “Nhưng nếu vậy thì vì sao con bò cái lại bị phanh bụng ra?” “Chúng ta không biết người kỵ sĩ ở bên dưới là người như thế nào. Có khi anh ta có một cây urga. Có thể là cây sào buộc thòng lọng đã gãy trong cú ngã và con bò cái bị xuyên thủng bụng chăng?”   Mời các bạn đón đọc Thời Hoang Dã của tác giả Ian Manook & Lê Đình Chi (dịch).
Dưới Một Mái Nhà Ở Paris
“Nghệ thuật là một lời nói dối khiến chúng ta hiểu được sự thật…” Paris, một xưởng vẽ giấu mình cuối một ngõ nhỏ rợp bóng cây xanh. Madeline đã thuê căn xưởng làm nơi nghỉ ngơi và tách mình khỏi thế giới. Do một nhầm lẫn ngẫu nhiên, nữ cảnh sát trẻ người Luân Đôn chạm trán với Gaspard, một nhà biên kịch đến từ Mỹ cũng thuê trọ tại chính nơi này. Họ buộc phải sống cùng nhau trong vài ngày, và chính ở đó, cùng nhau khám phá số phận bí ẩn của họa sĩ nổi tiếng Sean Lorenz, chủ căn nhà, người đã để lại ba bức tranh bí ẩn cuối cùng trước khi qua đời. Để vén được bức màn sự thật về Sean Lorenz, hai người buộc phải đối mặt với quỷ dữ ngự trị chính trong bản thân mình, trên một hành trình điều tra sẽ dẫn tới lối rẽ không ngờ khiến cuộc đời họ thay đổi mãi mãi. Một lần nữa Guillaume Musso ghi dấu tên tuổi mình với một cuốn tiểu thuyết trinh thám quyến rũ và gây nghiện bởi những nhân vật đậm chất nhân văn. Một sự dấn thân đáng kinh ngạc vào thế giới huyền bí của sáng tạo. “Một thành công tuyệt đối. Cuốn sách của sự trưởng thành và táo bạo.” - Bernard Lehut, RTL *** Guillaume Musso, sinh năm 1974 tại Antibes (miền Đông nước Pháp), hiện đang là giáo viên chuyên ngành kinh tế. Say mê văn học từ thuở nhỏ, anh bắt tay vào viết văn khi còn ngồi trên ghế giảng đường đại học. Văn chương của Guillaume Musso được ví như sự kết hợp hoàn hảo giữa Marc Levy và Stephen King, đậm màu sắc liêu trai, hấp dẫn, bất ngờ và lãng mạn mê đắm, tiệm cận chiều sâu tâm hồn mỗi con người. Những tác phẩm tiêu biểu của Guillaume Musso là: Skidamarink, Rồi sau đó…, Hãy Cứu Em, Hẹn Em Ngày Đó, Bởi Vì Yêu. Bảy Năm Sau Ngày Mai Nếu Đời Anh Vắng Em Cô Gái Trong Trang Sách Trở Lại Tìm Nhau Cuộc Gọi Từ Thiên Thần Giây Phút Này Công Viên Trung Tâm Cô Gái Brooklyn Cuộc Sống Bí Mật Của Các Nhà Văn Cô Gái Và Màn Đêm Cô Gái Vô Danh Trên Sông Seine Dưới Một Mái Nhà Ở Paris Cuộc Đời Là Một Tiểu Thuyết ... Tác phẩm của Gaulliaume Musso đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, và một số đang được dựng phim. Guillaume Musso được xem là hiện tượng best-seller của văn chương Pháp hiện tại. *** Dưới một mái nhà ở Paris là cuốn tiểu thuyết thuộc thể loại trinh thám nổi tiếng của nhà văn Guillaume Musso, tác phẩm sẽ đưa độc giả đến với một Paris khác lạ, không thơ mộng như trên phim ảnh mà ở đó ẩn chứa vô vàn những góc khuất đang đợi được khám phá.  Đôi nét về Guillaume Musso và Dưới một mái nhà ở Paris Guillaume Musso sinh năm 1974 tại miền đông nước Pháp, hiện tại bên cạnh việc viết văn, ông còn là giáo viên chuyên ngành kinh tế tại một trường trung học. Tác giả say mê văn học từ khi còn nhỏ và ông tự nhận mình là một kẻ nghiện sách. Ông bắt tay vào viết truyện khi còn ngồi trên giảng đường đại học và Skidamarink là cuốn sách đầu tay của Guillaume Musso, được xuất bản vào năm 2001, đã ghi được những dấu ấn nhất định trong lòng bạn đọc. Nhà văn gặp biến cố lớn trong cuộc đời khi ông phải đối mặt với cái chết cận kề trong một vụ tai nạn giao thông, điều đó trở thành cảm hướng cho Guillaume Musso chắp bút nên tác phẩm để đời Rồi sau đó, xuất bản vào năm 2004. Cuốn sách bán ra hơn một triệu bản tại nước Pháp, được dịch thành hai mười ba thứ tiếng và đạo diễn Gilles Bourdos đã chuyển thể thành bộ phim cùng tên. Guillaume Musso được ví như gã lãng du mơ mộng của văn học Pháp, những câu chuyện của ông là sự lồng ghép độc đáo của vô vàn tình tiết bất ngờ, giật gân với phút giây lãng mạn, thơ mộng. Có thể nói rằng phong cách văn chương của Guillaume Musso như một sự hòa quyện hoàn hảo giữa giọng văn ngọt ngào của Marc Levy và ngòi bút trinh thám kinh điển Stephen King, điều đó tạo nên sự hấp dẫn kỳ diệu cho những tác phẩm của ông. Dưới một mái nhà ở Paris là cuốn sách mang đậm màu sắc văn chương của tác giả, tác phẩm không chỉ mang đến câu chuyện bí ẩn, kịch tính mà còn đan xen một tình yêu kỳ lạ nhưng cũng rất đẹp.  Cuốn tiểu thuyết xoay quanh Madeline và Gaspard Coutances, hai người xa lạ vô tình sống chung trong một căn hộ tại Paris, họ phát hiện ra những điều kỳ lạ tại đây và cùng nhau vén từng tấm màn và tìm ra sự thật. Bức tranh đa chiều mở ra trong Dưới một mái nhà ở Paris Tất cả những yếu tố về hội hoạ đã được Guillaume Musso xử lý một cách hoàn hảo, để hình và nền trở nên hài hòa, mang lại một câu chuyện cuốn hút và đầy tính nhân văn. Paris hiện lên đầy chân thực nhưng không hề hoa mỹ, phô trương, không phải lúc nào đây cũng là một thành phố lý tưởng và hoàn hảo. Thô mộc, giống như một dòng chảy xiết, ồ ạt cần phải biết cách chế ngự. Paris với thời tiết chán ngán, mưa nặng hạt, bầu trời nhớp nhúa, không khí nóng ẩm, giao thông tắc nghẽn, dòng người xô đẩy để được tồn tại, nhóm người biểu tình, sự tham lam của giới truyền thông. Bầu không khí tệ hại nhưng lại là một sự lựa chọn hoàn hảo cho hai con người muốn tìm một nơi chốn dừng chân. Madeline Greene hài lòng khi ở Paris, khi mà London khiến cô kiệt sức, còn nơi đây lại là nơi cô từng dành thời gian để chữa lành vết thương lòng. Một nữ cảnh sát mẫn cán, dũng cảm, cùng với nhiều chiến tích phá án, cái ác không làm cô khiếp sợ, nhưng tình yêu lại suýt giết chết cô bằng lưỡi dao cắt cổ tay, tuyệt vọng và kiệt quệ. Chính vì thế cô ôm theo những hy vọng đã níu giữ được sự sống của cô, đến nơi này, Paris, để gửi gắm vào nó chút niềm tin cuối cùng. Gaspard Coutances là nhà biên kịch nổi tiếng và có tài. Anh có một tình yêu sâu sắc với nghệ thuật chân chính và căm ghét cách mà thế giới con người vận hành trong sự vô tâm và đầy rẫy những kẻ xu nịnh. Gaspard lựa chọn cuộc sống ẩn dật, không bao giờ xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng. Paris đối với anh thật ra cũng là một trong số những nơi chất chứa cơn điên loạn của thời đại mà anh sống, anh chỉ muốn tìm nơi viết xong vở kịch để trốn thoát khỏi cuộc hành hình đằng đẵng và được ly khai khỏi cuộc sống xã hội với anh là vô cùng hỗn loạn và điên rồ. Guillaume Musso bao giờ cũng đẩy những yếu tố bất ngờ làm kim chỉ nam cho tác phẩm của mình, dù rằng nó là một phong cách quen thuộc nhưng với Musso thì chưa bao giờ là cũ và đúng vậy, những bất ngờ, cũng chưa bao giờ làm người đọc hết ngạc nhiên. Chỉ vì sai sót thuộc về lỗi bên cho thuê nhà, hai con người với hai cuộc sống và tâm tư vốn dĩ chẳng liên quan gì đến nhau lại thuê trùng một chỗ ở. Đó là một căn hộ nhỏ nhắn thuộc góc phố Cherche-Midi, im lìm trong một con ngõ giữa lòng thành phố ồn ào, náo nhiệt, cùng với lối kiến trúc đầy tinh tế, thanh lịch, khoảng sân chữ L, những khung cửa gỗ cao hơn bốn mét nhìn thẳng ra bầu trời, với ánh sáng, hương hoa và tiếng chim. “Ta đang ở nông thôn chứ không phải là Paris!”. Madeline đã thầm thảng thốt lên như vậy. Gaspard cũng phải lòng với căn hộ này, mặc dù trước đây anh là con người chỉ rung động khi đứng trước phong cảnh chứ không phải là kiến trúc. Anh cảm nhận những “sóng tích cực” mà tin chắc rằng anh sẽ làm việc một cách hăng say và vui vẻ ở nơi đây. Điều gì đến cũng sẽ đến, hai nhân vật chính có cuộc gặp gỡ mở đầu không mấy thân thiện. Họ ghét nhau ra mặt, tranh giành căn nhà nhưng rồi vẫn phải chấp nhận sự tồn tại của người còn lại khi chẳng ai chịu rời đi. Để rồi tạo ra một bước ngoặt đầy bất ngờ Từ đây, câu chuyện của họ được bắt đầu từ những bí ẩn ly kỳ về người chủ quá cố của nơi này, họa sĩ Sean Lorenz. Sean vốn là nghệ sĩ tranh tường, người tiên phong cho những trường phái Graffiti ấn tượng và độc đáo. Tài năng và đầy sự sáng tạo, sự nghiệp của Sean từ độ tuổi thiếu niên cho đến khi trưởng thành và lập gia đình đi lên như diều gặp gió. Vô số các bức tranh sơn dầu nổi tiếng được ra đời, có giá trị lên tới hàng chục nghìn USD. Cuộc hôn nhân với nàng thơ xinh đẹp Pénélope Kurkowski và tình yêu mãnh liệt dành cho người vợ này đã giúp cho những nét vẽ của Sean Lorenz ngày một thăng hoa hơn. Ông đã cho ra đời hàng chục bức tranh vẽ người vợ xinh đẹp của mình, tiêu biểu là loạt tranh “21 Pénélope”. Nhưng không phải cuộc đời lúc nào cũng chỉ nở một nụ cười viên mãn. Jullian, cậu con trai độc nhất của họ bị bắt cóc và giết hại dã man. Kể từ đó, sự nghiệp và chính con người Sean Lorenz tụt dốc thảm hại. Cái chết của cậu con trai dần dần làm cho cuộc hôn nhân cũng đi vào đổ vỡ, tình yêu bỗng chốc hóa thành căm ghét và giận dữ, ích kỉ và tham lam. Sean luôn đổ lỗi cho Pénélope về sự ra đi của Jullian, ông đắm chìm trong rượu và ma túy, còn Pénélope đã hết yêu ông từ lâu, hay vốn dĩ cũng chẳng hề yêu ông, lấy đi gần hết số tài sản của Sean từ việc bán tranh rồi bỏ đi. Họ ly dị từ đấy. Trong cơn giận dữ và cuồng loạn, người họa sĩ tài ba ấy đã đốt nhiều bức vẽ nổi tiếng của mình, muốn phá hủy hoàn toàn kiệt tác “21 Pénélope”, hình ảnh chàng trai được mệnh danh “thợ pháo hoa” nay chỉ còn là một người đàn ông kiệt quệ cả về thể xác và tinh thần. Tuy vậy, những tác phẩm đó vốn không hoàn toàn thuộc về ông nữa, để đền bù thiệt hại, Sean đã hứa sẽ trao cho các nhà sưu tầm ba bức tranh mà ông đang hoàn thành và khẳng định giá trị của nó còn lớn hơn gấp đôi những tác phẩm trước kia. Đáng buồn thay, chưa thực hiện được lời hứa thì người họa sĩ yểu mệnh đã ra đi vì bệnh tật. Madeline và Gaspard, những con người yêu nghệ thuật, đã lắng nghe câu chuyện về Sean và bị cuốn vào vụ án tìm lại ba bức tranh của ông. Nhưng càng tìm hiểu sâu, càng lật ngược về quá khứ, họ càng lần ra được những điều đáng ngờ và bất hợp lý trong những năm tháng cuối đời của danh họa này, cũng như vụ bắt cóc và cái chết của Jullian. Manh mối là những kiệt tác duy nhất còn sót lại của Sean và những năm tháng hạnh phúc của cuộc đời ông bên người vợ xinh đẹp Pénélope. Dưới một mái nhà ở Paris, hai con người vô tình rơi vào một sự sắp đặt đầy kĩ lưỡng, cùng vén tấm màn đằng sau sân khấu của cuộc đời, bước vào cuộc hành trình điều tra sẽ dẫn dắt họ tới lối rẽ không ngờ khiến cuộc đời họ thay đổi mãi mãi. Suy cho cùng, “nghệ thuật là lời nói dối khiến chúng ta hiểu được sự thật”, không phải những gì được phơi bày trước mắt đã hoàn toàn là điều đúng đắn mà đôi khi những thứ được cất giấu kĩ càng, mới là điều quan trọng.  Guillaume Musso chưa bao giờ làm chúng ta thất vọng với những tác phẩm của mình, quyến rũ, gay cấn và gây nghiện là những gì mà Dưới một mái nhà ở Paris đã thu hút người đọc một cách mạnh mẽ. Vẫn đầy bất ngờ nhưng không hề rối rắm, Paris đã thật sự trở thành nơi mà mọi chuyện đều có thể xảy ra. Linh Đồng *** London, cuối giờ sáng một ngày thứ Bảy. Bạn còn chưa biết điều này đâu, nhưng trong chưa đầy ba phút nữa bạn sẽ đương đầu với một trong những thử thách gian lao nhất đời mình. Một thử thách tới lúc nào bạn không hay biết, nhưng sẽ in dấu trong bạn, gây đau đớn ngang với vết bỏng do sắt nung để lại trên làn da mềm mại. Ngay lúc này bạn đang thong dong dạo bước giữa sảnh trung tâm thương mại mang dáng dấp một sân trong kiểu cổ. Sau mười ngày mưa dầm mưa dề, bầu trời đã tìm lại được sắc lam thẫm đẹp đẽ. Những tia nắng đang làm vách kính cửa hàng sáng lung linh khiến tâm trạng bạn tươi vui. Để kỷ niệm thời khắc mùa xuân đến, thậm chí bạn đã tự tặng cho mình chiếc đầm ngắn màu đỏ chấm bi trắng này, nó đã cố quyến rũ bạn từ hai tuần nay. Bạn cảm thấy nhẹ nhõm, gần như phơi phới. Ngày hôm nay của bạn báo trước là sẽ thú vị: trước tiên là bữa trưa với Jul’, cô bạn thân nhất, một buổi làm móng giữa con gái với nhau, sau đó chắc sẽ đi xem triển lãm ở Chelsea, rồi tối nay là buổi hòa nhạc của PJ Harvey tại Brixton. Một hành trình yên ả trong những khúc quanh uốn lượn êm đềm của đời bạn. Chỉ trừ có điều bạn bỗng nhìn thấy nó. ★ Đó là một cậu nhóc tóc vàng rơm mặc quần yếm bò và áo khoác dạ màu xanh nước biển. Chắc tầm hai tuổi, hoặc hơn một chút. Đôi mắt to sáng màu và tươi cười lấp lánh đằng sau cặp kính sặc sỡ. Những đường nét thanh tú trên gương mặt trẻ thơ tròn trịa viền quanh bằng những lọn tóc ngắn sáng màu giống như một cuộn rơm dưới nắng hè. Bạn ngắm cậu nhóc đã được một lúc, từ xa, nhưng càng lại gần, bạn càng bị khuôn mặt cậu nhóc mê hoặc. Một vùng đất nguyên sơ, hớn hở, mà cả đau khổ lẫn sợ hãi đều chưa kịp đầu độc. Trên gương mặt non tơ này, bạn chỉ nhìn thấy một loạt những khả năng. Niềm vui sống, niềm hạnh phúc ở trạng thái thô mộc. Lúc này, cậu nhóc cũng đang nhìn bạn. Một nụ cười đồng lõa và thuần phác thắp sáng gương mặt cậu. Cậu hãnh diện khoe với bạn chiếc máy bay nhỏ bằng kim loại đang được những ngón tay mũm mĩm cho bay lượn phía trên đầu mình. – Vuuuuuuuuù… Trong khi bạn mỉm cười đáp lại nụ cười của cậu nhóc, một cảm giác lạ lùng bắt đầu bóp nghẹt bạn. Nọc độc chậm rãi của một xúc cảm khó hiểu làm loang khắp cơ thể bạn một nỗi buồn lạ lẫm. Cậu nhóc dang tay và bắt đầu chạy nhảy lon ton quanh đài phun nước bằng đá đang phun ra những cuộn nước bên dưới mái vòm của khu mua sắm. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, bạn ngỡ cậu nhóc đang chạy tới sà vào lòng mình, thế nhưng… – Bố, bố ơi! Bố thấy không, con làm máy bay này! Bạn ngước mắt nhìn lên và ánh mắt bạn gặp ánh mắt người đàn ông vừa bế bổng cậu nhóc. Một lưỡi dao buốt lạnh xuyên thấu bạn và trái tim bạn đông cứng lại. Bạn biết người đàn ông này. Cách đây năm năm, giữa hai người nảy sinh một chuyện tình kéo dài hơn một năm. Vì anh ta, bạn đã rời Paris tới Manhattan và thay đổi công việc. Suốt nửa năm, hai người thậm chí đã cố gắng sinh một đứa con mà không được. Rồi người đàn ông này quay lại sống cùng vợ cũ, trước đó họ đã có một đứa con chung. Bạn đã làm tất cả những gì có thể để níu kéo anh ta, nhưng như vậy là chưa đủ. Quãng thời gian ấy bạn đau khổ tột cùng, và đúng lúc bạn nghĩ đời mình đã lật sang trang mới, thì hôm nay bạn lại gặp anh ta, và chuyện này khiến bạn tan nát cõi lòng. Lúc này, bạn đã hiểu rõ hơn cảm giác xáo trộn của bản thân. Bạn tự nhủ đứa trẻ này đã có thể là con mình. Rằng đứa trẻ này hẳn đã có thể là con của bạn và anh ta. Người đàn ông lập tức nhận ra bạn và không hề tránh né ánh mắt bạn. Trước nét mặt sầu não của anh ta, bạn đoán anh ta cũng đang sửng sốt hệt như bạn, lúng túng, có phần sượng sùng. Bạn nghĩ anh ta sắp bước tới nói chuyện với mình, thế nhưng, giống như một con hươu đang cùng đường, anh ta phác một cử chỉ chở che con mình rồi vội vàng quay gót. – Đi nào, Joseph, bố con mình về thôi. Trong khi ông bố và đứa con trai đi xa dần, bạn không dám tin vào tai mình. “Joseph” là một trong những cái tên hồi ấy hai người cùng nhau dự định đặt cho đứa con của họ ở thì tương lai. Mắt bạn nhòe đi. Bạn cảm thấy mình bị tước đoạt. Một cơn mệt mỏi nặng nề ập xuống khiến bạn đứng hình suốt nhiều phút liền, làm bạn thẫn thờ, hóa đá, cổ họng nghẹn thắt. ★ Bạn phải nỗ lực lắm mới tới được lối ra cửa hàng. Tai bạn ong ong, cử chỉ trở nên máy móc, tứ chi như nặng đến hàng tấn. Ra đến công viên Saint James, bạn đã nhấc được cánh tay lên để vẫy một chiếc taxi, nhưng bạn run rẩy suốt cả quãng đường, đấu tranh chống những ý nghĩ đang quấy nhiễu mình, cùng lúc tự hỏi mình đang gặp phải chuyện gì thế này. Cánh cửa căn hộ riêng khép lại, bạn đi thẳng vào phòng tắm vặn cho nước chảy đầy bồn. Vào tới phòng ngủ, bạn không bật đèn. Vẫn mặc nguyên quần áo, bạn đổ vật xuống giường. Bất động. Hình ảnh đứa trẻ chơi máy bay diễu qua tâm trí bạn và, chẳng bao lâu sau, toàn bộ nỗi thất vọng mà bạn cảm thấy khi đứng trước người tình cũ biến thành cảm giác trống rỗng tàn bạo. Cảm giác nhung nhớ bóp nghẹt lồng ngực bạn. Bạn khóc, dĩ nhiên, nhưng bạn tự nhủ những giọt nước mắt có tác dụng gột rửa và cơn khủng hoảng này sẽ tự biến mất. Chỉ trừ có điều nỗi đau đang đào sâu, phình ra và dồn dập chồm lên bạn như một cơn sóng ngầm cuốn phăng bạn đi, khiến tất cả những con đê trong bạn vỡ toang, phóng thích những năm tháng bất mãn, oán hận, hy vọng rồi thất vọng. Cày xới lại những vết thương mà bạn ngỡ đã được chữa lành. Chẳng mấy chốc, con rắn bảy đầu lạnh lẽo của nỗi kinh hoàng uốn lượn giữa tứ chi bạn. Bạn nhảy dựng lên. Tim bạn đập lồng lên. Cách đây vài năm bạn từng trải qua một giai đoạn giống hệt, và mọi chuyện đã kết thúc chẳng mấy tốt đẹp. Nhưng ý nghĩ ấy lướt qua tâm trí bạn cũng vô ích, bạn không thể ngăn chặn được guồng quay của sự thể khó lòng lay chuyển. Toàn thân run rẩy không thể kiểm soát, bạn lảo đảo bước tới tận phòng tắm. Hộp thuốc cá nhân. Những ống thuốc. Bạn ngâm mình trong bồn tắm – đang đầy tràn – trong khi còn chưa cởi hết quần áo. Nước quá nóng hay quá lạnh, bạn thậm chí chẳng biết nữa và cũng mặc kệ. Trên ngực bạn là một cái đe. Trong bụng bạn là một vực xoáy. Trước mắt bạn là một chân trời đen kịt, mãi mãi bị nỗi sầu muộn chắn ngang. Bản thân bạn không ý thức được là mình đã ra nông nỗi đó. Những năm gần đây, bạn đã hơi lạc lối đôi chút, đúng thế, và bấy lâu nay bạn biết rằng cuộc đời vốn mong manh. Nhưng hôm nay bạn không ngờ mình bước hụt và mất thăng bằng nhanh đến thế. Nhất là, bạn không biết rằng dòng thác bùn lầy này lại chảy trong bạn. Bóng tối này, nọc độc này, sự khốn khổ này. Cảm giác cô đơn thường trực đột nhiên bị đánh thức và đang khủng bố tinh thần bạn. ★ Những ống thuốc bồng bềnh trên mặt nước như những con tàu dừng lại vì trời lặng gió. Bạn mở chúng ra rồi nuốt từng vốc những viên con nhộng. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Việc gì cũng phải làm đến cùng. Vậy nên bạn gỡ lưỡi dao lam từ bàn cạo đặt trên gờ bồn tắm rồi cho nó lướt qua hõm cẳng tay. Bạn vẫn luôn hăng hái chiến đấu, nhưng hôm nay bạn cảm thấy mình không còn khả năng làm vậy nữa, bởi kẻ thù không buông tha bạn và biết rõ về bạn hơn chính bản thân bạn. Trong lúc đưa lưỡi dao lại gần mạch máu, bạn chua xót nhớ lại cái niềm vui đắt đỏ mà bạn đã cảm thấy sáng nay khi thấy mặt trời qua ô cửa sổ. Rồi đến khoảnh khắc lạ lùng và an lòng này khi bạn biết rằng số mệnh đã an bài và chuyến đi không ngày về của mình đã bắt đầu. Như bị thôi miên, bạn lặng ngắm máu mình đang tan loãng và vẽ trong làn nước những đường lượn trang trí với vẻ đẹp không thể gọi tên. Trong lúc cảm thấy mình đang ra đi, bạn tự nhủ rằng ít nhất thì cảm giác đau đớn cũng sẽ dừng lại, và đúng vào thời khắc này, điều đó thật vô giá. Trong lúc quỷ dữ mang bạn đi theo làn hơi nước nóng bỏng, hình ảnh cậu nhóc lại lướt qua tâm trí bạn lần nữa. Bạn trông thấy cậu nhóc trên một bãi biển, phía trước là biển. Một nơi có thể là Hy Lạp hoặc miền Nam nước Ý. Bạn đang ở rất gần cậu nhóc. Gần đến nỗi bạn thậm chí có thể ngửi thấy mùi cát, mùi lúa mì tỏa ra từ cậu, yên ả như cơn gió nhẹ đêm hè. Khi cậu nhóc ngẩng mặt lên nhìn bạn, bạn cảm động vì gặp lại gương mặt xinh xẻo của cậu, cái mũi hếch và hàm răng thưa khiến nụ cười cậu đáng yêu khôn cưỡng. Cậu nhóc đó đang dang rộng hai cánh tay và bắt đầu chạy quanh bạn. – Mẹ ơi, nhìn này, con đang làm máy bay! Mời các bạn đón đọc Dưới Một Mái Nhà Ở Paris của tác giả Guillaume Musso & Phúc Chi Nhi (dịch).
Đứa Trẻ Thứ Sáu
“Cha hãy tha thứ cho con” là dòng chữ được tìm thấy viết trên những tấm bìa các tông gần xác các nạn nhân bị giết theo kiểu 4MK được phát hiện cách nhau vài chục phút ở cả Chicago và Nam Carolina, kết nối họ với cùng một kẻ giết Người. Các vụ giết người rõ ràng có liên quan chặt chẽ nhưng lại tách biệt bởi khoảng cách về không gian không thể nào hiểu nổi. Cùng lúc đó, khắp nước Mỹ rúng động vì thông tin Anson Bishop sẽ làm phát tán virus gây bệnh SARS. Sở Cảnh sát Chicago và FBI rơi vào tình trạng hỗn độn – một bệnh viện bị phong tỏa, dịch bệnh có nguy cơ bùng phát. Anson Bishop, nghi phạm chính trong các vụ giết người của 4MK, đã tiết lộ một câu chuyện hoàn toàn bất ngờ, một câu chuyện không chỉ làm đảo lộn những kết quả điều tra cũ mà sữ còn làm thay đổi cuộc sống của tất cả những người có liên quan đến nó. Với sự căng thẳng không ngớt và sự hồi hộp làm căng mạch đập, quá khứ được đưa ra ánh sáng và đi đến hồi kết ở tốc độ chóng mặt khi sự thật đằng sau động cơ của kẻ giết người 4MK cuối cùng cũng được làm rõ. “Phần ba của bộ truyện đã thắt lại tất cả những nút thắt còn lỏng lẻo một cách tuyệt hảo, đây quả thực là một bộ ba tuyệt vời với đủ những cú twist để làm hài lòng ngay cả Sherlock Holmes!” Bộ sách 4MK Thriller gồm có: 4MK Cái Chết Thứ Năm Đứa Trẻ Thứ Sáu *** J.D. Barker là một tác giả người Mỹ nổi tiếng quốc tế về phim kinh dị hồi hộp, thường kết hợp các yếu tố kinh dị, tội phạm, bí ẩn, khoa học viễn tưởng và siêu nhiên. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, Forsaken, là người vào chung kết cho Giải thưởng Bram Stoker năm 2014. *** Đứa Trẻ Thứ Sáu là phần ba và cũng là phần cuối trong series về tên sát nhân hàng loạt 4MK. Trong phần ba này Sam Porter bị phát hiện bắn chết một người phụ nữ, người anh đã giúp trốn khỏi nhà tù cùng một kẻ mà anh nghĩ là mẹ của Anson Bishop, tên là Sarah Werner. Sam Porter bị FBI tống giam. Anh bị cả Sở Cảnh sát Metro lẫn FBI nghi ngờ, các đồng nghiệp quay lưng lại với anh, khinh bỉ anh ngoại trừ Nash và Clair. Tình tiết truyện càng phát triển, những mối nghi ngờ dành cho Sam ngày càng tăng lên. Ai cũng cho rằng Sam chính là 4MK hoặc ít nhất hợp tác với 4MK giết hại những người khác. Con số nạn nhân trong tập ba này cũng không hề ít. Như thể chưa đủ kịch tính, khắp nước Mỹ lại rung động vì thông tin Anson Bishop sẽ làm phát tán virus gây bệnh SARS. Hai nạn nhân nữ trẻ tuổi sống sót dưới bàn tay 4MK được chuyển vào bệnh viện Stroger, trong tình trạng đã bị nhiễm cúm. Cả bệnh viện bị cách ly cùng với Nash và Klozowski. Cuộc truy tìm 4MK, truy tìm Sam và con virus diễn ra gay cấn, căng thẳng qua từng trang. Cùng với đó là những trang cuối cùng của cuốn nhật ký với đủ những gia vị êm đềm, xúc động, kịch tính và đau xót. Liệu Sam Porter có thể phá án liên hoàn 4MK mà anh đã theo đuổi suốt năm năm trời, đồng thời minh oan được cho bản thân không? Đứa Trẻ Thứ Sáu là một đoạn kết hoàn chỉnh cho cả ba phần. Những thắc mắc, những gì chưa được giải quyết ở hai phần trước đều có câu trả lời ở phần này. Ở phần ba vì còn liên quan đến cả dịch SARS nên dung lượng truyện dài hơn, tuy nhiên bù vào đó là những mâu thuẫn, những nghi ngờ, những sự thật và lời dối trá chồng chéo hơn, phức tạp hơn. Những án mạng cũng giống như phần một, các nạn nhân đều bị móc mắt, cắt tai và cắt lưỡi, với ba cái hộp màu trắng thắt dây đen ở bên cạnh. Mình chưa đọc phần hai nhưng ở phần ba này Sam Porter hoạt động phần lớn là một mình, anh vừa phải tự điều tra qua những mảnh ghép ít ỏi mình có, lại vừa phải trốn chạy cả FBI lẫn Sở Cảnh sát Chicago săn đuổi mình. Trong phần ba hầu như mọi bằng chứng FBI thu thập được đều chống lại Sam. Anh không thể minh oan, không thể phản biện lại một cách mạnh mẽ vì chứng mất trí nhớ do đạn bắn. Sam trúng đạn khi đang truy đuổi Weasel trong con ngõ từ phần một. Nên tất cả những gì anh nhớ được đều rất mơ hồ, anh không biết mình đã gặp ai, không nhớ mình đã làm gì, không nhớ mình đã từng đến đâu, không nhớ mình đã từng giết ai chưa. Sam buộc lòng phải hành động một mình, vận dụng toàn bộ kỹ năng thám tử của mình đã xóa lớp mây mù trong trí não anh và tìm ra sự thật, trong khi không có được sự hỗ trợ của đồng đội như phần một. Yếu tố hành động và suy luận được đẩy lên cao hơn, nên yếu tố kinh dị không được nhấn mạnh ở phần này nữa. Phần ba đánh dấu sự tham gia tích cực hơn của nhóm FBI, cụ thể là Đặc vụ Frank Poole. Thế nên tình tiết truyện vẫn đủ sức níu kéo mình đến cuối. Cả ba phần theo mình đều có liên quan chặt chẽ đến nhau, nên đọc lần lượt từ phần một để hiểu rõ toàn bộ cốt truyện. Còn nhiều điều nữa mình muốn nói cơ mà sẽ spoil hết nên đành dừng bút ở đây. Chúc mọi người có những phút giây vui vẻ khi đọc sách. Nguyen Quang Huy *** Tray Ngày 5 - 5:20 sáng “Này, thằng đầu đất, chỗ này là cái nhà trọ chó chết của mày đấy hả?” Giọng nói cộc cằn, như có sỏi trong mồm. Vào giờ này chắc là cảnh sát, bảo vệ hay có thể chỉ là một lão chủ nhà giận dữ. Không cần biết là ai, Tray Stouffer vẫn nằm bất động dưới những nếp gấp của chiếc chăn lông đã mốc. Thi thoảng khi bạn nằm bất động đủ lâu, họ sẽ bỏ đi. Đôi khi họ sẽ chán. Lại là tiếng giày đó - nhanh và mạnh. Cú đá thẳng vào dạ dày. Tray chỉ muốn thò đầu ra và gào lên, túm chặt lấy chân hắn và đánh trả. Nhưng nó chẳng làm gì. Vẫn nằm bất động hoàn toàn. “Mẹ kiếp, tao đang nói chuyện với mày đấy!” Thêm một cú đá nữa, mạnh hơn cú lúc nãy, trúng vào mạng sườn. Tray gầm gừ, không thể kiềm chế được. Siết cái chăn bông chặt hơn. “Mày có biết ảnh hưởng của mày và lũ bạn mày lên giá trị ở đây khi cắm trại ngoài này không? Tụi mày dọa bọn nhóc con sợ chết khiếp. Người già sẽ không rời khỏi tòa nhà này nữa. Thế họ cứ phải bước qua cái đống rác rưởi như mày để chạy đến cửa hàng đấy à?” À, vậy là lão chủ nhà. Tray đã từng nghe tất cả những chuyện này. “Mày có biết năm giờ sáng lúc mày đang ngủ thì tao làm gì ngoài này không? Trong khi cả lũ bọn mày nằm một đống trên hiên nhà chúng tao đấy. Khi đó tao vừa kết thúc ca làm việc mười tiếng đồng hồ tại Tiệm Bánh ngọt Delphine. Quần quật mười hai tiếng từ tối qua trong cái căn bếp chó đẻ đó. Rồi quay lại làm tiếp sau mười tiếng nữa. Tao khổ như thế là để trả tiền cho cái nơi này. Tao làm vậy là để góp công sức cho xã hội. Mày sẽ chẳng bao giờ thấy tao vất vưởng trên hè phố như lũ chó lười chúng mày. Cút đi mà tìm việc! Tự nuôi sống bản thân đi!” Ở tuổi mười bốn, làm gì có việc mà làm. Chẳng có việc gì hợp pháp hết. Chỉ hợp pháp nếu có sự cho phép của cha mẹ, và chuyện đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Tray vòng tay quanh người chịu cú đá tiếp theo. Nhưng thay vì đá, người đàn ông túm lấy một góc tấm chăn và giật mạnh, quẳng nó sang một bên. Tấm chăn rơi xuống vũng nước do tuyết đã tan một nửa dưới chân các bậc thềm. Tray run rẩy, cuộn tròn người lại, sẵn sàng chịu cú đá nữa. “Ớ, con gái à. Mà chỉ bé con con nhỉ.” Người đàn ông nói, cơn giận đã nguôi đi trong giọng nói. “Anh rất xin lỗi. Tên em là gì?” “Tracy.” Nó đáp. “Hầu hết mọi người đều gọi cháu là Tray.” Ngay lúc những lời này vừa thốt ra khỏi miệng, nó đã hối hận. Nó biết chuyện gì sẽ xảy ra mỗi khi nó nói chuyện với một người trong số chúng. Lẽ ra tốt hơn nó nên ngậm miệng lại, tự biến mình thành kẻ vô hình. Người đàn ông quỳ xuống, một cái túi giấy lủng lẳng trên tay trái. Anh ta trông không già lắm, có thể chỉ tầm ngoài hai mươi. Mặc áo khoác dày. Mái tóc nâu nhét vào trong chiếc mũ len thủy quân màu xanh đậm. Đôi mắt màu hạt dẻ. Dù trong cái túi kia đang đựng cái gì thì mùi vị của nó cũng rất thơm ngon. Anh ta bắt gặp ánh mắt con bé. “Tray, tên anh là Emmitt. Em đói chưa?” Nó gật đầu. Tự biết đó cũng là một sai lầm. Nhưng nó đang đói. Đói ngấu rồi. Anh ta thọc tay vào trong cái túi, rút ra một ổ bánh mì nhỏ. Hơi nước tỏa ra từ bề mặt gồ ghề xuyên qua bầu không khí Chicago lạnh giá, trong thoáng chốc Tray quên đi cơn gió buốt giá xuất phát từ phía hồ, hú lên từng hồi qua các con phố mỗi lần bốc lên. Dạ dày nó réo ùng ục, to đến nỗi cả hai đều nghe rõ. Emmitt bẻ một miếng bánh mì trao cho nó. Nó ăn ngấu nghiến chỉ sau hai lần cắn, thậm chí còn chẳng buồn nhai. Có lẽ đó là miếng bánh mì ngon nhất nó từng được ăn. “Muốn ăn thêm không?” Tray gật đầu, dù nó biết mình không nên thế. Emmitt thở hắt ra. Anh ta vươn tay ra vuốt ve má con bé bằng cạnh ngón tay trỏ. Di chuyển từ gương mặt xuống cổ con bé, trượt xuống dưới cổ áo len dài tay. “Sao em không vào trong này với anh? Có thể thoải mái ăn bao nhiêu bánh mì cũng được. Anh còn nhiều đồ ăn khác nữa cơ. Tắm nước nóng nữa. Giường ngủ thoải mái. Anh sẽ…” Dùng cả hai cánh tay, Tray xô mạnh hai vai người đàn ông. Vì đang ở tư thế quỳ một chân chênh vênh, anh ta không kịp tránh cú đánh. Lộn nhào về phía sau, chiếc túi lăn khỏi tay anh ta, đầu anh ta đập mạnh vào lan can cầu thang tòa nhà. “Con ranh khốn kiếp!” Anh ta quát lên. Anh ta còn chưa kịp ngồi dậy, Tray đã đứng lên. Quơ lấy chiếc túi giấy, nó nhấc ba lô lên, chạy như bay xuống năm bậc thềm, vơ vội cái chăn, chạy xuống phố Mercer. Anh ta sẽ không đuổi theo con bé; chúng hiếm khi làm thế, nhưng đôi khi… “Cút ngay khỏi chỗ này! Để tao bắt mày lại, tao sẽ báo cảnh sát!” Khi Tray thu hết can đảm ngoái đầu lại nhìn, Emmitt đã đứng dậy, đang nhặt nhạnh mấy thứ, xô mạnh cánh cửa đi vào tòa nhà. Kể cả từ khoảng cách xa như thế, nó hình dung mình cảm nhận được hơi ấm từ khu tiền sảnh đó. Nó vẫn không giảm tốc độ chạy tới khi đến trước cổng Nghĩa trang Rose Hill. Vào giờ này, cổng nghĩa trang đã khóa, nhưng con bé vốn gầy còm, nên một lúc sau nó đã lách qua được hàng chấn song bằng sắt rèn sang được bên kia cổng, sau lưng kéo theo ba lô và cái chăn. Chicago có mái ấm dành cho người vô gia cư, nhưng trước nó đã từng đi qua tuyến đường ấy. Vào giờ này chỗ đấy đã khóa cửa. Họ thường đóng cửa tất cả vào quãng từ bảy giờ tối đến nửa đêm, ngoài giờ ấy không nhận thêm bất kỳ ai nữa. Ngay cả nếu có, cũng chẳng thể tìm nổi một chỗ ngủ. Bên trong kín người hết rồi. Đôi khi người ta xếp hàng dài ngay từ trưa, không bao giờ có đủ chỗ. Hơn nữa, lang thang trên phố Tray cảm thấy an toàn hơn. Bọn “Emmitt” xuất hiện khắp nơi, đặc biệt là trong những mái ấm, điều duy nhất tồi tệ hơn việc đâm phải một tên Emmitt trên hiên tòa nhà, hay trong một con ngõ khuất gió nào đó, là bị mắc kẹt trong mái ấm cúng một tên như thế. Đôi khi không chỉ một tên. Bọn Emmitt có xu hướng lập nhóm săn mồi theo bầy. Tray không sợ nghĩa trang. Sau hai năm lang thang trên phố, nó từng ngủ ở mỗi nghĩa trang ít nhất một lần. Rose Hill là một trong những địa điểm ưa thích của nó, xét ở phương diện các khu nhà mồ. Không giống Oakwood hoặc Graceland, Rose Hill không khóa cửa các khu nhà mồ về đêm. Nhân viên bảo vệ dù vẫn có vài người, nhưng vào đêm lạnh lẽo như đêm nay, họ thà ngồi trong văn phòng chơi bài, xem ti vi hoặc ngủ vùi. Nó đã ngắm chán họ qua những ô cửa sổ. Con bé mạnh bước vào ngõ Tranquility qua lớp tuyết mới. Nó không lo lắng nếu có để lại dấu chân, vì biết gió sẽ lại xóa hết. Nhưng chẳng có lý do gì phải liều, nên sau khi lên tới đỉnh đồi, thay vì rẽ trái tại đường Bliss, nó đi cắt ngang qua Tranquility rồi ngoặt xuống con đường mòn nhỏ qua rừng chạy song song bên này đường Bliss. Cho dù không có đèn nhưng mặt trăng gần như tròn vành vạnh, và khi mặt hồ phản chiếu ánh trăng lọt vào tầm mắt, Tray không thể ngăn mình dừng chân nhìn ngắm. Bề mặt băng giá lấp lánh dưới lớp tuyết mỏng vừa rơi. Các bức tượng cẩm thạch lặng lẽ đứng dọc mép nước, ở giữa chúng là những chiếc ghế băng dài. Đúng là một chốn thanh bình. Rất tĩnh lặng. Ban đầu Tray không nhìn thấy cô ta, cô gái đang quỳ bên mép nước, ngoảnh mặt nhìn ra hướng khác. Mái tóc vàng buông xõa sau lưng. Trông cô ta như một trong các bức tượng, bất động, đang đối diện mặt hồ kia. Làn da cô ta nhợt nhạt, gần như trắng bệch, gần như không chút huyết sắc trong bộ đồ màu trắng. Đôi bàn chân cô ta để trần, không mang giày, không mặc áo khoác, chỉ mặc chiếc váy trắng được làm bằng thứ chất liệu mỏng đến nỗi như trong suốt. Đôi bàn tay cô ta siết chặt vào nhau gần ngực như thể đang cầu nguyện, đầu cô ta nghiêng sang một bên. Tray không nói gì, chỉ đến gần hơn. Đủ gần để nhận ra một lớp tuyết mỏng đã kịp phủ kín tất cả những gì đã khoác lên người cô gái. Và khi nó bước vòng sang phía bên kia cô gái, nó nhận ra đây không phải cô gái, mà là một người đàn bà. Sắc trắng tuyệt đối của cô ta, trên từng milimét trên cơ thể cô ta bị phá vỡ nhờ vệt máu đỏ tươi trải dài từ dưới tóc xuống một bên mặt. Thêm một vệt nữa từ con mắt trái của cô ta, một dòng lệ đỏ tươi, dòng thứ ba chảy xuống từ một bên khóe miệng - dòng máu này họa đôi môi cô ta thành đóa hồng rực rỡ nhất. Thứ gì đó được viết trên trán cô ta. Chờ đã, không phải là được viết. Trên hai đầu gối đang quỳ dưới tuyết của cô ta là một cái khay đựng đồ bằng bạc. Thứ bạn có thể thấy tại một bữa tiệc tối ngon miệng, một nhà hàng đắt tiền, đại loại những nơi mà cho dù đã mươi bốn tuổi, Tray cũng biết nó chỉ có thể thấy chúng trên ti vi hay trong những bộ phim. Trên khay là ba chiếc hộp nhỏ, màu trắng. Mỗi chiếc đều được buộc chặt bằng một mảnh vải đen. Phía sau những cái hộp, tựa vào ngực người đàn bà, là tấm biển bằng bìa các tông, giống những tấm biển Tray thường giơ lên để xin tiền mua đồ ăn. Có khác chăng con bé chưa bao giờ viết lên tấm biển những chữ như thế này. Trên tấm biển chỉ viết: CHA HÃY THA THỨ CHO CON Tray làm một việc duy nhất nó có thể làm: Bỏ chạy. Mời các bạn đón đọc Đứa Trẻ Thứ Sáu của tác giả J. D. Barker & Nguyễn Quang Huy (dịch).
Cái Chết Thứ Năm
Hai nữ sinh trung học liên tiếp mất tích. Xác của Ella Reynolds được phát hiện bên dưới mặt nước đóng băng ở công viên Jackson, còn xác của Lili Davies được tìm thấy trong phòng tranh nơi cô bé làm thêm sau mỗi buổi học. Không lâu sau đó, đến lượt hai người cha của các cô bị giết hại. Cảnh sát gần như không thể tìm ra điểm chung nào giữa các nạn nhân Trong khi các thanh tra của Sở cảnh sát Chicago chạy đua với thời gian để đưa tên sát nhân “mới nổi” ra ánh sáng thì Thanh tra Sam Porter bí mật tiếp tục săn lùng 4MK. Với hành trang là cuốn nhật ký của Anson Bishop và một bức ảnh nhòe mờ, Porter chạy đôn chạy đáo khắp các đường phố của New Orleans và tình cờ bước vào một thế giới còn tối tăm hơn những gì anh có thể tưởng tượng, nơi anh nhanh chóng nhận ra rằng thứ duy nhất đáng sợ hơn tâm trí của một kẻ giết người hàng loạt là tâm trí của người mẹ đã sinh ra hắn. Bộ sách 4MK Thriller gồm có: 4MK Cái Chết Thứ Năm Đứa Trẻ Thứ Sáu *** J.D. Barker là một tác giả người Mỹ nổi tiếng quốc tế về phim kinh dị hồi hộp, thường kết hợp các yếu tố kinh dị, tội phạm, bí ẩn, khoa học viễn tưởng và siêu nhiên. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, Forsaken, là người vào chung kết cho Giải thưởng Bram Stoker năm 2014. *** Porter Ngày 1 • 8:23 tối Bóng tối. Bóng tối dày đặc cuộn xoáy quanh anh, hút cạn ánh sáng, chẳng để lại gì ngoài khoảng không tối đen như mực. Một màn sương đang bủa vây tâm trí anh, những từ ngữ loay hoay tìm cách gắn kết với nhau, cố sao cho được một câu rành mạch, cố tìm cho ra ý nghĩa nào đó, nhưng đến lúc tưởng như đã ở rất gần thì chúng lại bị nuốt chửng và tan biến, thay vào đó là dự cảm chẳng lành cứ lớn dần, một cảm giác thật nặng nề - thân xác anh chìm dần vào vùng nước âm u sâu thẳm từ lâu đã rơi vào quên lãng. Anh ngửi thấy mùi ẩm thấp. Nấm mốc. Ướt át. Sam Porter những muốn mở mắt ra. Phải mở cho bằng được. Nhưng đôi mắt chẳng chịu tuân theo ý muốn của anh, chúng cứ thế nhắm chặt lại. Đầu anh vừa đau vừa nhức. Cơn đau dậy lên từng hồi phía sau tai bên phải và ở cả thái dương. “Cố gắng đừng cử động, Sam. Tôi không muốn anh cảm thấy buồn nôn.” Giọng nói cất lên loáng thoáng, xa xăm, quen thuộc. Porter đang nằm duỗi dài. Mười đầu ngón tay đặt trên tấm thép lạnh ngắt. Giờ anh nhớ ra mũi tiêm ấy rồi. Cây kim cắm vào dưới gáy, cú đâm diễn ra chóng vánh, dung dịch lạnh lẽo tràn vào bên dưới da, ngấm vào cơ bắp, sau đó… Porter cố mở mắt, song hai mí nặng trĩu nhất quyết kháng cự. Khô khốc, cay xè. Anh muốn dụi mắt, nhưng bàn tay phải vừa đưa lên đã ngay lập tức bị kéo về khi sợi xích ở cổ tay anh căng ra. Hơi thở nghẹn lại trong anh, anh gắng gượng ngồi dậy, đầu óc quay cuồng khi máu huyết từ trên dồn xuống. Suýt nữa anh lại nằm vật ra. “Ái chà, từ từ nào, Sam. Giờ anh đã tỉnh, etorphine* sẽ hết tác dụng nhanh thôi. Chịu khó chờ một lát đi.” Đèn bật lên, một chiếc đèn halogen sáng rực chiếu thẳng vào mặt anh. Porter nheo mắt nhưng quyết không quay đi, anh nhìn chằm chằm vào gã đàn ông đứng cạnh chiếc đèn, dáng người lờ mờ khuất trong bóng tối. “Bishop?” Porter gần như không nhận ra giọng mình nữa, nghe khàn đặc. “Khỏe không, Sam?” Cái bóng tiến sang phải một bước, lật úp cái xô đựng sơn rỗng có dung tích mười tám lít rồi ngồi lên đó. “Đừng chiếu cái đèn chết tiệt ấy vào mắt tao.” Porter kéo giật sợi xích ở cổ tay, đầu còn lại của chiếc còng va leng keng vào một đường ống dày, loại ống dẫn nước hoặc cũng có thể là dẫn ga. “Cái mẹ gì thế này?” Anson Bishop với tay đẩy cho chiếc đèn hơi chếch sang trái. Nó là loại đèn chiếu sáng trong các cửa hàng, được đặt trên một kiểu chân đế nào đó. Ánh sáng rọi lên bức tường gạch không nung, trong góc đằng xa có đặt cái máy nước nóng, phía bên kia là máy giặt và máy sấy cũ. “Đỡ hơn rồi chứ?” Porter giật sợi xích lần nữa. Bishop ném cho anh nụ cười nửa miệng và nhún vai. Lần cuối cùng Porter nhìn thấy hắn, hắn để tóc húi cua màu nâu sẫm. Mái tóc ấy nay đã dài ra, nhạt đi, bù xù. Mặt hắn lún phún lớp râu ba, bốn ngày chưa cạo. Bộ trang phục công sở theo phong cách đời thường đã không còn, thay vào đó là chiếc quần jeans và áo nỉ có mũ màu xám đậm. “Độ này coi bộ xuống mã nhỉ.” Porter nói. “Thời buổi khó khăn mà.” Nhưng hắn không thể thay đổi được cặp mắt, cũng như vẻ lạnh lùng ẩn chứa trong đó. Cặp mắt ấy muôn đời chẳng đổi khác. Bishop rút từ trong túi quần sau ra một cái thìa nhỏ, loại thìa ăn hoa quả có răng cưa, hắn lơ đãng xoay nó giữa những ngón tay, mép răng cưa sáng lên dưới ánh đèn. Porter ngó lơ cái thìa. Thay vào đó, anh liếc xuống, gõ ngón trỏ lên tấm kim loại mà anh đang nằm lên. “Cái băng ca này cũng cùng một kiểu với cái mày dùng để xích Emory vào phải không?” “Gần như thế.” “Không kiếm nổi cái giường gấp nào sao?” “Giường gấp hay hỏng lắm.” Một vũng màu đỏ sậm đọng lại bên dưới băng ca, vết nhơ tối thẫm trên mặt sàn bê tông nhếch nhác, bẩn thỉu. Nhưng Porter không hỏi han gì về nó. Sờ vào mặt dưới tấm kim loại rồi thu tay về, anh thấy ngón tay mình dinh dính. Điều này anh cũng chẳng thắc mắc. Bức tường bên trái anh có vài cái kệ, trên đó chất đầy dụng cụ quét sơn: thùng, chổi sơn, bạt phủ. Trần nhà phía trên đầu được ghép từ những tấm ván gỗ cỡ 2x6*, mỗi tấm cách nhau chừng bốn mươi centimet. Mạch điện để trần, ống nước và ống thông gió lấp đầy khoảng trống giữa các tấm ván. “Chỗ này là tầng hầm của một nhà dân. Ngôi nhà không lớn. Nhưng cũng cũ rồi. Đường ống trên đầu mày được bọc bằng a-mi-ăng, vì thế tao khuyên mày chớ có dại mà dây vào nó. Tao đoán nơi này bị bỏ hoang, vì cái đèn của mày đang phải dùng cáp nối dài, sợi cáp chạy lên tầng trên và cắm vào… gì nhỉ, một loại ắc quy nào đó chăng? Máy phát điện thì không phải rồi. Sẽ nghe thấy tiếng ngay. Mày không thèm dùng mấy ổ cắm trên tường, chứng tỏ nhà này đã bị cắt điện. Đã thế còn lạnh như nhà xác. Tao nhìn thấy được cả hơi tao thở ra, vậy nghĩa là hệ thống sưởi không hoạt động. Điều đó càng cho thấy đây là nhà hoang. Chẳng ai dám mạo hiểm ở trong căn nhà có đường ống bị đóng băng bao giờ.” Bishop tỏ vẻ hài lòng khi nghe điều này, một nụ cười thấp thoáng trên môi hắn. Porter tiếp tục nói. “Nhà này bề ngang tương đối hẹp. Vì thế đây hẳn là kiểu nhà thông cửa*. Mày chắc sẽ không chọn một khu dân cư sang chảnh nào đó có Starbucks, Internet, nơi người dân thường báo cảnh sát khi phát hiện đối tượng có tiền án tiền sự, bởi vậy tao đoán nhiều khả năng mày sẽ bám trụ ở khu Tây. Có thể là một con phố như phố Wood chẳng hạn. Ở đó nhiều nhà không người ở lắm.” Porter luồn bàn tay không bị còng vào trong chiếc áo khoác dày để tìm súng, nhưng chỉ thấy cái bao rỗng. Điện thoại di động của anh cũng mất rồi. “Đúng là cảnh sát có khác.” Phố Wood nằm cách căn hộ của anh ở Wabash những mười lăm phút lái xe nếu đường thông hè thoáng, Porter bị tiêm thuốc khi anh chỉ còn cách căn hộ chừng một khu nhà. Dĩ nhiên những điều này hoàn toàn chỉ là suy đoán, nhưng anh muốn gợi chuyện để Bishop nói tiếp. Càng mải ba hoa thì hắn càng ít nghĩ tới cái thìa kia. Cơn đau nhức nhối ở đầu giờ đã dồn cả vào phía sau mắt phải của Porter. “Anh không định thuyết phục tôi ra đầu thú sao? Rằng anh có thể giúp tôi thoát án tử nếu tôi ngoan ngoãn hợp tác ấy mà?” “Không có đâu.” Lần này Bishop mỉm cười thật. “Ê, có thứ này, anh muốn xem không?” Porter định bảo không, nhưng anh biết có nói gì đi nữa cũng vô ích. Tên này đã sắp sẵn trong đầu một kế hoạch, một âm mưu nào đó rồi. Chẳng kẻ nào dám liều lĩnh bắt cóc một thanh tra của Sở Cảnh sát Chicago ngay giữa phố nếu như không có mục đích rõ ràng. Anh cảm nhận được chùm chìa khóa đang nằm trong túi bên phải. Bishop đã chừa lại nó khi lấy súng và điện thoại của anh. Trong đó có chìa khóa mở còng, phần lớn còng tay đều dùng chung một chìa để mở. Hồi mới vào nghề, anh được biết lý do là vì người còng tay đối tượng và người mở còng cho chúng sau đó gần như chắc chắn không phải là một. Đối tượng bị bắt có thể sẽ qua tay vài người trong quá trình làm thủ tục nhập khám. Bởi vậy, các sĩ quan được dạy phải tịch thu chìa khóa tìm thấy khi khám người đối tượng, tất cả các chìa. Tên tội phạm sành sỏi nào cũng đem theo chìa khóa mở còng để dễ bề tẩu thoát trong trường hợp có gã cảnh sát gà mờ quên kiểm tra. Porter sẽ phải xoay xở để lấy được chùm chìa khóa ra khỏi túi bên phải, rồi bằng cách nào đó chuyển nó sang tay trái, mở còng và hạ gục Bishop trước khi hắn kịp băng qua khoảng cách một mét rưỡi giữa hai người. Tên này xem chừng không có vũ khí gì ngoài cái thìa. “Mắt nhìn thẳng phía trước, Sam.” Bishop nói. Porter lại hướng ánh mắt về phía hắn. Bishop đứng dậy, đi về phía cái bàn nhỏ cạnh máy giặt ở bên kia tầng hầm. Sau đó hắn trở lại chỗ cũ, đem theo một chiếc hộp gỗ trên nắp có đặt khẩu Glock của Porter. Hắn bỏ khẩu súng xuống sàn cạnh chỗ ngồi, dùng ngón cái gạt chốt cài của chiếc hộp và mở nắp ra. Sáu nhãn cầu ngước lên nhìn Porter từ bên trong chiếc hộp lót nhung đỏ. Những nạn nhân trước đây của Bishop. Porter liếc xuống khẩu súng. “Mắt nhìn thẳng phía trước.” Bishop nhắc lại kèm theo tiếng cười khẽ. Có điều gì đó không ổn rồi. Bishop xưa nay luôn tuân theo một khuôn mẫu cố định. Hắn xẻo tai nạn nhân trước, sau đó móc mắt, rồi cắt lưỡi, đặt vào một chiếc hộp màu trắng thắt dây màu đen và gửi đến cho gia đình mỗi nạn nhân kèm theo một tấm thiệp. Luôn là như vậy. Hắn không bao giờ thay đổi quy trình. Hắn không giữ lại chiến lợi phẩm. Hắn tin rằng mình đang bắt gia đình này phải trả giá cho tội ác nào đó mà họ gây ra. Một kiểu thay trời hành đạo quái đản. Hắn không giữ lại những cặp mắt. Không bao giờ hắn giữ… “Bắt đầu vào việc thôi.” Bishop vuốt tay lên nắp hộp, một cử chỉ đầy âu yếm, rồi đặt nó xuống sàn cạnh khẩu súng và giơ cái thìa ra trước ánh sáng. Porter lăn người xuống khỏi băng ca rồi kêu lên đau đớn khi đầu còng bằng kim loại cứa vào cổ tay anh, cái ống đã níu chiếc còng lại. Cố gắng quên đi cơn đau, anh lóng ngóng thò tay trái vào túi bên phải để lấy chìa khóa, đồng thời đạp băng ca về phía Bishop. Ngón tay Porter sượt qua chùm chìa khóa khi Bishop né được cái băng ca và tung cú đá vào ống quyển bên trái của anh. Chân anh khuỵu xuống, anh ngã nhào ra sàn, cái còng ở cổ tay phải mắc vào đường ống và giật mạnh đến nỗi trật cả khớp vai. Chưa kịp phản ứng gì thì anh chợt thấy đau nhói khi một mũi tiêm nữa đâm vào da thịt, lần này là bắp đùi. Anh cố cúi nhìn nhưng Bishop đã nắm lấy tóc anh, giật ngửa đầu anh ra sau. Ý thức bắt đầu rời bỏ anh. Porter cố cưỡng lại, cố phản kháng bằng tất cả sức lực trong anh. Anh cầm cự đủ lâu để trông thấy cái thìa đang từ từ đưa lại gần mắt trái của mình, đủ lâu để cảm nhận mép răng cưa cứa vào sụn mi nằm dưới nhãn cầu khi Bishop dùng sức chọc cái thìa vào hốc mắt anh, đủ lâu để… “Cô nàng nóng bỏng chứ?” Porter giật nảy người trên ghế, nhưng dây an toàn đã níu anh lại. Anh hít một hơi dài, hết nhìn trái rồi lại nhìn phải, ánh mắt anh dùng lại ở Nash đang ngồi trên ghế lái. “Hả? Ai cơ?” Nash cười giễu. “Em gái trong mơ của anh chứ ai. Thấy anh rên rỉ mà.” Sáu nhãn cầu. Tuy vẫn còn ngơ ngác nhưng Porter cũng đã nhận ra mình đang ngồi ở ghế phụ trên chiếc Chevy của Nash, dòng xe Nova đời 1972 cũ mà Nash tậu cách đây hai tháng, khi chiếc Ford Fiesta con cưng đột ngột khục khặc rồi chết ngóm trên đường 290 lúc ba giờ sáng, khiến anh buộc phải gọi về trụ sở xin một xe đến đón vì không liên lạc được với Porter. Porter đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. Kính xe bị phủ một lớp mỏng bụi đường và băng. “Đây là đâu?” “Chúng ta đang trên đường Hayes, phía trước là công viên.” Nash đáp và bật xi nhan. “Có lẽ anh nên đứng ngoài vụ này thì hơn.” Porter lắc đầu. “Tôi vẫn ổn.” Nash ngoặt xe sang trái, rẽ vào Công viên Jackson và đi theo con đường chính dẫn tới cổng vào mới được ủi sạch tuyết, ánh đèn chớp xanh đỏ lấp loáng hắt lên những rặng cây tăm tối xung quanh họ. “Từ đó đến nay đã bốn tháng rồi, Sam à. Nếu anh vẫn gặp vấn đề về giấc ngủ thì nên nói chuyện với ai đó. Không nhất thiết phải là tôi hay Clair, mà… người nào cũng được.” “Tôi vẫn ổn.” Porter nhắc lại. Họ đi qua một sân bóng chày nằm ở bên phải, cái sân bị lãng quên suốt mùa đông, rồi chiếc xe tiếp tục dấn sâu vào trong rừng cây khẳng khiu, trụi lá. Phía trước có thêm ánh đèn - nửa tá ô tô, mà cũng có thể nhiều hơn. Bốn xe cảnh sát tuần tra, một xe cứu thương, một xe van cứu hỏa. Những chiếc đèn pha công suất lớn sắp thành hàng ven đầm nước, máy sưởi chạy bằng khí propane đặt rải rác quanh khu vực được quây lại bằng dải băng cách ly màu vàng. Nash dừng lại phía sau chiếc xe van, gạt cần số về chế độ đỗ rồi tắt máy. Cái xe khục khặc hai lần, nghe như sắp sửa phát ra một tiếng nổ ngược kinh hoàng, sau đó mới chịu im hẳn. Porter nhận thấy vài sĩ quan nhìn chằm chằm về phía họ khi họ xuống xe và bước ra ngoài giữa trời đông buốt giá. “Chúng ta có thể đi bằng xe của tôi cũng được mà.” Porter nói với Nash, gót giày anh đạp trên lớp tuyết mới tinh phát ra tiếng lạo xạo. Porter sở hữu một chiếc Dodge Charger đời 2011. Phần lớn đồng nghiệp ở Sở vẫn hay gọi đùa cái ô tô của Porter là “con xế khủng hoảng tuổi trung niên”. Cái xe ấy đã thay thế cho chiếc Toyota Camry cách đây hai năm, khi Porter đón sinh nhật lần thứ năm mươi. Heather, người vợ quá cố của anh, đã mua cái xe thể thao này để làm quà tặng bất ngờ cho anh, sau khi chiếc Toyota bị kẻ xấu phá hoại rồi vứt bỏ tại một trong những khu vực “không mấy thiện cảm với cảnh sát” ở vùng phía nam của thành phố. Chính Porter cũng thừa nhận rằng khi ngồi sau tay lái, anh cảm thấy như trẻ ra mấy tuổi, nhưng chủ yếu là cái xe luôn khiến anh mỉm cười. Heather đã giấu chìa khóa xe vào trong chiếc bánh gatô sinh nhật rồi đem nướng lên, làm anh suýt mẻ răng khi cắn phải. Cô bịt mắt anh lại, dẫn anh xuống cầu thang và bước ra ngoài cổng, sau đó hát bài Happy Birthday cho anh nghe bằng giọng hát khó có cơ hội được góp mặt trong chương trình American Idol. Porter luôn nghĩ đến cô mỗi khi ngồi vào trong xe, nhưng giờ đây, dường như những điều gợi cho anh nhớ về cô cứ ngày càng ít đi, khuôn mặt cô mỗi lúc một mờ nhạt trong tâm trí anh. “Cái ô tô ấy chính là một phần của vấn đề đấy. Chúng ta lúc nào cũng đi bằng xe của anh, để cho em Connie kia bị xếp xó đến hoen gỉ trên lối đi nhà tôi. Nếu lái em ấy, tôi sẽ nhớ ra rằng tôi muốn cải tạo lại em ấy. Mà khi đã nhớ ra, biết đâu tôi sẽ chịu lết xuống gara và bắt tay vào thực hiện.” “Connie á?” “Ô tô cũng phải có tên chứ.” “Phải cái gì mà phải. Ai lại đi đặt tên cho ô tô bao giờ, mà anh đâu có biết cách cải tạo em… nó… sao cũng được. Có mà lúc anh lôi cái xe cũ rích ấy về nhà, lần đầu tiên cầm lấy cờ lê, anh đã hiểu ra còn lâu anh mới cải tạo xong nó chỉ trong vòng bốn mươi ba phút giống như mấy gã trong Overhaulin’*.” Porter nói. “Chương trình đó đúng là nhảm nhí. Lẽ ra phải nói thật quá trình sửa chữa kéo dài bao lâu chứ.” “Như thế vẫn còn tốt chán. Ít nhất anh cũng không đâm nghiện kênh HGTV* và tưởng mình có thể tranh thủ những lúc rảnh rỗi để cải tạo nhà cửa rồi rao bán.” “Cái đó thì đúng. Nhưng họ sửa lại mấy căn nhà chỉ trong vòng có hai mươi hai phút mà lãi thu về còn khủng hơn.” Nash đáp. “Nếu sửa được một, hai căn, tôi có thể thuê người độ lại xe. Ê, Clair kìa…” Họ chui qua dải băng cách ly màu vàng, tiến lại gần đầm nước. Clair đang đứng cạnh một cái máy sưởi, di động áp vào tai. Nhìn thấy họ, cô lấy tay bịt loa thoại, hất hàm về phía bờ đầm và bảo “Bọn tôi nghĩ đó là Ella Reynolds,” rồi lại tiếp tục nói chuyện điện thoại. Tim Porter chùng xuống. Ella Reynolds là cô bé mười lăm tuổi mất tích ở gần khu vực Quảng trường Logan sau khi tan học cách đây ba tuần. Lần cuối cùng có người trông thấy Ella là lúc cô xuống xe buýt của trường, cách nhà khoảng hai khu. Bố mẹ cô lập tức gọi cảnh sát, thông báo khẩn cấp tìm trẻ em mất tích được đưa ra chỉ một giờ sau khi cô biến mất. Nhưng nỗ lực đó không mang lại kết quả gì. Cảnh sát chẳng nhận được tin báo nào có giá trị. Nash tiến lại gần mép nước, Porter theo sau. Cái đầm đã đóng băng. Bốn cọc tiêu hình nón màu cam được đặt trên mặt băng ở xa bờ, quây lại bằng dải băng vàng, tạo thành một hình chữ nhật. Tuyết ở đó đã được quét sạch. Porter rón rén bước lên băng, dỏng tai nghe ngóng xem có tiếng “rắc” cảnh báo nào vang lên dưới chân không. Dù cho có bao nhiêu dấu giày để lại trên mặt đầm đóng băng đi nữa, anh lúc nào cũng run khi thêm vào đó dấu giày của mình. Khi Porter tiến đến gần, cô bé dần dần hiện ra trong tầm mắt. Lớp băng trong vắt như pha lê. Cô ngước lên nhìn bằng ánh mắt vô hồn từ bên dưới băng. Da cô trắng bệch trông thật ghê rợn, hơn nữa còn ánh lên sắc xanh, chỉ trừ vùng da quanh mắt. Hai quầng mắt cô tím bầm lại. Môi cô hé mở như có điều muốn nói, những điều vĩnh viễn không được thốt ra. Porter quỳ xuống để có thể quan sát kĩ hơn. Cô bé mặc áo khoác đỏ, quần jeans đen, đội mũ len trắng và đeo găng tay cùng bộ, đi đôi giày màu hồng có vẻ giống kiểu giày tennis. Hai tay buông thõng, chân hơi cong lại, mất hút dưới vùng nước tối đen. Thường thì xác ngâm dưới nước sẽ trương lên, nhưng ở nhiệt độ này, cái lạnh lại giúp bảo quản thi thể. Porter thà phải nhìn xác trương còn hơn. Khi người chết ít nhiều mất đi diện mạo của con người, anh thấy dễ tiếp nhận những gì mình đang chứng kiến hơn, ít bị cảm xúc chi phối hơn. Cô bé này trông chỉ như đứa trẻ con, tuyệt vọng, đơn độc, say ngủ bên dưới tấm chăn bằng băng. Nash đứng phía sau anh, đưa mắt quan sát rừng cây bên kia đầm. “Nơi này từng là địa điểm tổ chức Hội chợ Quốc tế vào năm 1893. Ngày trước còn có khu vườn kiểu Nhật ở đằng xa, chỗ cây cối um tùm ấy. Bố tôi từng dẫn tôi tới đây chơi khi tôi còn nhỏ. Ông bảo hồi Thế chiến thứ hai, ở đây bung bét lắm. Tôi nhớ có đọc được ở đâu đó rằng người ta đã huy động vốn để cải tạo khu này vào mùa xuân. Thấy đám cây bị đánh dấu kia không? Chúng sắp bị chặt đấy.” Porter nhìn theo ánh mắt người cộng sự. Cái đầm được chia thành hai mé đông và tây, bao quanh một đảo nhỏ. Nhiều cây trên đảo Cây được thắt những dải ruy băng màu hồng quanh thân. Có vài chiếc ghế nằm rải rác bên kia bờ, bị phủ một lớp tuyết trắng mỏng. “Theo anh, cái đầm này đóng băng từ bao giờ?” Nash ngẫm nghĩ giây lát. “Chắc là cuối tháng Mười hai, đầu tháng Một. Sao anh lại hỏi thế?” “Nếu đây đúng là Ella Reynolds, vậy làm thế nào cô bé nằm dưới băng được? Cô bé mới mất tích ba tuần trước. Lúc đó băng đã rắn chắc lắm rồi.” Nash mở bức ảnh chụp gần đây của Ella Reynolds lưu trong điện thoại và cho Porter xem. “Trông giống đấy, nhưng cũng có thể chỉ là trùng hợp, có thể một cô bé nào đó rơi xuống đầm khi băng vẫn còn mềm chẳng hạn.” “Nhưng cô bé kia giống y hệt người trong ảnh.” Clair bước tới bên cạnh họ. Cô hà hơi vào tay và xoa xoa. “Tôi vừa nói chuyện với Sophie Rodriguez ở Ban Tìm kiếm Trẻ em Mất tích. Tôi chụp ảnh gửi cho cô ấy và cô ấy khẳng định người này là Ella Reynolds, nhưng quần áo thì không khớp. Cô ấy nói lúc mất tích, Ella mặc áo khoác màu đen. Ba nhân chứng cũng xác thực khi ở trên xe buýt cô bé mặc áo đen chứ không phải áo đỏ. Cô ấy đã gọi điện cho mẹ của Ella và bà ấy nói con gái mình không có áo khoác đỏ, mũ len và găng tay len trắng nào cả.” “Vậy thì hoặc đây là một người hoàn toàn khác, hoặc có kẻ đã thay đồ cho Ella.” Porter nói. “Chỗ này cách địa điểm cô bé mất tích những hai mươi lăm kilômét.” Clair cắn môi dưới. “Bên pháp y sẽ phải xác định danh tính của cô bé.” “Ai tìm thấy cô bé vậy?” Clair chỉ về phía chiếc xe tuần tra đỗ ở đằng xa, ngoài khu vực cách ly. “Một cậu bé và ông bố. Cậu nhóc mới mười hai tuổi.” Cô xem lướt phần ghi chú trong điện thoại. “Scott Watts. Cậu ta tới cùng với bố để xem cái đầm đã đông cứng đủ để học trượt băng chưa. Tên ông bố là Brian. Ông ta nói cậu con trai gạt đi lớp tuyết và trông thấy một phần cánh tay cô bé. Ông ta bảo con tránh ra và tự mình phủi sạch tuyết đủ để xác thực đúng là người thật, sau đó gọi 911. Chuyện xảy ra khoảng một giờ trước. Cuộc điện thoại gọi đến lúc bảy giờ hai mươi chín phút. Tôi đã bảo họ ngồi chờ trong xe tuần tra, phòng khi anh có điều muốn hỏi họ.” Porter dùng móng tay trỏ cạo lên băng, rồi nhìn quanh bờ đầm. Hai sĩ quan khám nghiệm hiện trường đứng dạt về bên trái, nhìn ba người bọn họ bằng ánh mắt cảnh giác. “Ai trong số hai người đã dọn chỗ này?” Porter hỏi. Sĩ quan trẻ hơn, một phụ nữ khoảng ba mươi tuổi có mái tóc vàng cắt ngắn, đeo kính và quàng khăn màu hồng, giơ tay lên. “Là tôi ạ, thưa Thanh tra.” Cộng sự của cô rục rịch chân. Anh ta có vẻ lớn hơn cô khoảng năm tuổi. “Tôi là người giám sát. Sao thế?” “Nash, đưa tôi thứ kia được không?” Anh chỉ vào cây cọ có lông dài màu trắng đặt trên một trong mấy bộ dụng cụ của Đội Khám nghiệm. Porter ra hiệu cho hai sĩ quan lại gần. “Đừng sợ, tôi không mấy khi cắn đâu.” Hồi tháng Mười một vừa rồi, Porter quay lại làm việc sớm dù còn đang trong đợt nghỉ phép bắt buộc do cấp trên áp xuống sau khi vợ anh bị giết trong một vụ cướp xảy ra tại một cửa hàng tiện ích gần đó. Anh muốn tiếp tục đi làm, chủ yếu là vì công việc giúp anh phân tâm, tạm quên đi chuyện xảy ra. Những ngày đầu tiên sau khi vợ mất, khi anh tự giam mình trong căn hộ, là quãng thời gian tồi tệ nhất. Nhìn đâu cũng thấy những thứ gợi nhớ về cô. Khuôn mặt cô nhìn anh từ những bức ảnh bày ở hầu khắp các dãy kệ. Mùi hương của cô vẫn phảng phất đâu đây, nguyên tuần đầu tiên anh không sao chợp mắt được nếu không đặt vài bộ đồ của cô trên giường. Ngồi trong căn hộ, anh chỉ nghĩ đến một điều duy nhất, đó là anh sẽ làm gì với kẻ đã giết cô, những ý nghĩ anh không muốn lưu giữ trong đầu. Cuối cùng, tên sát nhân Bốn Con Khỉ - tức 4MK - đã kéo anh ra khỏi nhà. Cũng chính 4MK là kẻ đã bắt hung thủ giết vợ anh phải đền mạng. 4MK là lý do khiến những người như hai sĩ quan này cư xử kỳ quặc khi có mặt anh. Không hẳn là họ sợ, đúng hơn là họ kiêng dè. Anh là tay cớm đã để cho 4MK thâm nhập vào cuộc điều tra của cảnh sát dưới danh nghĩa sĩ quan khám nghiệm hiện trường. Anh là tay cớm bị 4MK đâm trong chính ngôi nhà của mình. Anh là tay cớm đã bắt được tên sát nhân hàng loạt ấy rồi lại để hắn trốn mất. Bốn tháng sau, người ta vẫn còn nói về vụ đó, chẳng qua không nói với anh thôi. Hai sĩ quan tiến lại gần. Người phụ nữ ngồi xổm xuống cạnh anh. Porter dùng cọ quét đi chỗ tuyết ở sát bờ và cả ngoài rìa khu vực họ đã làm sạch trước đó. Sau khi mở rộng vòng tròn thêm sáu mươi centimet, anh đặt cọ xuống rồi xoa tay lên mặt băng, bắt đầu từ tâm vòng tròn và chầm chậm tiến dần ra ngoài. Khi chỉ còn cách đống tuyết khoảng mười centimet thì anh dừng lại. “Chỗ này. Cô sờ thử xem.” Sĩ quan trẻ tuổi tháo găng và dè dặt làm theo anh, đầu ngón tay cô lướt trên mặt băng. Cô dừng lại cách lòng bàn tay Porter khoảng gần ba centimet. “Có cảm thấy không?” Cô gật đầu. “Có chỗ hơi võng xuống. Ít thôi, nhưng chắc chắn là có.” “Cô lần theo đi. Đánh dấu lại bằng cái này.” Anh đưa cho cô chiếc bút dạ. Một phút sau, cô đã vẽ xong một hình vuông lớn ngay ngắn phía trên cái xác và hai hình vuông nhỏ hơn ở hai bên, mỗi hình có cạnh khoảng mười centimet. “Vậy là đã có câu trả lời.” Porter nói. Nash nhíu mày. “Thế này nghĩa là sao?” Porter đứng dậy, đỡ người phụ nữ lên cùng. “Cô tên gì?” “Sĩ quan khám nghiệm hiện trường Lindsy Rolfes, thưa Thanh tra.” “Sĩ quan Rolfes, cô có thể giải thích ý nghĩa của hình vẽ này không?” Cô ngẫm nghĩ giây lát, nhìn từ Porter sang mặt băng, rồi lại nhìn anh. Cuối cùng, cô đã hiểu. “Cái đầm này bị đóng băng, nhưng có người đã cắt băng ra, có thể là bằng cưa máy không dây, sau đó thả cô bé xuống nước. Nếu cô bé sảy chân ngã thì chỗ băng vỡ sẽ nham nhở chứ không vuông vắn thế kia. Nhưng có điểm bất hợp lý…” “Điểm gì?” Cô nhíu mày, thò tay vào hộp dụng cụ và lấy ra cái máy khoan không dây, lắp mũi khoan có đường kính hai mươi lăm milimet rồi khoan hai lỗ, một lỗ ở ngoài phạm vi mấy hình vẽ, một lỗ gần với thi thể. Cô dùng thước đo khoảng cách từ mặt băng tới mặt nước ở cả hai lỗ. “Sao lại thế nhỉ, cô bé nằm bên dưới ranh giới đóng băng.” “Tôi chẳng hiểu gì cả.” Clair nói. “Hắn đã đổ nước vào.” Porter nói. Rolfes gật đầu. “Đúng vậy, nhưng tại sao? Hắn có thể khoét một cái hố, đẩy cô bé xuống bên dưới lớp băng sẵn có, rồi để cho cái hố tự đông lại được mà. Như thế sẽ nhanh chóng và dễ dàng hơn nhiều chứ. Cô bé có thể biến mất, thậm chí là vĩnh viễn.” Clair thở dài. “Làm ơn giải thích cho những người không được học qua lớp Hố Băng sơ cấp như tụi tôi được không?” Porter ra hiệu về phía cái thước, Rolfes đưa nó cho anh. “Băng ở đây dày ít nhất mười centimet. Mọi người có thể thấy mực nước đo được ở chỗ này.” Anh chỉ vào dấu vết trên cái thước. “Nếu khoét một hình vuông trên băng rồi nhấc ra, ta sẽ được một thành băng dày mười centimet tính từ mặt băng tới mặt nước. Giả sử ta thả xác cô bé vào đó, cô bé chìm xuống, sau đó ta muốn xóa cái hố này đi. Chỉ có một cách. Đó là đợi cho tới khi mặt nước phía trên cái xác đóng băng, chí ít là một lớp mỏng, sau đó đổ nước vào hố cho bằng với mặt băng xung quanh.” “Ít nhất phải hai giờ sau nước mới bắt đầu đóng băng.” Rolfes nói. “Cũng có thể nhanh hơn một chút, căn cứ vào nhiệt độ ngoài trời mấy ngày gần đây.” Porter gật gù. “Hắn tiếp tục đổ nước vào cho tới khi lượng nước mới ngang bằng với lớp băng xung quanh. Hung thủ là kẻ rất kiên nhẫn. Việc này cực kỳ mất thời gian.” Anh quay sang viên sĩ quan giám sát. “Chúng ta sẽ cần đến chỗ băng này. Thu thập tất cả những gì có ở phía trên cô bé cộng thêm ít nhất vài centimet xung quanh hình vuông. Rất có thể có dấu vết nào đó rơi vào nước trong lúc đóng băng. Hung thủ quanh quẩn ở đây rất lâu.” Viên sĩ quan có vẻ như muốn cãi lời, sau đó lại miễn cưỡng gật đầu. Anh ta biết Porter nói đúng. Ánh mắt Porter lại hướng về phía đám cây cối um tùm ở đằng xa. “Có điều, tôi không hiểu tại sao kẻ làm việc này lại không vứt cô bé ở kia. Đem cái xác tới nơi quang đãng này, hì hục cắt băng, lấp đầy nước, chờ cho đóng băng… như vậy quá mạo hiểm. Hung thủ có thể đem cô bé qua cầu rồi bỏ lại ở bất cứ chỗ nào bên đó, sẽ chẳng ai phát hiện ra cho tới tận mùa xuân, khi công nhân bắt đầu thi công. Vậy mà hắn lại dành hàng giờ để dàn dựng hiện trường gần khu vực có nhiều người qua lại. Chấp nhận nguy cơ bị bắt quả tang. Để làm gì? Để tạo cảm giác cô bé đã nằm đây lâu hơn nhiều so với thực tế ư? Hắn chắc chắn phải biết cảnh sát thế nào cũng đoán ra chứ.” “Xác chết thường không nổi lên mặt nước.” Nash nói. “Ít nhất là trong vài ngày đầu. Nhìn cô bé xem. Được bảo quản hoàn hảo. Tôi vẫn chưa hiểu sao cô bé lại nổi lên thế kia.” Porter di ngón tay theo cạnh của hình vuông lớn rồi dừng lại ở một trong hai hình vuông nhỏ kế bên. Áp mặt lại gần lớp băng, anh nhìn nghiêng từ bên cạnh và quan sát thi thể. “Quỷ tha ma bắt.” “Gì thế?” Rolfes rướn người tới. Porter rà bàn tay lên mặt băng trên vai cô bé. Khi tìm thấy thứ cần tìm, anh đặt tay Rolfes lên đó. Cô nhìn anh, mắt cô dần mở lớn trong lúc ngón tay hơi bấm xuống băng. Cô sờ vào vị trí tương ứng ở phía đối diện. “Hắn giữ cho cô bé khỏi chìm bằng cách dùng một vật bắc ngang qua cái hố này, có thể là tấm ván cỡ 2x4, căn cứ vào những dấu vết để lại. Sau đó, hắn quàng một sợi dây hoặc sợi thừng qua vai cô bé, rồi buộc vào tấm ván trong lúc chờ cho chỗ nước mới đóng băng. Xong xuôi, hắn cắt dây đi. Mọi người vẫn có thể sờ thấy hai đầu dây trong lớp băng ở chỗ này. Đoạn dây còn lại đủ để giữ cho cô bé nổi lên gần mặt nước. Mọi người sẽ thấy một sợi thừng mảnh nếu lựa đúng vị trí nhìn xuống lớp băng theo một góc nghiêng.” “Hắn muốn cô bé được tìm thấy ư?” Clair hỏi. “Hắn muốn để lại dấu ấn sâu đậm trong trường hợp cô bé được tìm thấy.” Porter nói. “Hắn hao tâm tổn trí dàn dựng sao cho nhìn bề ngoài tưởng như cô bé chết cóng dưới đầm từ nhiều tháng trước, dù thực tế cô bé mới ở đây cùng lắm là vài ngày, có thể ít hơn. Ta cần phải tìm hiểu lý do.” “Tên này đang giỡn mặt chúng ta.” Rolfes nói. “Hắn sắp đặt hiện trường để truyền tải câu chuyện nào đó.” Bản năng tự bảo vệ và nỗi sợ là hai trong số những bản năng mạnh mẽ nhất của con người. Porter không rõ liệu mình có muốn gặp một kẻ vô cảm với cả hai điều đó hay không. “Vớt cô bé lên đi.” Cuối cùng, anh nói. Mời các bạn đón đọc Cái Chết Thứ Năm của tác giả J. D. Barker & Matryoshka (dịch).