Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Đàn Bà Trong Cồn Cát (Kobo Abe)

“Người đàn bà trong cồn cát” được xuất bản vào năm 1961 và đem về cho tác giả Kobo Abe (1924-1993) giải văn chương danh giá Yomiuri của Nhật, đã đưa tên tuổi của Abe lên hàng quốc tế sau khi bản dịch Anh ngữ được phát hành. Ông là tác giả Nhật được dịch ra tiếng ngoại quốc nhiều nhất. Một cuốn phim cùng tên, do chính tác giả viết truyện phim và Hiroshi Teshigahara (1927-2001) đạo diễn, được trình chiếu vào năm 1964, cũng đã đoạt giải Special Jury Prize tại Cannes Film Festival, 1964. Năm sau, cuốn phim đã được đề cử, nhưng không trúng, giải Oscar cho Best Foreign Language Film Oscar, và giải Oscar cho Best Director.

Đó là câu chuyện về một anh giáo viên vô danh tiểu tốt ở Tokyo, tên Niki Jumpei, và là một tay sưu tập côn trùng tài tử. Tuy nhiên, anh ta cũng có một tham vọng, đó là có thể tìm được một con côn trùng nào mà chưa ai kiếm ra, để tên anh sẽ được gắn liền với con côn trùng đó và được đi vào bách khoa tự điển. Ước vọng này đã đưa anh đến một làng ven biển vào một dịp nghỉ. Mải mê tìm côn trùng, anh không để ý là đã lỡ chuyến xe buýt cuối cùng về thành phố. Khi ngỏ ý với ba người đàn ông anh gặp trên đụn cát là liệu anh có thể nghỉ qua đêm tại nhà một dân làng nào đó để sáng mai tiếp tục đi kiếm côn trùng, họ liền tỏ ra sẵn sàng giúp và đưa anh ta tới một căn nhà xiêu vẹo ở duới sâu trong lòng một cái hố cát, phải leo xuống bằng thang giây. Tại căn nhà đó, một người đàn bà còn trẻ đã đón tiếp và cơm nước cho anh. Niki không ngờ đấy là một cái bẫy mà định mệnh đã dành cho anh.

Nguyên ngôi làng này bị nạn bão cát đe dọa chôn vùi. Ngôi nhà của người đàn bà ở bìa làng sát biển, như một thứ tiền đồn, cần phải giữ cho đừng bị cát chôn vùi, vì nếu một khi cát chôn căn nhà đó thì sẽ tiến tới căn nhà kế và rồi dần dà cả làng sẽ bị xóa sổ. Xúc cát là công việc hàng đêm - phải làm ban đêm vì lúc đó cát ẩm, dễ xúc vào xô, để người ta tới kéo những xô cát này lên và đem đi bán. Ngoài sứ mệnh bảo vệ làng, qua tinh thần "Yêu nơi chôn nhau cắt rốn của mình”, châm ngôn của làng, người đàn bà được trả công bằng thực phẩm, nước và những thứ cần thiết khác. Từ ngày chồng và con của chị ta bị bão cát chôn sống một năm về trước, chị làm việc xúc cát một mình không xuể. Và người ta đã lừa bắt cóc Niki để điền vào chỗ nhân sự thiếu hụt đó.

Khi biết ra, Niki đã tìm mọi cách để thoát. Thoạt đầu anh ta trói người đàn bà lại làm áp lực dân làng. Đáp lại, dân làng ngưng cung cấp nước và thực phẩm cho hai người. Niki đành làm cái việc xúc cát trong khi âm mưu tìm cách trốn. Một lần anh ta đã leo lên được trên miệng hố và tìm cách thoát khỏi ngôi làng, nhưng bị bắt lại và buộc phải tiếp tục cái việc xúc cát ban đêm để rồi ban ngày cát khô bị gió thổi tiếp tục đe dọa ngôi nhà của người đàn bà, như nhân vật Sisyphe trong huyền thoại Hy Lạp bị buộc làm cái việc vô tận: đẩy một hòn đá lên đồi, chờ nó lăn xuống chân đồi, rồi lại đẩy lên, cứ thế, không được ngừng.

Dù vậy, Niki cũng vẫn chưa bỏ cuộc. Biết rằng nước là vũ khí dân làng dùng để khuất phục anh, nếu anh không chịu ngoan ngoãn làm theo ý họ, họ sẽ cúp nước, Niki tìm cách triết nước từ cát ẩm. Cũng trong thời gian âm thầm nghiên cứu việc này, Niki và người đàn bà, như lửa gần rơm lâu ngày phải bén, trở nên gần gũi hơn, sống với nhau như vợ chồng. Khi người đàn bà mang bầu và khám phá ra là đã mang thai ngoài dạ con, dân làng phải thòng cái thang giây xuống để kéo chị ta lên đưa đi nhà thương cấp cứu. Niki ở lại cái hố. Anh ta đã không tin ở mắt mình khi thấy dân làng sau khi đưa ngưòi đàn bà đi nhà thương đã không rút cái thang lên. Anh mon men lại bên cái thang, rồi leo lên mà không gặp một trở ngại nào. Lần đầu từ khi bị bắt cóc bỏ xuống hố cát, anh ta nhìn thấy biển. Niki đi lang thang trên miệng hố, rồi lại leo trở xuống hố cát. Anh xem xét công trình triết nước và thấy nước uống được giữ lại trong thùng chứa, như vậy dự án triết và trữ nước của anh đã thành công. Anh ta không cảm thấy có nhu cầu phải thoát thân ngay. Anh nghĩ anh sẽ ở lại để cho dân làng biết về việc này. Tìm mua: Người Đàn Bà Trong Cồn Cát TiKi Lazada Shopee

Cuốn truyện kết thúc bằng một án lệnh của tòa tuyên bố người đàn ông đã chết sau bảy năm có tên trên danh sách người bị mất tích, để lại cho người đọc một câu hỏi “tại sao Niki chọn ở lại” to lớn, và những nhà nghiên cứu về tác giả và tác phẩm mặc sức lý giải tại sao!***

Trong khi Haruki Murakami và Banana Yoshimoto là những nhà văn đang nổi lên trên văn đàn Nhật Bản và là hai nhân vật hết sức quen thuộc ở Việt Nam hiện nay, tôi muốn lưu ý bạn đọc về một xu thế mới có lẽ tồn tại như một dòng chảy ngầm. Khi nói về xu thế này, vào năm 1990 nhà văn danh tiếng Kenzaburo Oe (1935 - 2007), tác giả đạt Giải thưởng Nobel Văn chương năm 1998, có viết: “Lớp nhà văn này đã tích lũy trong mình cảm nghĩ về thực hạng xã hội và sức mạnh của văn học. Trong số họ nổi lên hàng đầu là Kobo Abe, một trong những gương mặt quan trọng nhất, nổi bật nhất sau chiến tranh. Ông sáng tác với ý thức tách khỏi truyền thống Nhật Bản, tuy gắn bó với việc xây dựng thế giới ảo tưởng, nhưng vẫn in đậm một lối nhìn riêng tư mà nghiêm túc về đời sống hiện đại”.

Khi còn trẻ, Abe rất hứng thú với môn toán học và sưu tập côn trùng. Cũng giống nhiều nhà văn Nhật Bản hiện đại nổi tiếng thế hệ trước như Mori Ogai, Natsume Soseki, Tanizaki Junichiro, v.v., ông tiếp thu và chịu ảnh hưởng sâu sắc các nhà tư tưởng bậc thầy của phương Tây, có lẽ nhiều năm sống ở nước ngoài và đời sống văn hóa đương đại của nó đã thôi thúc ông, nghiên cứu các nhà triết học phương Tây như Heidegger, Jaspers và Nietzsche... Năm 1941, Abe trở về Nhật Bản, năm 1943 ông thi đỗ Đại học Tokyo rồi theo học y khoa tại đây. Luôn ốm yếu do mắc bệnh đường hô hấp nên Abe được miễn quân dịch. Trong chiến tranh, ông tới sống ở Manchuria. Sau khi khỏi bệnh Abe tiếp tục việc học hành và tốt nghiệp vào năm 1948, nhưng ông tự nhủ sẽ không bao giờ hành nghề y. Từ đây Abe đã bước vào sự nghiệp văn học. Ông tham gia nhóm văn chương do Kiyoteru Hamada dẫn dắt. Khuynh hướng sáng tác là hợp nhẩt các kỹ thuật của chủ nghĩa siêu thực với tư tưởng Marxist.

Ngay từ năm 1943, Kobo Abe đã cho ra đời một tác phẩm đầu tay. Bạn đọc hẳn đã nhận thấy Haruki Murakami, tác giả Rừng Na Uy, viết với một phong cách bộc trực, giọng điệu trung tính, lạnh lùng, câu ngắn gọn, đôi khi cộc lốc. Ông tránh lối diễn đạt uyển chuyển mà người Nhật hay dùng để câu nói mềm mại hơn khiến ngôn từ trở nên mập mờ. Còn văn phong của Abe lại cô đọng và chuẩn mực, nó cho thấy nỗi bận tâm của ông đối với tư tưởng của tác phẩm hơn là kỹ thuật viết cốt tạo ra phong cách. Những nhà văn chủ chốt có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thẩm mỹ của ông bao gồm Edgar Allan Poe, Samuel Beckett, Rainer Maria Rilke và Fyodor Dostoyevsky, và đặc biệt là Franz Kafka. Ảnh hưởng của Kafka càng rõ rệt trong hai tác phẩm Kabe (Bức tường) và S. Karuma Shino Hanzai (Tội lỗi của S. Karuma) sáng tác vào năm 1951. Tác phẩm này được Giải Akutagawa, giải thưởng văn học cao quý nhất ở Nhật, kể chuyện một người phát hiện ra rằng tấm danh thiếp của anh ta tự hóa thành người và giả dạng anh ta mà phạm tội khiến anh ta bị tòa án lôi ra phán xử. Năm 1947, Abe cho ra mắt một tuyển tập thơ. Abe chi thực sự được coi là một nhà văn nổi tiếng với tiểu thuyết, Owarishi Michi No Shirube Ni (1948), kể về cuộc đời một kẻ nghiện thuốc phiện. Vào những năm 1950, Abe gia nhập Đảng Cộng sản Nhật Bản. Năm 1962 ông xin ra khỏi Đảng bởi những bài báo phê phán chính sách của Đảng Cộng sản Nhật Bản.

Những tác phẩm mang tính trải nghiệm của Abe được thế hệ độc giả trẻ hết sức ngưỡng mộ. Abe đã nhận được giải thưởng cho ba truyện ngắn của ông, Aai Mayu (Cái kén đỏ, 1950), Kabe (1951) và S. Karuma Shino Hanzai (1951). Như nhiều nghiên cứu đã đề cập, vấn đề chủ đề và phong cách viết thường là nỗi ám ảnh đối với nhà văn F. Kafka đến mức ông đã phải khai thác nhiều yếu tố qua các truyện khoa học viễn tưởng và trinh thám để xây dựng tác phẩm của mình. Còn các tiếu thuyết và vở kịch của Abe thì đặc trưng ở sự quan sát kín đáo và các kỹ thuật viết tiên phong (avant-garde techniques). Khi đã quen thuộc một số tác phẩm của Kobo Abe bạn đọc sẽ nhận thấy thông thường các cảnh ngộ hay hoàn cảnh mà các nhân vật của ông phải đối mặt, hay đương đầu, thường là kỳ quặc, không thực tế, và thái độ cùng hành vi của họ được bộc lộ qua khái niệm tự do ý chí. Các tác phẩm sau đây của Abe là những minh chứng cụ thể cho nhận định này: Dai - Yon Kampyoki (1959), Moetsukita Chizu (Tấm bản đồ rách, 1967), Mikkai (1977) và Hako Otoko (Người đàn ông trong chiếc hộp, 1974).

Ở phương Tây, Abe hết sức nổi tiếng với hai tiểu thuyết The Women in the Dunes (Người đàn bà trong cồn cát, 1962) và The Face of Another (Khuôn mặt người khác, 1964). Chủ đề trung tâm trong các tác phẩm này của Abe là nỗi lạc lõng về thân phận, mặc cảm bị xa lánh và ghét bỏ, nỗi cô đơn cá nhân giữa một thế giới kỳ quặc, và những con người gặp khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng. Hai kiệt tác này là các tác phẩm vượt khỏi mỹ quan truyền thống Nhật Bản, sáng tạo mới mẻ, dùng nhiều hình tượng cụ thể hay siêu thực để diễn tả nội tâm và tiềm thức con người bị tha hóa, vong ngã trong xã hội đô thị. Các quan niệm giáo điều hay thành kiến đã bị ông lật ngược lại. Thông thường con người được xem là trung tâm của vũ trụ, chúa tể của muốn loài, nhưng tác phẩm của ông lại chủ trương bình đẳng giữa các loài, không những thế còn có thể biến đổi từ loài này sang loài khác, và ngược lại, con người hóa thân thành sinh vật, sinh vật lại mang nhân cách như con người. Ông đề cao ý thức, lại chủ trương nhục thế chi phối tinh thần, hoàn cảnh xã hội quy định ý thức, và tự do chỉ có thật khi cá thế thoát ra khỏi mọi tập thể như quốc gia hay cộng đồng. Kobo Abe không ngừng thử nghiệm những thủ pháp và tư tưởng mới lạ, kể cả khoa học viễn tưởng, triết lý hiện sinh, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.

Ở Người đàn bà trong cồn cát, người đọc khó mà phân định được thực hư, người nào là kẻ chạy trốn, người nào là kẻ lùng bắt, ai biết đâu là ranh giới giữa hư ảo và hiện thực. Kobo Abe đã giải thích những vấn đề tâm sinh lý, ý thức và tiềm thức... để cố gắng truyền đạt đến người đọc một cách cụ thế những hiện tượng có thực ở vùng sâu kín trong hay dưới tầng ý thức. Ông chú trọng đến ảnh hưởng của tiềm thức và vô thức đối với hành vi của con người.

Kobo Abe đã sử dụng mọi dạng cảm xúc của con người, từ niềm tự hào và nỗi sợ hãi tới những khát khao tình dục và cả nỗi thất bại ê chề - tất cả, tất cả đều dồn vào nhân vật chính trong câu chuyện (Niki Jumpei), rồi thì qua đó mặc cho bạn đọc tiến hành một sự tự nhận thức (self-awareness) về sự phi lý của thân phận con người. [1]

Tác phẩm Người đàn bà trong cồn cát ngay lập tức đã cuốn hút đạo diễn điện ảnh Teshigahara Huoshi, cuốn phim của ông dựa trên tác phẩm kể trên đã giành được thành công to lớn vào năm 1963. Tác phẩm điện ảnh này đã giành Giải thưởng Đặc biệt tại Liên hoan Phim Cannes. Diễn viên Kyoko Kishida, người khởi nghiệp điện ảnh qua vai thiếu phụ trẻ trong tác phẩm này, sau đó đã trở nên nổi tiếng trong phim Moomin và một số phim khác. Đạo diễn Teshigahara Huoshi còn cộng tác với Kobo Abe để dựng phim cho hai tác phẩm The Pitfall (Cạm bẫy khó lường, 1962) và The Face of Another (Khuôn mặt người khác, 1966).

Abe còn sáng tác một số vở kịch và điều hành một công ty biểu diễn do ông thành lập ở Tokyo. Các chủ đề về trạng thái cô độc và bị xa lánh, ghét bỏ trong các vở kịch như Friends (1967) và The Suitcase (1973) của ông được diễn trên sân khâu có một cái gì đó rất gần gũi với các tác phẩm của Samuel Beckett và Harold Pinter. Sau khi nhà văn danh tiếng Yukio Mishima qua đời, Abe được xem như nhà soạn kịch chủ chốt ở Nhật vào những năm 1970. Nhà hát của ông, còn có tên Abe Kobo Studio, được mời lưu diễn tại New York City vào năm 1979. Abe mất vì bệnh tim ngày 22 tháng Giêng năm 1993, giữa lúc đang viết tiểu thuyết cuối cùng The Flying Man (Người bay), tác phẩm vừa mới xuất bản đã ngay lập tức được truy tặng giải thưởng trong năm 1993.

Với số lượng tác phẩm to lớn và những đóng góp đặc sắc của ông cho văn học Nhật Bản, Kobo Abe được đánh giá là một trong những tác gia quan trọng nhất của nền văn chương nước này ở thế kỷ XX.

Hà Nội, Mùa hạ 2009Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Kobo Abe":Bọn Chiếm ĐóngChiếc Thuyền Nô-ÊKhuôn Mặt Người KhácNgười Đàn Bà Trong Cồn Cát

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Người Đàn Bà Trong Cồn Cát PDF của tác giả Kobo Abe nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Chết Trước Hoàng Hôn (Charline Harris)
Có lẽ, Sookie Stackhouse sẽ chỉ là một cô hầu bàn rất đỗi bình thường nếu không có một "khiếm khuyết" nhỏ - khả năng đọc tâm trí người khác. Vậy nhưng cô lại không tài nào nghe được suy nghĩ của Bill Compton - chàng ma cà rồng điển trai lạnh lùng ngày nọ bất ngờ bước vào cuộc sống của cô. Kể từ lúc anh xuất hiện, cuộc sống của cô và những người quanh cô đã như luôn bên bờ thảm họa. Bởi có bạn trai là ma cà rồng chưa chắc đã là điều tuyệt vời với cô...***Charlaine Harris (25/11/1951) sinh ra và lớn lên tại Tunica, Mississippi và hiện giờ đang sống ở Arkansas cùng chồng và ba người con. Bà sáng tác thơ, truyện ngắn, kịch và tiểu thuyết. Chết trước hoàng hôn (Dead Until Dark) là tập đầu tiên trong bộ tiểu thuyết ăn khách The Southern Vampire Mysteries (Bí ẩn ma cà rồng miền Nam), từng giành được giải Anthony Award cho Tác phẩm thần bí xuất sắc nhất 2001. Bộ tiểu thuyết này cũng được đạo diễn Alan Ball chuyển thể thành series phim truyền hình ăn khách nhiều năm liên tiếp True Blood.***SAM ĐẾN BÁO TIN CHO TÔI LÚC MƯỜI MỘT GIỜ. “Họ sẽ bắt giam Jason ngay khi anh ta tỉnh lại, Sookie à, mà có vẻ chẳng lâu nữa đâu.” Sam không nói làm sao anh biết được chuyện đó, và tôi cũng chẳng hỏi. Tôi nhìn anh chăm chăm, nước mắt lăn dài trên má. Nếu vào một ngày khác, có lẽ tôi đã nghĩ đến chuyện trông mình xơ xác đến thế nào khi khóc, nhưng hôm nay không phải ngày để quan tâm đến chuyện nhan sắc. Tôi đang gặp rắc rối nghiêm trọng, lo sợ cho Jason, buồn chuyện của Amy Burley, giận dữ vì nhầm lẫn ngu ngốc của cảnh sát, và ẩn dưới tất cả những cảm xúc đó, là nỗi nhớ Bill da diết. “Họ nghĩ có vẻ như Amy Burley đã gây chiến. Họ nghĩ anh ta đã uống say sau khi giết cô ta.” Tìm mua: Chết Trước Hoàng Hôn TiKi Lazada Shopee “Cảm ơn vì đã báo cho em, Sam à.” Giọng tôi như cất lên từ một nơi rất xa nào đó. “Anh nên đi làm thôi.” Sau khi Sam đã nhận ra tôi cần được ở một mình, tôi gọi đến tổng đài hỏi số điện thoại của Máu Trong Phố. Tôi quay số, chẳng hiểu sao cứ cảm thấy như mình đang làm một chuyện gì đó xấu xa. “Máuuuuu... Trong Phố xin nghe,” một giọng nói trầm trầm đột ngột vang lên. “Quan tài của bạn khi xa nhà.” Chúa ơi. “Xin chào. Tôi là Sookie Stackhouse, gọi từ Bon Temps,” tôi lịch sự nói. “Tôi cần để lại một lời nhắn cho Bill Compton. Anh ấy là khách ở đây.” “Răng nanh hay người?” “À... răng nanh.” “Làm ơn đợi một chút.” Sau một lúc giọng nói trầm trầm đó lại vang lên. “Lời nhắn là gì, thưa cô?” Tôi chần chừ một lúc. “Làm ơn nhắn với ông Compton rằng... anh trai tôi vừa bị bắt, và tôi sẽ rất cảm kích nếu anh ấy về nhà ngay khi hoàn thành xong công chuyện.” “Tôi ghi lại rồi.” Tiếng bút nguệch ngoạc. “Cô nhắc lại tên được không?” “Stackhouse. Sookie Stackhouse.” “Được rồi, thưa cô. Tôi sẽ để lại lời nhắn cho anh ấy.” “Cảm ơn.” Và đó là việc duy nhất tôi có thể nghĩ ra được, cho đến khi nhận ra sẽ thực tế hơn rất nhiều nếu tôi liên lạc với Sid Matt Lancaster ngay. Ông ta cố hết sức ra vẻ kinh hoàng khi nghe tin Jason sẽ bị bắt, hứa hẹn sẽ cấp tốc đến bệnh viện ngay khi xong việc ở tòa án chiều nay, và rằng anh ta sẽ thông báo lại tình hình với tôi.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Chết Trước Hoàng Hôn PDF của tác giả Charline Harris nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Chết Ở Venice (Thomas Mann)
Chết ở Venice là một cuốn sách quyến rũ đến bệnh hoạn. Ánh mắt của kẻ si tình, đã trở thành cái gương soi chiếu tuyệt đối của cái đẹp. Chàng thiếu niên trẻ tuổi hiện lên qua đôi mắt mê mẩn của Aschenbach thì trở nên tuyệt mỹ, không gì có thể cưỡng lại được. Đó không phải là thứ ái tình đơn thuần, và Mann ngay từ đầu cũng không chỉ viết về một câu chuyện tình yêu đơn phương tuyệt vọng. Mann đeo đuổi cậu bé niên thiếu xinh đẹp kia qua hết các đường phố ổ Venice, cũng để ngắm vẻ xinh đẹp như thiên thần của cậu. Từng chi tiết, đường nét trên khuôn mặt, thân thể cậu đều được nhìn ra bằng ánh mắt mê mụ kỳ lạ. Chỉ có cái tình của một nghệ sĩ đắm đuối cái đẹp mới có thể nhìn thấy và nâng niu từng chút từng chút đẹp đẽ đến như thế. Và đoạn cuối của cuộc hành trình, với cái chết lặng lẽ của Aschenbach, Chết ở Venice đã đạt đến sự tuyệt hảo của câu chuyện, lúc người nghệ sĩ hoàn toàn quy phục cái đẹp, bước vào của sự dấn thân vào mê đắm, con người không thể nào thoát ra được, chỉ có cái chết mới là tận cùng. Cái kết đỉnh cao này, dễ khiến người đọc liên tưởng đến cái chết của người đàn ông trong Tiếng cười trong bóng tối của Nabokov, khi đã đi đến tận cùng của si mê và cám dỗ. Ở cuốn sách mỏng này, người đọc có thể dễ dàng nhận ra cái chất đặc biệt của Mann, ấy là sự suy nghiệm đậm chất triết lý, với những quan điểm rõ ràng về nghệ thuật bằng lòng tôn sùng cái đẹp. Mann coi cái đẹp là nguồn cơn của sáng tạo, và vì thế cả đời mải miết đi tìm cái cùng sâu bản nguyên của cái đẹp. Ở kiệt tác đầu tay, Gia đình Buddenbrooks, là cái đẹp của sự những hào quang tàn lụi. Tới Núi thần lại là cái đẹp tuyệt đỉnh cô quạnh của thiên nhiên xa vắng, và lòng người mênh mang. Còn với Chết ở Venice, bên cạnh thành phố Venice xinh đẹp như hư ảo, chính Mann đã tìm ra cái con đường để phá hủy của những vòng vây triết lý khô cứng, nguyên tắc, để khai phá tận cùng bản năng thấm nhuần cái đẹp của một tâm hồn nghệ sĩ. Chết ở Venice được xuất bản lần đầu vào năm 1912, cùng thời gian đó, ông bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết đồ sộ Núi thần. Hai cuốn sách này có nhiều điểm khá tương đồng, dù xét về mặt ngôn ngữ, Núi thần đưa lại cảm giác tươi sáng dễ chịu hơn, và những suy niệm về tình yêu, lòng ham muốn nhục dục cũng như cái chết đều được miêu tả rõ ràng, chi tiết hơn, khác với sự dồn nén, ngột ngạt cực độ mà tác phẩm mang lại. Nếu nhà văn Aschenbach vì cuồng si cậu bé Tadzio mà ở lại Venice, thì chàng trai Hans Castorp cũng vì ham muốn một thiếu phụ người Nga mà ở lại núi thần. Đặc biệt, trong cả hai cuốn sách, Mann đều chọn những nơi có bối cảnh tuyệt đẹp để kể câu chuyện của mình, ấy cũng được xem là cái duy mỹ vô cùng của nhà văn. Núi thần hoàn thành sau Chết ở Venice hơn chục năm với nhiều lần sửa chữa, bỏ dở. Thomas Mann được trao giải Nobel năm 1929. *** Tìm mua: Chết Ở Venice TiKi Lazada Shopee Paul Thomas Mann là nhà văn Đức đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1929 và Giải Goethe năm 1949. Ông được coi là nhà văn lớn nhất của Đức thế kỷ 20. Thomas Mann sinh ở Lübeck, Đức, là con trai thứ hai của Thomas Johann Heinrich Mann (thương gia và thành viên Hội đồng thành phố), và Júlia da Silva Bruhns (một người Brasil sang Đức năm lên 7 tuổi). Thomas có anh trai tên là Heinrich, cũng là một nhà văn nổi tiếng, một em trai và hai em gái. Thời nhỏ gia đình Mann sống sung túc, các con được học hành đến nới đến chốn. Năm 1891, cha Thomas Mann mất vì bệnh ung thư. Theo di chúc của cha ông, gia đình bán công ty và nhà ở Lübeck, mẹ ông và các con chỉ sống bằng tiền gửi tiết kiệm. Từ đây cả gia đình chuyển đến sống ở München - một trung tâm văn hóa và tri thức của nước Đức. Năm 19 tuổi Thomas Mann đã bắt đầu viết báo nhưng luôn mơ ước trở thành nhà văn như anh trai mình. Những truyện ngắn đầu tiên của ông in trong tập Der kleine Herr Friedemann (Ngài Friedemann bé nhỏ) xuất bản năm 1898. Năm 1901, Mann xuất bản tiểu thuyết đầu tiên Buddenbrooks - Verfall einer Familie (Gia đình Buddenbrooks) - kể về sự suy sụp của một gia đình ba đời buôn bán ở Lübeck trong bối cảnh cạnh tranh của chủ nghĩa đế quốc. Bộ tiểu thuyết đặc sắc này đã mang lại cho ông giải Nobel năm 1929. Thomas Mann là nhà văn có tư tưởng nhân đạo dân chủ tư sản, chống phát xít, đại diện cho truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đức. Ông tập trung miêu tả quá trình suy sụp của giai cấp tư sản với một ngòi bút hiện thực, mỉa mai, chú trọng phân tích tâm lý, đi sâu vào các khía cạnh bệnh hoạn, cái phù du và cái chết. Văn của Mann chính xác, từ ngữ gọt giũa kĩ lưỡng, đòi hỏi người đọc phải tập trung suy nghĩ, ông dùng nhiều từ ngữ nước ngoài, sử dụng nhiều kiến thức về triết học, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, y học, xã hội học, phân tâm học.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Chết Ở Venice PDF của tác giả Thomas Mann nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Chênh Vênh Hai Lăm (Nguyễn Ngọc Thạch)
“Lòng chênh vênh giữa lưng chừng cuộc sống.”Xuất hiện một năm trước với truyện dài “Đời Callboy”, Nguyễn Ngọc Thạch nhanh chóng được biết đến như một tác giả trẻ thành công với những mảng đề tài gai góc như đồng tính, mại dâm, kinh dị hay chuyển giới.Nhiều người cho rằng, Nguyễn Ngọc Thạch mãi cũng chỉ đi quanh những thứ gai góc như vậy, không thể viết được những câu chuyện nhẹ nhàng, tình cảm hơn. Và thế là “Chênh vênh hai lăm” ra đời như một thể nghiệm mới, một bước làm mới mình của tác giả, như một câu trả lời cho nhận định trên.“Chênh vênh hai lăm” như cuốn sổ nhỏ ghi chép lại những điều vô chừng của cuộc sống một người trẻ giữa đất Sài Gòn. Những thứ được ghi lại không mới, nó bình dị và gần gũi đến mức đọc xong, người ta chợt nhận ra, ừ nhỉ, mình cũng đã từng trải qua cảm giác này, đã từng chứng kiến những việc này, chỉ là, mình không ngồi và viết lại chúng.Đó là câu chuyện về một chú nhân viên bảo vệ công ty, ngoài 50 nhưng mỗi ngày vẫn gọi điện thoại cho vợ, mẹ tụi nhỏ muốn ăn gì, để ba về mua cho ăn. Đó là chuyện của anh giữ xe quán café, sợ trời mưa nên lấy nón bảo hiểm của khách úp xuống xe. Đó là chuyện của thùng trà đá miễn phí đặt bên lề đường và thái độ của những người đi đường dành cho nó. Tìm mua: Chênh Vênh Hai Lăm TiKi Lazada Shopee Những câu chuyện tưởng chừng tủn mủn đó, lại góp cùng nhau để vẽ lên bức tranh cả một Sài Gòn nhiều mảng sáng tối.Không giống với những tản văn của những người trẻ khác, thường mang giọng văn nhẹ nhàng, êm mượt, “Chênh vênh hai lăm” được viết với đúng với phong cách Nguyễn Ngọc Thạch, thực tế, gần gũi, không hoa mỹ nhưng vẫn lưu lại nhiều suy ngẫm cho người đọc.Có thể nói, “Chênh vênh hai lăm” là một tản văn lạ cho những người trẻ cần một góc nhìn mới từ những điều thân quen.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Nguyễn Ngọc Thạch":Chênh Vênh Hai LămĐời Call BoyKhóc Giữa Sài GònNgười Cũ Còn ThươngĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Chênh Vênh Hai Lăm PDF của tác giả Nguyễn Ngọc Thạch nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Chạy Trốn Mặt Trời (Minh Nhật)
Chạy trốn mặt trời là cuốn tản văn mới nhất của “anh Sky” Minh Nhật - chàng nhà văn của lứa tuổi 20 với hàng chục cuốn sách được độc giả trẻ yêu mến như: Sự lựa chọn của bầu trời, Bỗng một ngày đẹp trời, Hà Nội chờ, Một chút mỗi ngày, Nơi cơn gió ngừng chân, Những quân cờ Domino, Café yêu… Trong lời đề tựa cuốn sách, Minh Nhật đã bật mí về tên gọi Chạy trốn mặt trời: “Chạy trốn mặt trời là tên một ca khúc của Đa Sắc, Đen, JGKid và Thảo Phương. Bài hát được viết từ cảm hứng gợi lên từ một bộ phim của Nhật nói về cô gái mang một chứng bệnh kỳ lạ khiến cô không thể tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.[…]. Trong bộ phim, cô gái thường ra đường khi đã khuya, chơi đàn guitar tại một bến tầu điện ngầm và trở về nhà trước bình minh. Tôi nghĩ trong cuộc đời này có những người như tôi - dù không mang căn bệnh quái ác kia - nhưng cũng sợ ánh sáng mặt trời như cô gái kia. Không phải cái mặt trời thật ngoài kia, mà cũng chính là cái mặt trời thật ngoài kia. Mỗi khi nó xuất hiện, người ta nháo nhào ra đường, chen chúc nhau trên những con đường chật hẹp, cố để có mặt đúng giờ tại công sở, cố để quẹt thẻ vào một cái máy trước khi bị trừ lương, và cố gắng chờ đợi cho đến khi nó biến mất, để lại được lao ra đường và hòa và đám đông kia, trở về nhà trong sự mệt mỏi tột cùng. Bản thân mặt trời đã trở thành một chiếc đồng hồ khổng lồ, một chiếc máy nhắc việc, một người giám sát hữu hình khiến cả thế giới này chạy theo, như chính Trái Đất vận động quanh sự kiểm soát của nó. […]Thời gian vốn đâu dừng lại cho riêng ai. Nhưng trong cái dòng chảy bắt buộc ấy, có lẽ ta được quyền chọn mình sẽ làm gì, với ai, ở đâu, và như thế nào. Ta không bắt buộc phải hòa mình vào đám đông, chỉ để chứng minh rằng mình cũng tồn tại.” Với lối viết văn giàu cảm xúc và chất chứa suy ngẫm của Minh Nhật, Chạy trốn mặt trời đã rấy lên trong lòng độc giả trẻ một nỗi trăn trở và thức tỉnh để nhìn lại cuộc sống của mình - suy nghĩ và đấu tranh lựa chọn giữa lối sống nhạt nhẽo, hòa mình vào đám đông và sự khác biệt, tách mình khỏi guồng quay xã hội tài chính để sống là mình, sống với ước mơ và đam mê riêng. Nhiều câu chuyện giản dị, ngẫu hứng nhưng lại khiến ta giật mình nhìn lại những mối quan hệ quan trọng nhưng lại bị bỏ quên giữa bộn bề cuộc sống. Đã lâu ta không về thăm nhà, vì bận. Đã lâu ta không ngồi café với đứa bạn thân, vì bận. Ta đã quên thói quen gọi điện cho bố mỗi ngày, vì bận. Những câu chuyện trong Chạy trốn mặt trời không đơn thuần là sự sẻ chia, mà còn thúc giục, khích lệ thế hệ trẻ hướng tới sự đổi thay trong cách nhìn về cuộc sống của chính mình.*** Tìm mua: Chạy Trốn Mặt Trời TiKi Lazada Shopee Chạy trốn mặt trời là tên một ca khúc của Đa Sắc, Đen, JGKid và Thảo Phương. Bài hát được viết từ cảm hứng gợi lên dựa trên một bộ phim của Nhật nói về cô gái mang một chứng bệnh kì lạ khiến cô không thể tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Dù rất hiếm nhưng đây là một chứng bệnh có thật, tên y học là Xeroderma Pigmentosum. Làn da và cơ thể của những người mắc chứng bệnh này sẽ bị hủy hoại khi tiếp xúc với tia cực tím trong ánh nắng mặt trời. Trong bộ phim, cô gái thường ra khỏi nhà khi đã khuya, cô chơi đàn guitar tại một bến tàu điện ngầm và trở về nhà trước bình minh. Tôi nghĩ trong cuộc đời này có những người như tôi, dù không mang căn bệnh quái ác đó nhưng cũng sợ ánh sáng mặt trời như cô gái ấy. Không phải mặt trời thật ngoài kia, mà cũng chính là mặt trời ấy. Mỗi khi nó xuất hiện, người ta nháo nhào ra đường, chen chúc nhau trên những con đường chật hẹp, cố để có mặt tại công sở đúng giờ, cố để quẹt thẻ vào một cái máy trước khi bị trừ lương, và cố gắng chờ đợi cho đến khi nó biến mất để lại được lao ra đường và hòa mình vào dòng người hối hả, trở về nhà trong sự mệt mỏi tột cùng, không biết mình đã làm gì ngày hôm nay và tại sao. Bản thân mặt trời đã trở thành một chiếc đồng hồ khổng lồ, một chiếc máy nhắc việc, một người giám sát hữu hình khiến cả thế giới này phải chạy theo, như chính Trái Đất vận động quanh sự kiểm soát của nó. Tôi chỉ cảm thấy thật sự thoải mái khi nó đã lặn xuống hoàn toàn, quay sang "quấy rối" nửa bên kia địa cầu. Khi đó, thành phố trở lại yên tĩnh, nhịp sống chậm lại hoàn toàn, mọi người đã tản mát dần về những góc trú chân của họ. Sự yên tĩnh ấy gợi cho tôi nhiều cảm hứng hơn cái ồn ã của một ngày dài. Bản thân sự cô độc lặng lẽ ấy đang chơi một khúc nhạc riêng tràn đầy sinh khí và tự nhiên. Không hề gượng ép, khi ấy tôi làm mọi thứ mình muốn một cách tự do và yên ả. Có một lần, khi ngồi cà phê đêm trên phố, tôi gặp một nhóm bạn trẻ cùng quán. Mỗi người trong họ làm một việc khác nhau, chậm rãi và yên tĩnh. Người thì ngồi viết thứ gì đó trên một cuốn sổ da, người thì uống cà phê và nghe nhạc từ chiếc loa to của quán treo trên góc tường, người thì xem quyển tạp chí thời trang trước mặt một cách chăm chú, một người nữa đang lắp ngôi nhà đồ chơi bằng gỗ khá lớn từ hộp mô hình với thái độ nghiêm túc và cẩn thận... Tôi ngồi đọc sách, thi thoảng quan sát họ, không phải vì tò mò, mà vì thích thú. Tôi khó có thể diễn tả cảm giác đó cho bạn hiểu bằng từ ngữ hay những tấm ảnh, bởi có những thứ thuộc về cảm xúc con người sẽ chỉ có thể cảm nhận ở ngay thời điểm nó xảy ra mà thôi, não của chúng ta sinh ra để hoạt động theo cách ấy. Đêm ấy, với những con người cũng "chạy trốn mặt trời" ấy, tôi đã thấy được một phần của cuộc sống mà tôi yêu. Chúng ta cứ làm điều mình thích, theo cách đơn giản nhất, mọi thứ khác rồi sẽ xoay quanh điều ấy một cách tự nhiên. Đây không phải sự chạy trốn thực tại, bởi cái thực tại này vẫn sẽ xảy ra dù chúng ta có ở đó hay không. Thời gian vốn đâu dừng lại cho riêng ai. Nhưng trong cái dòng chảy bắt buộc ấy, có lẽ ta được quyền lựa chọn mình sẽ làm gì, với ai, ở đâu và như thế nào. Ta không bắt buộc phải hòa mình vào đám đông chỉ để chứng minh rằng mình cũng tồn tại. Một cơn mưa lớn ập đến nửa đêm vào lúc tôi quyết định để tên cuốn sách này như các bạn đang thấy. Từ cửa sổ, âm thanh lớn đều đều vang lên, khi tôi ngó ra thì trước mặt đã là một biển nước. Một biển nước của sự mệt mỏi kéo dài suốt những chiều nắng đang tan dần ra đầy dễ chịu. Hàng cây trước ngõ yên lành tiếp nhận những hạt nước ấy như đã chờ đợi từ lâu lắm. Cơn mưa ấy kéo dài đến sáng rồi tạnh khi ánh mặt trời đầu tiên ló rạng...Minh NhậtDưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Minh Nhật":Âm Thanh Của Im LặngChạy Trốn Mặt TrờiMột Chút Mỗi NgàyNhững Đêm Không NgủNhững Quân Cờ DominoNơi Những Con Gió Dừng ChânĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Chạy Trốn Mặt Trời PDF của tác giả Minh Nhật nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.