Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đứa Trẻ Thứ Sáu

“Cha hãy tha thứ cho con” là dòng chữ được tìm thấy viết trên những tấm bìa các tông gần xác các nạn nhân bị giết theo kiểu 4MK được phát hiện cách nhau vài chục phút ở cả Chicago và Nam Carolina, kết nối họ với cùng một kẻ giết Người. Các vụ giết người rõ ràng có liên quan chặt chẽ nhưng lại tách biệt bởi khoảng cách về không gian không thể nào hiểu nổi. Cùng lúc đó, khắp nước Mỹ rúng động vì thông tin Anson Bishop sẽ làm phát tán virus gây bệnh SARS. Sở Cảnh sát Chicago và FBI rơi vào tình trạng hỗn độn – một bệnh viện bị phong tỏa, dịch bệnh có nguy cơ bùng phát. Anson Bishop, nghi phạm chính trong các vụ giết người của 4MK, đã tiết lộ một câu chuyện hoàn toàn bất ngờ, một câu chuyện không chỉ làm đảo lộn những kết quả điều tra cũ mà sữ còn làm thay đổi cuộc sống của tất cả những người có liên quan đến nó. Với sự căng thẳng không ngớt và sự hồi hộp làm căng mạch đập, quá khứ được đưa ra ánh sáng và đi đến hồi kết ở tốc độ chóng mặt khi sự thật đằng sau động cơ của kẻ giết người 4MK cuối cùng cũng được làm rõ. “Phần ba của bộ truyện đã thắt lại tất cả những nút thắt còn lỏng lẻo một cách tuyệt hảo, đây quả thực là một bộ ba tuyệt vời với đủ những cú twist để làm hài lòng ngay cả Sherlock Holmes!” Bộ sách 4MK Thriller gồm có: 4MK Cái Chết Thứ Năm Đứa Trẻ Thứ Sáu *** J.D. Barker là một tác giả người Mỹ nổi tiếng quốc tế về phim kinh dị hồi hộp, thường kết hợp các yếu tố kinh dị, tội phạm, bí ẩn, khoa học viễn tưởng và siêu nhiên. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh, Forsaken, là người vào chung kết cho Giải thưởng Bram Stoker năm 2014. *** Đứa Trẻ Thứ Sáu là phần ba và cũng là phần cuối trong series về tên sát nhân hàng loạt 4MK. Trong phần ba này Sam Porter bị phát hiện bắn chết một người phụ nữ, người anh đã giúp trốn khỏi nhà tù cùng một kẻ mà anh nghĩ là mẹ của Anson Bishop, tên là Sarah Werner. Sam Porter bị FBI tống giam. Anh bị cả Sở Cảnh sát Metro lẫn FBI nghi ngờ, các đồng nghiệp quay lưng lại với anh, khinh bỉ anh ngoại trừ Nash và Clair. Tình tiết truyện càng phát triển, những mối nghi ngờ dành cho Sam ngày càng tăng lên. Ai cũng cho rằng Sam chính là 4MK hoặc ít nhất hợp tác với 4MK giết hại những người khác. Con số nạn nhân trong tập ba này cũng không hề ít. Như thể chưa đủ kịch tính, khắp nước Mỹ lại rung động vì thông tin Anson Bishop sẽ làm phát tán virus gây bệnh SARS. Hai nạn nhân nữ trẻ tuổi sống sót dưới bàn tay 4MK được chuyển vào bệnh viện Stroger, trong tình trạng đã bị nhiễm cúm. Cả bệnh viện bị cách ly cùng với Nash và Klozowski. Cuộc truy tìm 4MK, truy tìm Sam và con virus diễn ra gay cấn, căng thẳng qua từng trang. Cùng với đó là những trang cuối cùng của cuốn nhật ký với đủ những gia vị êm đềm, xúc động, kịch tính và đau xót. Liệu Sam Porter có thể phá án liên hoàn 4MK mà anh đã theo đuổi suốt năm năm trời, đồng thời minh oan được cho bản thân không? Đứa Trẻ Thứ Sáu là một đoạn kết hoàn chỉnh cho cả ba phần. Những thắc mắc, những gì chưa được giải quyết ở hai phần trước đều có câu trả lời ở phần này. Ở phần ba vì còn liên quan đến cả dịch SARS nên dung lượng truyện dài hơn, tuy nhiên bù vào đó là những mâu thuẫn, những nghi ngờ, những sự thật và lời dối trá chồng chéo hơn, phức tạp hơn. Những án mạng cũng giống như phần một, các nạn nhân đều bị móc mắt, cắt tai và cắt lưỡi, với ba cái hộp màu trắng thắt dây đen ở bên cạnh. Mình chưa đọc phần hai nhưng ở phần ba này Sam Porter hoạt động phần lớn là một mình, anh vừa phải tự điều tra qua những mảnh ghép ít ỏi mình có, lại vừa phải trốn chạy cả FBI lẫn Sở Cảnh sát Chicago săn đuổi mình. Trong phần ba hầu như mọi bằng chứng FBI thu thập được đều chống lại Sam. Anh không thể minh oan, không thể phản biện lại một cách mạnh mẽ vì chứng mất trí nhớ do đạn bắn. Sam trúng đạn khi đang truy đuổi Weasel trong con ngõ từ phần một. Nên tất cả những gì anh nhớ được đều rất mơ hồ, anh không biết mình đã gặp ai, không nhớ mình đã làm gì, không nhớ mình đã từng đến đâu, không nhớ mình đã từng giết ai chưa. Sam buộc lòng phải hành động một mình, vận dụng toàn bộ kỹ năng thám tử của mình đã xóa lớp mây mù trong trí não anh và tìm ra sự thật, trong khi không có được sự hỗ trợ của đồng đội như phần một. Yếu tố hành động và suy luận được đẩy lên cao hơn, nên yếu tố kinh dị không được nhấn mạnh ở phần này nữa. Phần ba đánh dấu sự tham gia tích cực hơn của nhóm FBI, cụ thể là Đặc vụ Frank Poole. Thế nên tình tiết truyện vẫn đủ sức níu kéo mình đến cuối. Cả ba phần theo mình đều có liên quan chặt chẽ đến nhau, nên đọc lần lượt từ phần một để hiểu rõ toàn bộ cốt truyện. Còn nhiều điều nữa mình muốn nói cơ mà sẽ spoil hết nên đành dừng bút ở đây. Chúc mọi người có những phút giây vui vẻ khi đọc sách. Nguyen Quang Huy *** Tray Ngày 5 - 5:20 sáng “Này, thằng đầu đất, chỗ này là cái nhà trọ chó chết của mày đấy hả?” Giọng nói cộc cằn, như có sỏi trong mồm. Vào giờ này chắc là cảnh sát, bảo vệ hay có thể chỉ là một lão chủ nhà giận dữ. Không cần biết là ai, Tray Stouffer vẫn nằm bất động dưới những nếp gấp của chiếc chăn lông đã mốc. Thi thoảng khi bạn nằm bất động đủ lâu, họ sẽ bỏ đi. Đôi khi họ sẽ chán. Lại là tiếng giày đó - nhanh và mạnh. Cú đá thẳng vào dạ dày. Tray chỉ muốn thò đầu ra và gào lên, túm chặt lấy chân hắn và đánh trả. Nhưng nó chẳng làm gì. Vẫn nằm bất động hoàn toàn. “Mẹ kiếp, tao đang nói chuyện với mày đấy!” Thêm một cú đá nữa, mạnh hơn cú lúc nãy, trúng vào mạng sườn. Tray gầm gừ, không thể kiềm chế được. Siết cái chăn bông chặt hơn. “Mày có biết ảnh hưởng của mày và lũ bạn mày lên giá trị ở đây khi cắm trại ngoài này không? Tụi mày dọa bọn nhóc con sợ chết khiếp. Người già sẽ không rời khỏi tòa nhà này nữa. Thế họ cứ phải bước qua cái đống rác rưởi như mày để chạy đến cửa hàng đấy à?” À, vậy là lão chủ nhà. Tray đã từng nghe tất cả những chuyện này. “Mày có biết năm giờ sáng lúc mày đang ngủ thì tao làm gì ngoài này không? Trong khi cả lũ bọn mày nằm một đống trên hiên nhà chúng tao đấy. Khi đó tao vừa kết thúc ca làm việc mười tiếng đồng hồ tại Tiệm Bánh ngọt Delphine. Quần quật mười hai tiếng từ tối qua trong cái căn bếp chó đẻ đó. Rồi quay lại làm tiếp sau mười tiếng nữa. Tao khổ như thế là để trả tiền cho cái nơi này. Tao làm vậy là để góp công sức cho xã hội. Mày sẽ chẳng bao giờ thấy tao vất vưởng trên hè phố như lũ chó lười chúng mày. Cút đi mà tìm việc! Tự nuôi sống bản thân đi!” Ở tuổi mười bốn, làm gì có việc mà làm. Chẳng có việc gì hợp pháp hết. Chỉ hợp pháp nếu có sự cho phép của cha mẹ, và chuyện đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Tray vòng tay quanh người chịu cú đá tiếp theo. Nhưng thay vì đá, người đàn ông túm lấy một góc tấm chăn và giật mạnh, quẳng nó sang một bên. Tấm chăn rơi xuống vũng nước do tuyết đã tan một nửa dưới chân các bậc thềm. Tray run rẩy, cuộn tròn người lại, sẵn sàng chịu cú đá nữa. “Ớ, con gái à. Mà chỉ bé con con nhỉ.” Người đàn ông nói, cơn giận đã nguôi đi trong giọng nói. “Anh rất xin lỗi. Tên em là gì?” “Tracy.” Nó đáp. “Hầu hết mọi người đều gọi cháu là Tray.” Ngay lúc những lời này vừa thốt ra khỏi miệng, nó đã hối hận. Nó biết chuyện gì sẽ xảy ra mỗi khi nó nói chuyện với một người trong số chúng. Lẽ ra tốt hơn nó nên ngậm miệng lại, tự biến mình thành kẻ vô hình. Người đàn ông quỳ xuống, một cái túi giấy lủng lẳng trên tay trái. Anh ta trông không già lắm, có thể chỉ tầm ngoài hai mươi. Mặc áo khoác dày. Mái tóc nâu nhét vào trong chiếc mũ len thủy quân màu xanh đậm. Đôi mắt màu hạt dẻ. Dù trong cái túi kia đang đựng cái gì thì mùi vị của nó cũng rất thơm ngon. Anh ta bắt gặp ánh mắt con bé. “Tray, tên anh là Emmitt. Em đói chưa?” Nó gật đầu. Tự biết đó cũng là một sai lầm. Nhưng nó đang đói. Đói ngấu rồi. Anh ta thọc tay vào trong cái túi, rút ra một ổ bánh mì nhỏ. Hơi nước tỏa ra từ bề mặt gồ ghề xuyên qua bầu không khí Chicago lạnh giá, trong thoáng chốc Tray quên đi cơn gió buốt giá xuất phát từ phía hồ, hú lên từng hồi qua các con phố mỗi lần bốc lên. Dạ dày nó réo ùng ục, to đến nỗi cả hai đều nghe rõ. Emmitt bẻ một miếng bánh mì trao cho nó. Nó ăn ngấu nghiến chỉ sau hai lần cắn, thậm chí còn chẳng buồn nhai. Có lẽ đó là miếng bánh mì ngon nhất nó từng được ăn. “Muốn ăn thêm không?” Tray gật đầu, dù nó biết mình không nên thế. Emmitt thở hắt ra. Anh ta vươn tay ra vuốt ve má con bé bằng cạnh ngón tay trỏ. Di chuyển từ gương mặt xuống cổ con bé, trượt xuống dưới cổ áo len dài tay. “Sao em không vào trong này với anh? Có thể thoải mái ăn bao nhiêu bánh mì cũng được. Anh còn nhiều đồ ăn khác nữa cơ. Tắm nước nóng nữa. Giường ngủ thoải mái. Anh sẽ…” Dùng cả hai cánh tay, Tray xô mạnh hai vai người đàn ông. Vì đang ở tư thế quỳ một chân chênh vênh, anh ta không kịp tránh cú đánh. Lộn nhào về phía sau, chiếc túi lăn khỏi tay anh ta, đầu anh ta đập mạnh vào lan can cầu thang tòa nhà. “Con ranh khốn kiếp!” Anh ta quát lên. Anh ta còn chưa kịp ngồi dậy, Tray đã đứng lên. Quơ lấy chiếc túi giấy, nó nhấc ba lô lên, chạy như bay xuống năm bậc thềm, vơ vội cái chăn, chạy xuống phố Mercer. Anh ta sẽ không đuổi theo con bé; chúng hiếm khi làm thế, nhưng đôi khi… “Cút ngay khỏi chỗ này! Để tao bắt mày lại, tao sẽ báo cảnh sát!” Khi Tray thu hết can đảm ngoái đầu lại nhìn, Emmitt đã đứng dậy, đang nhặt nhạnh mấy thứ, xô mạnh cánh cửa đi vào tòa nhà. Kể cả từ khoảng cách xa như thế, nó hình dung mình cảm nhận được hơi ấm từ khu tiền sảnh đó. Nó vẫn không giảm tốc độ chạy tới khi đến trước cổng Nghĩa trang Rose Hill. Vào giờ này, cổng nghĩa trang đã khóa, nhưng con bé vốn gầy còm, nên một lúc sau nó đã lách qua được hàng chấn song bằng sắt rèn sang được bên kia cổng, sau lưng kéo theo ba lô và cái chăn. Chicago có mái ấm dành cho người vô gia cư, nhưng trước nó đã từng đi qua tuyến đường ấy. Vào giờ này chỗ đấy đã khóa cửa. Họ thường đóng cửa tất cả vào quãng từ bảy giờ tối đến nửa đêm, ngoài giờ ấy không nhận thêm bất kỳ ai nữa. Ngay cả nếu có, cũng chẳng thể tìm nổi một chỗ ngủ. Bên trong kín người hết rồi. Đôi khi người ta xếp hàng dài ngay từ trưa, không bao giờ có đủ chỗ. Hơn nữa, lang thang trên phố Tray cảm thấy an toàn hơn. Bọn “Emmitt” xuất hiện khắp nơi, đặc biệt là trong những mái ấm, điều duy nhất tồi tệ hơn việc đâm phải một tên Emmitt trên hiên tòa nhà, hay trong một con ngõ khuất gió nào đó, là bị mắc kẹt trong mái ấm cúng một tên như thế. Đôi khi không chỉ một tên. Bọn Emmitt có xu hướng lập nhóm săn mồi theo bầy. Tray không sợ nghĩa trang. Sau hai năm lang thang trên phố, nó từng ngủ ở mỗi nghĩa trang ít nhất một lần. Rose Hill là một trong những địa điểm ưa thích của nó, xét ở phương diện các khu nhà mồ. Không giống Oakwood hoặc Graceland, Rose Hill không khóa cửa các khu nhà mồ về đêm. Nhân viên bảo vệ dù vẫn có vài người, nhưng vào đêm lạnh lẽo như đêm nay, họ thà ngồi trong văn phòng chơi bài, xem ti vi hoặc ngủ vùi. Nó đã ngắm chán họ qua những ô cửa sổ. Con bé mạnh bước vào ngõ Tranquility qua lớp tuyết mới. Nó không lo lắng nếu có để lại dấu chân, vì biết gió sẽ lại xóa hết. Nhưng chẳng có lý do gì phải liều, nên sau khi lên tới đỉnh đồi, thay vì rẽ trái tại đường Bliss, nó đi cắt ngang qua Tranquility rồi ngoặt xuống con đường mòn nhỏ qua rừng chạy song song bên này đường Bliss. Cho dù không có đèn nhưng mặt trăng gần như tròn vành vạnh, và khi mặt hồ phản chiếu ánh trăng lọt vào tầm mắt, Tray không thể ngăn mình dừng chân nhìn ngắm. Bề mặt băng giá lấp lánh dưới lớp tuyết mỏng vừa rơi. Các bức tượng cẩm thạch lặng lẽ đứng dọc mép nước, ở giữa chúng là những chiếc ghế băng dài. Đúng là một chốn thanh bình. Rất tĩnh lặng. Ban đầu Tray không nhìn thấy cô ta, cô gái đang quỳ bên mép nước, ngoảnh mặt nhìn ra hướng khác. Mái tóc vàng buông xõa sau lưng. Trông cô ta như một trong các bức tượng, bất động, đang đối diện mặt hồ kia. Làn da cô ta nhợt nhạt, gần như trắng bệch, gần như không chút huyết sắc trong bộ đồ màu trắng. Đôi bàn chân cô ta để trần, không mang giày, không mặc áo khoác, chỉ mặc chiếc váy trắng được làm bằng thứ chất liệu mỏng đến nỗi như trong suốt. Đôi bàn tay cô ta siết chặt vào nhau gần ngực như thể đang cầu nguyện, đầu cô ta nghiêng sang một bên. Tray không nói gì, chỉ đến gần hơn. Đủ gần để nhận ra một lớp tuyết mỏng đã kịp phủ kín tất cả những gì đã khoác lên người cô gái. Và khi nó bước vòng sang phía bên kia cô gái, nó nhận ra đây không phải cô gái, mà là một người đàn bà. Sắc trắng tuyệt đối của cô ta, trên từng milimét trên cơ thể cô ta bị phá vỡ nhờ vệt máu đỏ tươi trải dài từ dưới tóc xuống một bên mặt. Thêm một vệt nữa từ con mắt trái của cô ta, một dòng lệ đỏ tươi, dòng thứ ba chảy xuống từ một bên khóe miệng - dòng máu này họa đôi môi cô ta thành đóa hồng rực rỡ nhất. Thứ gì đó được viết trên trán cô ta. Chờ đã, không phải là được viết. Trên hai đầu gối đang quỳ dưới tuyết của cô ta là một cái khay đựng đồ bằng bạc. Thứ bạn có thể thấy tại một bữa tiệc tối ngon miệng, một nhà hàng đắt tiền, đại loại những nơi mà cho dù đã mươi bốn tuổi, Tray cũng biết nó chỉ có thể thấy chúng trên ti vi hay trong những bộ phim. Trên khay là ba chiếc hộp nhỏ, màu trắng. Mỗi chiếc đều được buộc chặt bằng một mảnh vải đen. Phía sau những cái hộp, tựa vào ngực người đàn bà, là tấm biển bằng bìa các tông, giống những tấm biển Tray thường giơ lên để xin tiền mua đồ ăn. Có khác chăng con bé chưa bao giờ viết lên tấm biển những chữ như thế này. Trên tấm biển chỉ viết: CHA HÃY THA THỨ CHO CON Tray làm một việc duy nhất nó có thể làm: Bỏ chạy. Mời các bạn đón đọc Đứa Trẻ Thứ Sáu của tác giả J. D. Barker & Nguyễn Quang Huy (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cốt Tủy
“Trong khu phố Bone có một ngôi nhà Trong ngôi nhà có một cô gái Trong cô gái là bóng tối ngự đầy...” Tại sao chúng ta lại thích đọc tiểu thuyết về tội phạm, xem các chương trình truyền hình tội phạm và những điều tương tự. Chúng ta tìm hiểu cách thức họ gây án? Động cơ gây án là gì? Tất cả bởi vì chúng ta muốn muốn hiểu họ; tại sao họ lại có "hành động" khác với chúng ta. Những kẻ tội phạm - Bản thân họ sinh ra đã mang "mầm ác" hay do hoàn cảnh, xã hội đưa đẩy? Tarryn Fisher là một trong những tác giả Best-seller. Cô là một bậc thầy về những nhân vật hư hỏng về mặt đạo đức và làm cho chúng ta suy nghĩ về vẻ đẹp trong "bóng tối". Cốt tủy (tên gốc tiếng Anh là “Marrow”) là một trong những câu chuyện về vẻ đẹp bên trong xấu xí. Nhân vật chính của tác phẩm là Margo - cô gái sinh ra và lớn lên ở khu phố nghèo nàn, trong ngôi nhà "hố đen của sự sống". Lặng lẽ ngủ yên trong từng ống xương, ngày qua ngày, “cốt tủy” chưa một lần lên tiếng, chỉ âm thầm đồng hành cùng cô gái ấy - Margo Moon -qua những ngày buồn thảm ở khu Bone (Xương), trong ngôi nhà “hố đen sự sống”, cùng người mẹ loạn thần, đàng điếm và vô cảm. Thật khó có thể nói Cốt tủy là hành trình "tha hóa tâm hồn" hay "thăng hoa tâm hồn". Cuốn sách giống như một bộ phim hình sự. Nửa đầu, tĩnh lặng đến đáng sợ, tĩnh lặng trong những suy nghĩ miên man của cô gái nhút nhát, nghĩ rằng cô ấy không quan trọng. Nhưng nửa sau, khi đã nắm trong tay số phận của chính mình, mạch truyện trở nên dồn dập và nhanh hơn. Rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra giữa "khúc cua" ấy? Với Cốt tủy, người đọc như đang chứng kiến những điều từ phía bên kia của luật pháp. Một cuốn tiểu thuyết chạm đến tận cùng "góc tối" của con người. Một cuốn tiểu thuyết vừa lạnh lẽo, vừa thơ mộng đến "xảo quyệt". Quyến rũ nhưng cũng rất nguy hiểm. Thế nào là sai? Thế nào là đúng? Một cuốn tiểu thuyết sẽ khiến bạn phải day dứt, đau đến tận cốt tủy. Nếu bạn thích tham gia một cuộc hành trình ở góc tối của tâm hồn, có lẽ bạn sẽ thích cuốn sách này! *** MỖI VIÊN NGỌC TRAI ĐƯỢC HÌNH THÀNH NÊN TỪ MỘT MẢNH VỤN - đó là thứ vô dụng như một mẩu gốm hay bụi bẩn tình cờ lọt vào cơ thể con trai. Theo bản năng, để tự chữa lành vết thương, con trai sẽ sinh ra phản ứng tự vệ, tạo ra một chất trơn, cứng và sáng bóng bao bọc lấy dị vật. Chất này được gọi là “xà cừ”. Một khi vẫn còn nằm trong cơ thể con trai, dị vật sẽ luôn được phủ trong lớp xà cừ đẹp đẽ. Tôi vẫn luôn cho rằng con trai thật phi thường khi bao bọc lấy thứ làm đau mình bằng chính phần tinh túy nhất của bản thân. So với kim cương - loại đá quý đắt đỏ và quý hiếm được người đời khao khát, ngưỡng vọng, những viên ngọc trai có phần lép vế hơn. Chúng sinh ra thật khiêm nhường khi ban đầu chỉ là những vật ký sinh nhỏ bé bám vào cơ thể vật chủ, ngày ngày được chính vật chủ nuôi dưỡng và trở nên đẹp đẽ. Sự hình thành ngọc trai từ mảnh vụn thật kỳ diệu. Những câu chuyện quý báu cũng thường được tạo nên từ những điều tầm thường như thế. *** Năm 13 tuổi CÓ MỘT NGÔI NHÀ TRONG KHU XƯƠNG. Ngôi nhà ấy có một cánh cửa sổ vỡ. Chỗ vỡ được che bằng giấy báo dán băng dính chằng chịt ở bốn góc. Lớp ván gỗ ốp tường chống đỡ phần mái xập xệ, lõm xuống như da thịt người già, như thể phải chống đỡ sức nặng của cả trái đất vậy. Đó là ngôi nhà nơi tôi sống cùng với mẹ, chịu đựng mưa gió, chịu đựng sự đè nén. Tôi gọi nó là “hố đen sự sống”, vì nếu không chống cự lại, ngôi nhà này sẽ xâu xé bất kỳ ai bước vào trong. Như nó đã làm thế với mẹ tôi. Và như nó đang cố cắn xé cả tôi. “Margo, cầm cho mẹ cái khăn tắm.” Tên tôi được xướng lên cùng với lời sai bảo. Tôi vâng lệnh. Rõ ràng không thể gọi đây là cái khăn tắm được. Trông nó chẳng khác gì cái giẻ cũ kỹ vì dùng quá lâu ngày và đã bạc màu vì phải lau chùi quá nhiều thứ bẩn thỉu. Mẹ lấy cái khăn từ tay tôi mà chẳng thèm nhìn tôi lấy một cái. Ngón tay mẹ rất thon thả, móng tay sơn màu đen được cắt tỉa gọn gàng. Mẹ luồn khăn vào giữa hai chân và lau thật mạnh. Tôi ái ngại quay mặt đi để mẹ được riêng tư một chút. Chỉ khi không có những ánh mắt dòm ngó, người ta mới được riêng tư trong ngôi nhà này. Lúc nào cũng có những kẻ - chủ yếu là đàn ông - núp xung quanh cửa và hành lang nhìn vào với ánh mắt hau háu thèm muốn. Chỉ cần được phép là mấy kẻ đó ngay lập tức lao vào. Đấy là nếu họ được phép. Nhưng tôi không đời nào làm thế. Mẹ tôi bước ra khỏi bồn tắm và cầm lấy cái khăn mặt trong tay tôi. Ngôi nhà lúc nào cũng bốc mùi ẩm mốc và hôi thối, nhưng trong vòng một tiếng sau khi mẹ tắm, nó sẽ phảng phất mùi muối tắm của mẹ. “Margo, lấy cho mẹ cái áo choàng.” Tên tôi lại được xướng lên cùng với câu ra lệnh. Mẹ tôi rất ghét phải tắm một mình. Mẹ kể với tôi rằng bà ngoại từng cố dìm chết mẹ trong bồn tắm khi mẹ còn nhỏ. Đến bây giờ mẹ tôi vẫn bị ám ảnh vì chuyện đó. Ban đêm, thỉnh thoảng tôi lại nghe tiếng mẹ rên rỉ trong khi mơ màng ngủ: Đừng mẹ ơi! Tôi không biết gì về bà ngoại mình. Sau lần suýt chết ấy, mẹ tôi được đưa vào Trung tâm bảo trợ trẻ em. Mẹ tôi gọi nơi đó là một cơn ác mộng. Đúng lúc mẹ tôi được chấp nhận vào trại thì bà ngoại tôi qua đời vì lên cơn đau tim dữ dội và để lại cho đứa con gái duy nhất ngôi nhà này - chính là “hố đen sự sống”. Trong khi mẹ soi gương, tôi trải chiếc áo choàng đỏ mềm mại của mẹ ra. Tôi có nhiệm vụ giặt là nó hai lần một tuần và luôn làm thật cẩn thận vì chiếc áo này là tài sản quý giá nhất của mẹ. Mẹ tôi là người phụ nữ đẹp. Vẻ đẹp dữ dội sánh ngang với bão tố. Mẹ phóng túng và mạnh mẽ. Dường như Chúa đã trao cho mẹ quyền năng khủng khiếp để phá hủy mọi thứ mỗi lần mẹ nổi cơn thịnh nộ. Chúng tôi cùng chiêm ngưỡng hình ảnh mẹ trong gương suốt mấy phút. Tôi dõi mắt theo những ngón tay mẹ đang kiểm tra từng nếp nhăn trên mặt. Đây là “thủ tục” mà chiều nào mẹ cũng làm trước khi bắt tay vào việc khác. Mẹ lấy mấy tuýp kem nhỏ tôi mua cho mẹ ở hiệu thuốc ra bày trên mặt chậu rửa sứt sẹo, rồi lần lượt chấm từng loại kem lên vùng da quanh miệng và mắt. “Margo”, mẹ gọi tôi. Tôi nín thở chờ lệnh. Nhìn tôi đứng lấp ló đằng sau, mẹ nói, “Trông mày khó coi quá. Ít nhất cũng phải giảm cân đi chứ. Mặt không xinh thì dáng người phải hấp dẫn.” Để mang thân đi bán như mẹ sao? “Con sẽ cố ạ.” Việc của tôi là phục tùng. “Margo, mày đi được rồi đấy. Nhớ ở yên trong phòng.” Tên tôi vang lên kèm theo hai câu mệnh lệnh. Đúng là được đối xử đặc biệt! Tôi đi giật lùi khỏi nhà tắm để tránh bị đập hay ném đồ vào đầu. Nếu không uống thuốc, mẹ tôi có thể trở nên vô cùng dữ tợn. Chẳng ai lường trước được khi nào mẹ lên cơn điên. Thỉnh thoảng tôi lại lén vào phòng mẹ đếm xem có bao nhiêu viên thuốc, để biết mình còn được sống yên ổn bao nhiêu ngày nữa. “Margo!” Đúng lúc tôi sắp ra đến cửa thì mẹ gọi giật lại. “Dạ, mẹ?” Tôi hỏi như thì thầm. “Tối nay mày không cần ăn cơm đâu.” Nghe có vẻ dễ chịu nhưng thực chất ý mẹ là, “Tối nay mẹ không cho mày ăn đâu.” Không sao hết. Tôi đã tự tích trữ đồ ăn rồi, dù sao trong chạn cũng không có đồ gì ăn được. Tôi đi về phòng mình. Tôi nghe tiếng mẹ khóa cửa rồi bỏ chìa khóa vào túi. Ngoài cửa chính thì trong nhà chỉ có cửa phòng tôi là khóa được. Mẹ lắp cửa phòng tôi từ mấy năm trước. Lúc đầu tôi cứ tưởng mẹ làm thế để giữ an toàn cho tôi, nhưng sau đó tôi phát hiện ra mẹ cất giữ tiền ngay dưới ván sàn phòng tôi. Ngay dưới chân tôi là cả kho báu của mẹ. Mẹ tôi không mua quần áo, ô tô hay đồ ăn, mà lại tích trữ hết tiền ở đây. Tôi thường lấy vài đồng để mua đồ ăn. Chắc là mẹ cũng biết vì thực chất tôi vẫn sống khỏe, lại còn béo tốt nữa. Tôi ngồi bệt xuống sàn, lôi từ gầm giường ra một cái hộp rồi khẽ lấy ra một quả chuối và hai lát bánh mì, cố để mẹ tôi không nghe thấy tiếng giấy gói sột soạt. Quả chuối đã chín đen, vỏ dính nhớp nháp, bánh mì cũng sắp hỏng nhưng vẫn còn ăn được. Tôi cấu mấy miếng bánh mì, vê tròn lại rồi ăn, trong đầu tưởng tượng như đang dự tiệc Thánh vậy. Bạn tôi là Destiny đã được tham dự lễ ban Thánh thể đầu tiên. Cô ấy kể rằng linh mục sẽ đút một miếng bánh mì dẹt vào miệng người chịu lễ. Miếng bánh mì sẽ tượng trưng cho xác thịt của Chúa Jesu. Phải chờ “thân thể Chúa Jesu” tan ra thì mới được nuốt xuống, vì không được cắn vào xác thịt của Người. Sau đó còn phải uống cả “máu Chúa” nữa. Tôi không biết gì về Chúa Jesu hay lý do vì sao lại phải làm như vậy thì mới trở thành giáo dân, nhưng tôi thấy thà giả vờ đang ăn xác thịt Chúa vẫn tuyệt hơn là ăn bánh mì sắp mốc hỏng. Ăn tối xong, tôi nghe thấy có tiếng chân nện huỳnh huỵch và sàn nhà kêu kẽo kẹt. Là tiếng chân ai? Phải chăng là người đàn ông cao lớn có đám lông xoăn rậm rạp màu xám trước ngực? Mà cũng có thể là cái gã ho dữ dội đến mức làm rung cả giường của mẹ. “Là bệnh bạch hầu”, tôi tự độc thoại với cái vỏ chuối mềm oặt. Tôi đã đọc về bệnh này trong một cuốn sách mà tôi đăng ký mượn liên tục ở thư viện vì không muốn trả lại. Tôi ăn một cái bánh Honey Bun rồi lục cặp rút cuốn sách ra, vừa xem tranh vừa liếm mấy ngón tay dính đồ ngọt. Lúc nghe thấy tiếng tấm ván đầu giường của mẹ va kẽo kẹt vào tường, tôi lại ăn một cái bánh nữa. Chẳng mấy chốc tôi sẽ thành đứa béo phì nếu còn sống trong “hố đen sự sống” này. Chừng nào ngôi nhà còn ăn dần ăn mòn chính bản thân tôi.   Mời các bạn đón đọc Cốt Tủy của tác giả Tarryn Fisher.
Mẹ Đã Sai Rồi
“Tôi có nhiều mẹ. Đối với tôi, chuyện này hơi phức tạp. Nhất là vì họ không thực sự yêu thương nhau. Thậm chí một người còn sắp chết. Phải chăng phần nào là do lỗi của tôi? Phải chăng mọi chuyện xảy ra là tại tôi? Bởi lẽ tôi không nhớ được mẹ nào mới là mẹ thật." Không có gì ngắn ngủi như trí nhớ của một đứa trẻ, nhất là khi đứa trẻ đó mới ba tuổi rưỡi. Không ai tin Malone khi cậu khẳng định rằng mẹ cậu không phải là mẹ thật, ngoại trừ bác sĩ tâm lý Vasile, người duy nhất tìm cách khám phá ra sự thật, trước khi các kí ức mong manh của Malone bị xóa nhòa theo thời gian. Một cuộc chạy đua gấp gáp. Trước khi mọi sự đảo lộn. Trước khi tất cả các miếng ghép được xếp vào đúng chỗ. Trước khi những chiếc mặt nạ bị lột bỏ. Malone thực sự là ai? “Bussi liên tục đưa ra những hướng điều tra, xáo trộn các manh mối, đùa giỡn với ảo giác và những bề ngoài đầy lừa mị. Quả là một bậc thầy trong nghệ thuật đánh lừa. - ELLE *** Review Linh Lee:   Malone - một cậu nhóc 3 tuổi đã dứt khoát khẳng định rằng mẹ cậu không phải là mẹ thật. Trí óc non nớt và những ký ức mong manh như khu rừng yêu tinh, tên lửa hay toà lâu đài nhìn ra biển với một con thuyền đắm gãy đôi về cuộc sống trước kia cùng Mẹ thật khiến không một ai tin lời Malone - họ cho rằng đó đơn thuần chỉ là thế giới tưởng tượng sinh động của cậu nhóc 3 tuổi, chỉ trừ anh chàng bác sĩ tâm lý Vasile, người quyết tâm chạy đua với những ký ức bí ẩn ấy để tìm ra sự thật đằng sau những lời nói của đứa trẻ. Đồng hành cùng anh là cô thiếu tá Marianne - một người phụ nữ 40 tuổi, chưa chồng cũng chẳng tình nhân, một nữ thiếu tá quyết đoán trong công việc nhưng cô vẫn mang trong mình giấc mơ hạnh phúc yên ổn với một đứa con, một gia đình. Trước lời nhờ cậy của Vasile, cô chấp nhận tìm ra chân tướng sự thật sau những bức tranh hay câu chuyện của Malone. Cùng lúc đó chính bản thân Marianne đang săn đuổi theo một tên tội phạm đã gây ra vụ cướp nữ trang nhiều tháng trước mà cảnh sát vẫn chưa tóm gọn được. Hai hay thậm chí ba, bốn vụ án chồng chéo nhau tưởng như tách biệt lại chính là những ghép vừa vặn tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh, dẫn tới chìa khoá giải đáp bí ẩn mang tên Mẹ thật của cậu nhóc 3 tuổi. Mạch truyện ổn định, logic chặt chẽ, dẫn dắt người đọc theo dòng ký ức và khiến người đọc sống trong những suy nghĩ và câu chuyện của Malone. Michel Bussi đã thể hiện xuyên suốt được yếu tố psychological đan xem trinh thám trong cả câu chuyện. Ngoài ra, Mẹ đã sai rồi còn có thêm một chút yếu tố thriller được thể hiện qua ý nghĩ của cậu nhóc Malone nên đọc buổi đêm yếu tim có hơi rờn rợn tí. Điểm trừ là bìa sách, dù nhìn thoáng qua rất ổn nhưng 'hơi sai sai' so với nội dung truyện, con thú bông của cậu nhóc là Gouti - con chuột chứ không phải là con gấu bông. Ngoài chi tiết đó thì nhìn chung là rất ổn. Hơi thắc mắc vì không nhiều người biết cuốn nè. 3.8/5. *** Review Nhã Nguyễn: ”Khi bạn nói dối đủ lớn và đủ nhiều thì đó là sự thật”? Một đứa trẻ hơn ba tuổi khăng khăng rằng cha mẹ hiện tại không phải cha mẹ thật của nó, bởi vì con thú bông loài gặm nhấm của cậu kể cho cậu nghe như vậy. Một vụ cướp ngân hàng diễn ra từ nhiều tháng trước mà quá trình điều tra đang đến giai đoạn nước rút. Một chàng bác sĩ tâm lý học đường điển trai, người duy nhất tin lời của cậu bé. Một cô thiếu tá “lỡ thì” bị cuốn vào hai vụ án diễn ra song song (vì anh bác sĩ đeo bám cô không ngừng). Và cuối cùng, một nhân vật bí ẩn, mấu chốt của vấn đề, một bộ óc tính toán đến mức tinh vi (và nhờ đôi chút may mắn?). Tất cả đã đủ cuốn hút bạn chưa, với một cuốn tiểu thuyết trinh thám đến từ nước Pháp? Như đã nói ở trên, tác phẩm này gồm hai vụ án được điều tra độc lập cùng lúc với nhau, và dĩ nhiên, tôi bị hút hơn vào vụ án của cậu bé Malone, với bí ẩn của cậu, rằng những câu chuyện mà cậu kể có là thật, dù mang ít nhiều hoang đường? Chàng bác sĩ tâm lý đã khẳng định rằng trí nhớ của một đứa trẻ ở độ tuổi này có thể dễ dàng mất đi chỉ sau vài tuần, vài tháng, và những ký ức mà ta còn lưu giữ lại vào khoảng thời gian đó khi lớn lên thực chất không phải ký ức trực tiếp, vậy vì sao Malone có thể nhớ và kể lại những câu chuyện ấy suốt một thời gian dài mà không hề quên nó đi? Cái con thú bông loài gặm nhấm đó liên quan gì đến tất cả chuyện này? Bên cạnh vụ án của Malone, quá trình đuổi bắt tên cướp ngân hàng cũng khá là hấp dẫn. Vì sao mỗi khi cảnh sát đuổi đến sát nút, hắn lại có thể biến mất tài tình đến vậy, trong khi đang bị trọng thương? Hồi hộp, gay cấn đến những trang cuối cùng, một số bất ngờ cài cắm đúng lúc xuyên suốt tác phẩm, đây thực sự là một cuốn sách rất đáng đọc. Điểm trừ nhẹ có lẽ là một số đoạn tả cảnh tả tình hơi dài dòng và lãng mạn hóa (có lẽ là theo kiểu Pháp?), và quý cô Marianne hoàn toàn vẫn có thể là một cô gái độc thân kiêu hãnh cơ mà? Điều đầu tiên tôi thích ở tiểu thuyết này đó là đây không phải câu chuyện tôn vinh chỉ một người hùng đơn lẻ. Vụ án được phá không chỉ bởi công sức của cô cảnh sát Marianne, mà nó là sự đóng góp từ giả thiết của bác sĩ Vasile, linh cảm hợp lý của cảnh sát sắp về hưu Papy và những suy luận rất đúng thời điểm của chàng cảnh sát cấp dưới. Điều thứ hai tôi thích hơn nữa, đó là những câu chuyện của Gouti kể cho Malone rải rác suốt tác phẩm, những câu chuyện tưởng chừng cho trẻ con nhưng chứa đựng những triết lý mà người lớn cũng phải suy ngẫm. “Khi con còn nhỏ thì thật khó mà hiểu được, nhưng con hãy lắng nghe cho kỹ. Ai đó mà ta yêu thương, đôi khi phải dám để cho họ đi xa. Hoặc biết chờ đợi thật lâu. Đó là bằng chứng đích thực của tình yêu, có lẽ là bằng chứng duy nhất” - câu chuyện của Gouti. Khi đọc hết tác phẩm này rồi, ngồi ngẫm nghĩ lại, có lẽ bạn sẽ thấm thía nó hơn, tôi nghĩ nó ít nhiều có liên quan đến toàn bộ nội dung tác phẩm đấy. SPOIL NHẸ (dành cho bạn nào đọc rồi). Cá nhân mình thấy cả kế hoạch có những điểm phụ thuộc quá nhiều vào may mắn (ví dụ tình tiết người mẹ tìm thấy tấm vé máy bay, hay tình tiết Marianne hiểu ra toàn bộ vấn đề ở cuối truyện). Kết thúc chuyện tình cảm ở cuối cùng cũng khá là khiên cưỡng, giống như muốn Marianne hết kiếp gái ế vậy =.=. Ngoài ra vụ con thú bông biết nói, bạn nào hay đọc Reddit chắc lờ mờ đoán ra được rồi. *** Michel Bussi là một tác giả người Pháp, được biết đến với việc viết tiểu thuyết ly kỳ, đồng thời là nhà phân tích chính trị và Giáo sư Địa lý tại Đại học Rouen, nơi ông lãnh đạo một Cơ sở Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật Công cộng tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, nơi ông là chuyên gia về địa lý bầu cử. Tác phẩm: Hoa Súng Đen Mẹ Đã Sai Rồi Xin Đừng Buông Tay ... Mời các bạn đón đọc Mẹ Đã Sai Rồi của tác giả Michel Bussi.
Nhà Băng
“NHÀ BĂNG” , nguyên tác tiếng Anh “The money changers”, người dịch Vũ Đình Phòng, Nhà Xuất bản Hà Nội, xuất bản năm 1996. Nếu anh giàu tức là anh nghèo Bởi anh sẽ giống như con lừa còng lưng Dưới những thỏi vàng đè nặng Anh phải vác tiền bạc của cải Nhưng chỉ trên một quãng đường Rồi cái chết sẽ giải tỏa cho anh khỏi nỗi nhọc nhằn đó. *** Nhiều người vẫn còn giữ lại ấn tượng lo âu, dai dẳng trong hai ngày hôm đó của tháng Mười. Hôm ấy là thứ Ba, Ben Rosselli, chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại số một Hoa Kỳ, đồng thời là cháu nội của cố sáng lập viên nhà băng này đã công bố một tin ghê rợn. Tin này lập tức loan truyền khắp các phòng ban và ra cả bên ngoài. Hôm sau, thứ Tư, người ta phát hiện ra một vụ ăn cắp ngay tại chi nhánh chính của Ngân hàng đóng ngay ở trung tâm thành phố, sự kiện này mở đầu cho một loạt sự kiện nối tiếp nhau như phản ứng dây chuyền, đầy bất ngờ, dẫn đến một thảm họa tài chính, đến một bi kịch con người, đến một cái chết.   Khi Tổng giám đốc Ben Rosselli gọi điện cho một số các quan chức thân cận dưới quyền, chưa ai đoán được ông định nói điều gì. Một số nhận được lời triệu tập trong lúc họ ăn sáng ở nhà, số khác vào lúc họ bước vào phòng giấy. Dĩ nhiên đó là những quan chức cấp cao nhất nhà băng, nhưng Ben Rosselli còn triệu tập cả một số nhân viên kỳ cựu mà ông vẫn thường coi là bạn bè thân thiết. Tất cả đều nhận được câu triệu tập y hệt nhau: "Mời đến hội trường họp lớn trong Tòa nhà cao ốc vào mười một giờ sáng nay."   Đó là tên gọi trụ sở công khai của Ngân hàng Thương mại số một Hoa Kỳ. Đúng giờ quy định, khoảng hai chục người đã tề tựu trong phòng họp. Trong lúc chờ đợi, họ vẫn đứng bàn tán xôn xao, không ai quả quyết kéo ghế ra ngồi. Đột nhiên một tiếng nói to làm mọi người ngừng trò chuyện:   - Ai cho phép bác làm chuyện này? Các cặp mắt quay cả lại nhìn người vừa nói câu đó: Roscoe Heyward, Phó tổng giám đốc, đặc trách khu vực các tài khoản. Ông ta quát hỏi bác quản lý nhà ăn dành cho các quan chức cao cấp của nhà băng, lúc này đang rót rượu Xeres ra ly. Đây là thứ rượu quý đặc biệt của Tây Ban Nha. Là cấp lãnh đạo cao, Roscoe Heyward nổi tiếng là người nghiệt ngã trong công việc theo đúng các khuôn phép của nhà băng. ... *** Arthur Hailey (người Anh có quốc tịch Canada) (1920 - 2004) là tác giả của mười một cuốn best-sellers, trong đó có "Bản tin chiều" đã được dựng thành phim. Ông có 11 tiểu thuyết bán rất chạy được in ở 40 quốc gia với 170 triệu bản. Hailey được coi là người trường vốn trong sự nghiệp sáng tác. Những cuốn truyện ông viết đã vượt khỏi quê hương, được xuất bản trên 40 nước với hơn 170 triệu bản. Điểm nổi bật trong tác phẩm của ông là những nhân vật có xuất xứ rất tầm thường nhưng khi bị đẩy vào hoàn cảnh bi hùng đã vượt lên thành một số phận khác.  Sinh ngày 5/4/1920, Hailey sớm phải bỏ học ở tuổi mười bốn, bởi cha mẹ không đủ tiền chu cấp ăn học cho con trai. Sau đó, chàng trai Arthur trở thành phi công trong quân chủng Hoàng gia Anh trong đại chiến 2. Năm 1947, nhà văn tương lai rời bỏ xứ sở sương mù đến Canada và nhập quốc tịch tại đây. Thời gian đầu nơi đất khách, Hailey phải kiếm sống như một nhân viên tiếp thị cho nhà máy sản xuất máy kéo. Được một thời gian thì việc viết lách đã cám dỗ Hailey. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông là The Final Diagnosis, xuất bản năm 1959, kể về một bác sĩ chẳng may gây ra cái chết với một bé sơ sinh.  Mải mê với những con chữ trong một thập kỷ, rồi ông trở về công việc kinh doanh, chỉ ngồi vào bàn viết như một thú vui. Bà vợ của Hailey cho biết, nhà văn rất khiêm tốn và giản dị, nhưng ông có một niềm hân hoan đặc biệt khi đọc những bức thư của độc giả tán dương tác phẩm mình. Hậu duệ của ông dự định sẽ tổ chức một bữa tiệc tưởng nhớ ông vào tháng giêng theo đúng nguyện ước của người quá cố. Mười bốn tuổi đã nghỉ học vì cha mẹ không đủ tiền cho ông đi học tiếp, Arthur Hailey tham gia thế chiến thứ 2 với tư cách là phi công trong không lực hoàng gia Anh và trở thành nhà văn khi xuất bản tác phẩm đầu tay The final diagnoisis vào năm 1959.  Arthur Hailey có cách viết tiểu thuyết rất hấp dẫn, mô tả những người bình thường trong hoàn cảnh bất thường. Năm 2001 ông nói với hãng tin AP: "Tôi không thật sự tạo ra ai cả. Tôi chỉ lấy từ đời thật". Một số tác phẩm của ông đã được ra tiếng Việt như Phi trường, Bản tin chiều, Trong khách sạn... Mời các bạn đón đọc Nhà Băng của tác giả Arthur Hailey.