Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vụ Án Phim Trường

Một ngày nọ, nữ minh tinh Stella Lamar đã đột ngột tử vong giữa lúc đang quay một bộ phim trinh thám tại ngôi biệt thự ở Tarrytown.  Bác sĩ khám nghiệm cô không phát hiện ra bất cứ triệu chứng khác thường nào cả, nhưng thám tử - nhà khoa học Kennedy nhanh chóng phát hiện ra dấu hiệu cho thấy cô đã bị đầu độc. Kennedy và cộng sự Walter theo quá trình điều tra khám phá những mối quan hệ phức tạp trong làng điện ảnh. Rồi vụ những án mạng và mưu sát tiếp tục xảy ra. Danh sách kẻ tình nghi lên đến 9 người, thậm chí, hung thủ chưa chắc đã hành động một mình… *** Bối cảnh vào cuối những năm 1910 kỷ nguyên phim câm. Cô diễn viên Stellar Lamar đột ngột tử vong khi đang quay một bộ phim trinh thám. Nghi phạm đều trong giới làm phim và có mối quan hệ ân oán phức tạp với nạn nhân. Cảnh sát mời nhà khoa học - thám tử Craig Kennedy hỗ trợ điều tra... Tác giả Arthur B. Reeve cũng là một nhà khoa học, cùng với Richard Austin Freeman là những người đi tiên phong trong dòng trinh thám "thực chứng". Dòng trinh thám này kết hợp suy luận logic với kiến thức khoa học để giải quyết vụ án. Nhịp truyện diễn ra từ tốn, nhưng không ù lì vì người đọc thường được thám tư Kennedy "giảng giải" những kiến thức khoa học và độc học thú vị. Và những xét nghiệm khoa học trong truyện không còn xa lạ với bạn đọc hiện đại nhưng viết cách đây 100 năm thì rất nể kiến thức của tác giả và chúng đã góp phần quan trọng vạch mặt thủ phạm. Ngoài ra truyện còn cung cấp nhiều kiến thức thú vị về công nghệ làm phim thời đó cho những ai quan tâm. Chỉ tiếc một chút khi mình đã kì vọng sẽ có thêm twist xoắn hơn ở kết cũng như động cơ được nói kĩ hơn. Nhưng tổng thể truyện cũng khá đáng đọc, hợp với với ai thích khoa học-suy luận. *** Điểm: 8/10 ‘Vụ Án Phim Trường’ là một trong những cuốn trinh thám mà mình mê vì bối cảnh hơn là vụ án. Truyện được sáng tác vào thời kỳ đầu của điện ảnh, tức là thời kỳ phim câm và đen trắng. Tác giả đã bỏ công nghiên cứu quy trình quay phim, cách xưởng phim hoạt động, các mẹo lên hình sao cho ăn ảnh và các mối quan hệ yêu ghét lẫn lộn trong giới điện ảnh, tất cả những chi tiết ngoài lề này hết sức thú vị. Mỗi lần đến với tác phẩm trinh thám cổ điển, ngoài việc truy cầu một vụ án hay, mình còn mong muốn tìm được thứ văn chương giàu sức truyền cảm hay những câu chuyện bên lề của một thời đại đã qua.   Vụ án trong truyện ở mức ổn. Hung thủ thực sự có đầu óc, biết lên kế hoạch hiệu quả, biết đánh lạc hướng qua lại. Mình thích vụ phóng hỏa nhất vì nó rất kỳ công, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về hóa học và sự sáng tạo. Phía cảnh sát đối trọng thì có mấy pha xử lý hơi cồng kềnh. Tác giả để hung thủ gây án thêm nhiều lần nhằm đẩy mạch truyện lên cao trào, ok mình đồng ý, nhưng cái lý do ông để cảnh sát không ngăn chặn được thì thật ba chấm. Đúng là hung thủ được tạo điều kiện gây án hết mức. Điểm đột phá của truyện – việc phá án bằng khoa học – hẳn là gây ấn tượng mạnh với độc giả thời ấy hơn độc giả hiện đại, song nhà khoa học hình sự Craig Kennedy vẫn có vài mánh lới khác nên công tác điều tra không đến nỗi lỗi thời tẻ nhạt. Nếu phía cảnh sát hành động hợp lý hơn thì vụ án có thể lên được mức tốt. Về phần nhân vật chính, có lẽ vì đây là cuốn thứ 13 trong series, Craig Kennedy không được miêu tả nhiều lắm, dù mình tưởng tượng trong đầu rằng anh này là một phiên bản ít cực đoan hơn của Sherlock Holmes. Anh cộng sự Walter Jameson thì đóng vai trò người kể chuyện và làm tất cả những việc mà mấy ông cộng sự thám tử khác vẫn hay làm: quan sát việc điều tra, trầm trồ thán phục, chạy loăng quăng để tỏ ra mình có ích, đưa ra vài giả thuyết nào đó rồi khăng khăng cho là mình đúng,… Lâu lâu mình muốn được đọc một người cộng sự có ích hơn hay bớt phiền phức hơn chút đỉnh. Phải nói là mình hết sức hài lòng với trải nghiệm đọc này và sẵn sàng tìm đọc thêm vài cuốn trong series Craig Kennedy. Nhân tiện, thi thoảng mình mới thấy Cổ Nguyệt làm được cái bìa đẹp và đúng chủ đề như cuốn này. Phan Quỳnh Lê *** Ngôi sao nổi tiếng với sự nghiệp diễn xuất đang lên như diều gặp gió Stella Lamar gục xuống rồi lăn ra chết một cách quằn quại trong khi đang đóng những thước phim tiếp theo của bộ phim “Nỗi kinh hoàng màu đen”, không một dấu hiệu khác thường nào được bác sĩ tìm thấy trong quá trình khám nghiệm cho cô. Cái chết của cô được coi là kì quái cho tới khi giáo sư Kennedy, một thám tử tư kiêm nhà nghiên cứu khoa học, cùng cộng sự của anh, phóng viên Walter Jameson của Thời báo Star được mời đến, và vết xước nhỏ xíu tới mức khó có thể nhận ra được Kennedy tìm thấy, nó được cho là nguyên nhân gây ra cái chết của nữ diễn viên lộng lẫy với vẻ đẹp ngọt ngào những năm 20. Số nghi phạm lên tới 9 và tất cả họ đều thuộc hoặc liên quan tới giới diễn xuất bao gồm đủ mọi công việc từ diễn viên, biên kịch, nhà quảng bá cho tới nhà đầu tư, những kẻ có thể khoác lên mặt mình những tấm mặt nạ hoàn hảo nếu họ thích. Bên cạnh đó, mọi chuyện trở nên khó khăn hơn với những chứng cớ ít ỏi, mong manh, những lời khai mập mờ và đầy sự nghi kị của người trong cuộc cùng những mánh khóe kín đáo, thủ pháp gọn gàng và thái độ bình tĩnh tới đáng sợ của hung thủ khi gây án. Liệu việc ứng dụng khoa học vào điều tra vụ án có thể giúp Kennedy và Walter vạch trần hung thủ? Vụ Án Phim Trường không có nhiều twist, hung thủ khá dễ đoán. Nhưng cách tác giả xây dựng bối cảnh, lồng ghép những chi tiết về phim ảnh và khoa học lại khéo léo một cách đáng ngạc nhiên và không có sự liệt kê, phô bày như thể đang chứng minh học thức. Qua những trang sách của Vụ Án Phim Trường, vẻ lộng lẫy của những phim trường đen trắng với những bộ phim năm cuộn thời Chaplin, sự mĩ miều hoa lệ tới mức hào nhoáng của màn bạc với những chàng và nàng diễn viên, những cuộc viếng thăm, những mánh khóe con buôn của các nhà làm phim khi tranh thủ sự tài trợ, thậm chí là những ghen tuông, nghi kị lừa lọc và cạnh tranh phía sau màn ảnh, tất cả làm nên một bức tranh đầy đủ về thế giới điện ảnh những năm 20. Chúng không hề thừa thãi mà ngược lại còn làm cho câu chuyện có nét quyến rũ xa hoa, tôn lên một màu sắc, một không khí nhẹ nhàng tản mát rất phù hợp với tấm thảm kịch – nơi mà những con người tắm mình trong ánh sáng vàng son ấy của sự nổi tiếng, tưởng như nắm tất cả danh vọng trong tay, vậy mà giây phút ra đi không một ai thương tiếc họ, tất cả chỉ chạy theo lợi nhuận, theo khát khao nổi tiếng, dù có là máu lạnh, là vô tình. Bên cạnh đó, không thể kể tới thủ pháp phá án riêng biệt của Kennedy. Khi đọc Vụ Án Phim Trưởng, người ta dễ nhận thấy của Sherlock Holmes nơi Kennedy Craig, và trong dáng vẻ vội vã hấp tấp của Walter, ta nhìn thấy một bác sĩ Watson cũng bộp chộp không kém. Thế nhưng Arthur B. Reeve đã thành công tách Kennedy thành một hình tượng riêng biệt, không chỉ dựa vào những phán đoán đơn thuần, Kennedy bắt đầu đi sâu vào sử dụng biện pháp khoa học để chứng minh một chứng cứ, hay giúp đỡ quá trình phá án. Và như đã nói ở trên, những kiến thức khoa học tuy khá dày nhưng không gây ngán, khá đồng đều và dễ hiểu. Đây có thể coi là một bước tiến lớn trong xu hướng trinh thám thời kì đó. Nói chung, Vụ Án Phim Trường có tình tiết câu chuyện được xử lí gọn gàng không dàn trải, câu văn đơn giản, chậm rãi, dễ thấm, văn phong ổn định, mượt mà. Tuy vẫn chưa hài lòng với cái kết bỏ ngỏ, xong từng ấy điều cũng đủ khiến độc giả mong chờ tác phẩm tiếp theo về thám tử Kennedy. Ngoài ra, nói về chất lượng sách thì bìa Cổ Nguyệt làm khá đẹp, in ấn cũng rất rõ ràng, chỉ tiếc mực in bị thấm, có thể nhìn thấy cả mặt sau, dàn trang chưa ổn, cỡ chữ hơi to. Điểm: 7/10. *** Vụ án phim trường mở đầu bằng cái chết của nữ diễn viên nổi tiếng Stella Lamar – một cái chết bất ngờ và kì lạ , và rồi từ đó mở ra 1 vụ án bí ẩn , mưu mô , ẩn giấu sau những rối răm của ánh hào quang Hollywood . Ngay từ đầu tác giả B.Reeve đã lôi kéo thành công người đọc chìm vào trong câu chuyện với cái chết của Stella Lamar . Cái chết diễn ra ngay trước mặt của đoàn làm phim – nơi gần như kẻ thủ ác không có khả năng gây án . Nữ diễn viên gục xuống mà không có bất cứ thương tổn nào ngoài 1 vết xuốc nhỏ nơi cánh tay . Điều kì lạ từ thời gian , địa điểm , cách thức cho đến hung khí gây án , đã giúp vụ án trở nên thú vị và cuốn hút người đọc theo chân thám tử Kennedy và người cộng sự Walter lần theo từng manh mối để phá án . Mở đầu bằng 1 án mạng , nhưng tiếp theo tiết tấu của truyện lại ko đc B.Reeve đẩy lên cao ngay lập tức – mà lại đc kìm lại , với 1 tiết tấu chậm , vừa phải của công việc điều tra , thẩm vấn , tưởng như sẽ khô khan và buồn ngủ . Thế nhưng không , công cuộc điều tra chậm rãi này , đã đc tác giả khéo léo sử dụng để xây dựng nên một mối quan hệ chồng chéo và rắc rối giữa các nghi phạm . Ẩn sau những mối quan hệ tưởng chừng như thân quen , lại là những mảng tối của ngành nghệ thuật thứ 7 . Nơi những kẻ thủ ác có thể khoác lên mình bất cứ khuôn mặt nào , từ một nhà quảng bá phim thành đạt nhưng đầy mưu mô , một nhà tư vấn tài chính tưởng chừng giàu có nhưng lại đang sắp phá sản , một nam diễn viên đẹp trai nhưng lại là kẻ ăn chơi ..v..v.. 9 kẻ tình nghi hiện lên với 9 khuôn mặt và các mối quan hệ chồng chéo , đan xen và xoay quanh nạn nhân Stella Lamar . Cặp đôi thám tử Kennedy- Walter có lẽ đc xây dựng trên hình tượng cặp đôi nổi tiếng Holmes- Watson nên có rất nhiều nét tương đồng . Một thám tử tài năng xen chút lập dị , kết hợp vs người cộng sự nhiệt tình năng nổ nhưng đôi chút ngờ nghệch dễ dang gợi cho độc giả hình ảnh cặp đôi nổi tiếng người Anh . Thế nhưng Craig Kennedy cũng sự độc đáo của riêng mình . Vị thám tử tài hoa này đem lại cảm giác đó là sự kết hợp giữa Holmes và Lincol Rhymer . Kennedy áp dụng thành thạo các cơ sở lý luận đầy logic của Holmes , cũng như tin tưởng đầy chắc chắn vào phương pháp nghiên cứu khoa học từ những manh mối thu đc như Rhymer – sự kết hợp tốt cho hình ảnh 1 thám tử tài năng . B.Reeve cũng đã thể hiện được kiến thức cho tác phẩm của mình. Các hung khí trong truyện đều được tìm hiểu tốt và độc đáo , không xuất hiện nhiều trong các tác phẩm trinh thám khác , cho thấy sự đầu tư và tránh lối mòn của tác giả . Ngoiaf ra , truyện cũng thể hiện khá rõ nét quy trình dựng phim vào đầu thế kỉ 20 , cung cấp thêm cho độc giả hình ảnh của Hollywood những năm 20 của thế kỉ trước . Có thể khẳng định đây là 1 tác phẩm hay . Tuy nhiên , đáng tiếc rằng đoạn kết của truyện lại hơi cụt , khi tác giả để vụ án kết thúc hơi nhanh . Cũng như sự lí giải của thám tử về vụ án cho mọi người có chút ngắn , khiến cho 1 vài tình tiết trong truyện chưa được giải thích rõ ràng cho độc giả – tuy không ảnh hưởng đến nội dung nhưng lại đem tới chút tò mò và hụt hẫng . Hy vọng ở những tác phẩm sau của Arthur B.Reeve được xuất bản có thể khắc phục được điểm yếu này . Trần Mạnh Hiệp   *** Stella Lamar, ngôi sao đang lên của ngành điện ảnh những năm 1920, đang trong cảnh quay thước phim trinh thám “Nỗi Kinh Hoàng Màu Đen” thì lăn ra chết đau đớn. Cảnh này không hề có trong kịch bản. Bác sĩ khám nghiệm xác không phát hiện ra bất kỳ điều gì khác thường. Giáo sư Kennedy, một thám tử tư, cùng cộng sự Walter Jameson được mời đến, và chính Kennedy là người phát hiện ra vết xước nhỏ tí trên cánh tay Stella và cho rằng nguyên nhân chết là bị đầu độc. Trong một đoàn làm phim đông đảo của hãng phim Manton Pictures, Kennedy cùng Walter phải tự lần mò qua những khúc quanh, những âm mưu, những lời dối trá của tận 9 nghi phạm vừa là diễn viên, đạo diễn, ông bầu, biên kịch v.v… Những kẻ luôn có khả năng diễn xuất siêu việt. Thêm vào đó họ còn phải hiểu biết cả nghệ thuật làm phim, dựng phim thời kỳ đó, vốn lạc hậu và khác xa so với bây giờ. Khi những cái chết ngày càng nhiều lên liệu Kennedy cùng Walter sẽ phải làm sao để vạch mặt chân tướng hung thủ? Arthur B. Reeve đã dựng lên một bối cảnh tuyệt vời cho vụ án mạng. Bối cảnh điện ảnh những năm 1920 tuy vẫn còn lạc hậu so với bây giờ nhưng vẫn hào nhoáng, đẹp đẽ, lộng lẫy với danh vọng, với vinh quang và những dối trá, âm mưu, ghen tuông, thù hận. Những đoạn tả cảnh diễn xuất, bối cảnh trường quay và nghệ thuật làm phim rất sinh động. Có thể tác giả đã quá tham lam diễn tả những nghệ thuật này nhưng nếu so sánh nó với bối cảnh khám nghiệm bằng khoa học của Kennedy thì sẽ thấy rất thú vị. Hai bối cảnh hỗ trợ nhau, bằng cách nào đó như thể đang đối đầu với nhau. Bối cảnh phòng thí nghiệm của Kennedy thì đơn sơ, mộc mạc và xấu xí hơn nhưng giúp anh tìm ra chân tướng thực sự của hung thủ. Đọc truyện chúng ta dễ dàng thấy sự tương đồng giữa Arthur B. Reeve với Conan Doyle. Trong việc khám nghiệm hiện trường rất tỉ mỉ của Kennedy, trong cái vụng về, bộp chộp của Walter, trong cảnh suy luận vạch mặt hung thủ được đưa về cuối truyện. Truyện có rất nhiều đoạn suy luận sắc bén của Kennedy khi phân tích chất độc, khi bác bỏ những giả thuyết của Walter hay khi khám nghiệm hiện trường. Thêm vào đó nét tính cách của toàn bộ 9 con người kia hiện lên rõ nét. Phần nào vẽ lên môi trường điện ảnh ngày xưa vẫn tồn tại những hỉ nộ ái ố, những cạnh tranh trong nghề nghiệp và cả trong tình yêu của giới làm phim. Tuy là tác phẩm trinh thám cổ điển nhưng văn phong của truyện lại rất mượt mà. Những đoạn Walter phải lòng Enid Faye, diễn viên thay thế Stella Lamar đọc rất vui. Bản dịch rất chuẩn khi dịch các kỹ thuật, công nghệ làm phim và kỹ thuật khoa học. Không biết khi dịch nó dịch giả có phải tra cứu nhiều không. Nói chung truyện đáng đọc! Điểm: 8/10 Nguyen Quang Huy *** Nói về cuốn trinh thám này, cuốn Vụ án phim trường của nhà văn Arthur Benjamin Reeve… Nhà văn lấy bối cảnh những năm 20s của thế kỷ trước. Đề tài nói về những thảm án tại phim trường, cái thời vẫn còn quay bằng từng thước phim ngắn âm bản, rồi rửa, rồi phơi, rồi in,… cái thời theo mình nghĩ là còn sơ khai của ngành điện ảnh. Cái thời mà mình nhớ không nhầm, nó cùng thời với Charlie Chaplin, cái thời phim còn đen trắng, diễn câm, lời thoại được lồng vào phim, các diễn viên cử động thì giật giật như công nông lên dốc vì lý do thời đó chỉ quay được khoảng 24 hình/giây, và trước đây cũng có một chương trình nói về phim ảnh trên kênh VTV3 cũng có tên là 24 hình/giây… Có vẻ mình nói hơi miên man về phim ảnh, cái lĩnh vực mà ông tác giả cũng đánh vào hơi sâu, giải thích có thể nói là hơi quá mức trong cuốn sách này… nhưng cũng cho thấy sự tìm hiểu sâu xa để tác giả có thể đưa người đọc như đứng ngay tại phim trường ấy. Tiếp đó là lời thoại cũng hơi nhiều, hay có vẻ do mình thích đọc kiểu suy luận hơn là thoại nhiều quá! Cách thức giết người cũng tinh vi, xảo quyệt. Cách suy luận, thu thập chứng cứ, cách làm lộ mặt hung thủ cũng khá khoa học, hợp lý trong bối cảnh thời điểm đó. Cái kết không quá khó đoán, nhưng cho người đọc thấy được sự tài tình của tác giả trong việc dẫn dắt câu chuyện và đưa ra sự hợp lý để vạch mặt hung thủ. Nói chung, đây cũng là một cuốn trinh thám đáng đọc của nhà Cổ Nguyệt. Bìa sách đẹp, giấy tốt, nội dung ổn, lại nói về lĩnh vực phim ảnh thời kỳ những năm 20s của thế kỷ trước nên chắc chắn sẽ có nhiều người muốn tìm hiểu. ••••••••• Đánh giá: 8/10 Dương Linh *** Bối cảnh vào cuối những năm 1910 kỷ nguyên phim câm. Cô diễn viên Stellar Lamar đột ngột tử vong khi đang quay một bộ phim trinh thám. Nghi phạm đều trong giới làm phim và có mối quan hệ ân oán phức tạp với nạn nhân. Cảnh sát mời nhà khoa học – thám tử Craig Kennedy hỗ trợ điều tra… Arthur B.Reeve cũng là một nhà khoa học, cùng với Richard Austin Freeman là những tác giả đi tiên phong trong dòng trinh thám “thực chứng”. Dòng trinh thám này kết hợp suy luận logic với kiến thức khoa học để giải quyết vụ án. Nhịp truyện diễn ra từ tốn, nhưng không ù lì vì người đọc thường được thám tư Kennedy “giảng giải” những kiến thức khoa học và độc học thú vị. Và những xét nghiệm khoa học trong truyện tuy không còn xa lạ với độc giả hiện đại nhưng viết cách đây 100 năm thì phải nể kiến thức của tác giả và chúng đã góp phần quan trọng vạch mặt thủ phạm. Ngoài ra truyện còn cung cấp nhiều kiến thức thú vị về công nghệ làm phim thời đó cho những ai quan tâm. Chỉ tiếc một chút khi mình kì vọng sẽ có twist xoắn hơn ở cuối cũng như động cơ được nói kĩ hơn. Nhưng tổng thể truyện cũng khá đáng đọc, hợp với với ai thích khoa học-suy luận. Chấm 7,75/10. Hy vọng sẽ còn được tái ngộ thám tử Kennedy ở cuốn sau với lĩnh vực phân tâm học. Nam Do Mời các bạn mượn đọc sách Vụ Án Phim Trường của tác giả Arthur B. Reeve & Nguyễn Thành Long (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Lá Thư Buộc Tội - Erle Stanley Gardner
Hai người phụ nữ trong văn phòng Perry Mason là một sự kết hợp mèo và chuột. Ở cái nhìn đầu tiên, dường như bà Davenport đóng vai chuột. Nhưng chồng bà lại cho rằng bà đã tìm cách sát hại mình ... rằng bà ta đã từng giết người nên chẳng ngần ngại mà ra tay một lần nữa. *** Theo GUINNESS, quyển sách ghi các kỷ lực thế giới, Erle Stanley Gardner được ghi nhận là tác giả sách bán chạy nhất của mọi thời đại. - Erle Stanley Gardner có trên 150 tác phẩm trinh thám tin cậy, đáng giá và hợp thời đại. - Erle Stanley Gardner, người đã tạo nên nhân vặt truyền kỳ luật sư Perry Mason, cô thư ký tinh ý Della Street, và viên thám tử tài ba Paul Drake. - Erle Stanley Gardner, tác giả duy nhất có sách bán chạy hơn cả bốn tác giả nổi tiếng khác cộng lại gồm: Agathe Chistie, Harold Robbins, Barbara Cartland và Louis L’amour   *** Một số tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam:   1. Móng vuốt bọc nhung (Đôi tất nhung) [Perry Mason #1 - The Case of the Velvet Claws] (1933) 2. Cháu gái người mộng du [Perry Mason #8 - The Case of the Sleepwalker's Niece] (1936) 3. Vị giám mục nói lắp [Perry Mason #9 - The Case of the Stuttering Bishop] (1936) 4. Kẻ hùn vốn [Perry Mason #17 - The Case of the Silent Partner] (1940) 5. Con vịt chết chìm (Mười tám năm sau) [Perry Mason #20 - The Case of the Drowning Duck (Le Canard Qui Se Noie)] (1942) 6. Cô gái có vết bầm trên mặt [Perry Mason #25 - The Case of the Black-Eyed Blonde (La Blonde au Coquard)] (1944) 7. Lá thư buộc tội [Perry Mason # 44 - The Case of the Runaway Corpse] (1954) 8. Viên đạn thứ hai [Perry Mason #45 - The Case of the Restless Redhead] (1954) 9. Con mồi táo bạo [Perry Mason #54 - The Case of the Daring Decoy] (1957) 10. Kẻ mạo danh [Perry Mason #64 - The Case of the Spurious Spinster] (1961) 11. Người đàn bà đáng ngờ [Perry Mason #69 - The Case of the Mischievous Doll] (1963) 12. Vụ Án Hoa Hậu Áo Tắm [The Case of the Queenly Contestant] 13. Kẻ Giết Người Đội Lốt [Perry Mason #40 - The Case of the Grinning Gorilla] (1952)   *** Della Street, cô thư ký riêng của luật sư Perry Mason, bước vào văn phòng của ông ta và nói, “Thưa, có hai bà ở phòng ngoài nói là họ xin được gặp ông ngay bây giờ đấy.” “Về chuyện gì vậy, Della?” “Họ đâu có chịu bàn với một nhân viên thư ký quèn như tôi.” “Vậy thì cứ việc bảo với họ là tôi không tiếp được nhé.” Cô thư ký nói, “Họ đến cả một bầu đoàn mà.” “Sao?” “Họ mang theo va-li, mắt cứ nhìn đồng hồ, rõ là đang có ý chờ đón xe lửa hoặc máy bay, nhưng cần gặp cho được ông trước khi đi.” Cảm thấy động tính hiếu kỳ, Mason hỏi, “Trông họ ra làm sao?” Della Street nói, “Bà Davenport trông nhút nhát như chuột. Bà này còn trẻ, ăn mặc giản dị, có vẻ lấm lét.” “Trạc bao nhiêu?” “Khoảng gần ba mươi.” “Và rụt rè như chuột?” Cô thư ký gật đầu. Mason nói tiếp, “Thế còn bà kia?” “Nếu tả bà này rụt rè như chuột thì phải tả bà Ansel kia là táo tợn giống như mèo vậy.” “Trạc bao nhiêu?” “Chắc trên năm mươi.” “Hai mẹ con chăng?” “Có thể lắm.” Mason nói, “Cô con gái hiếu thảo cưng yêu bao lâu nay phải chịu đựng với một ông chồng cực kỳ vũ phu. Người mẹ phải tỏ thái độ bực mình để cự lại, còn anh chàng thì cứ mắng nhiếc cô vợ thậm tệ đủ điều. Bà mẹ và cô con gái đang có ý định bỏ đi hẳn một nơi nào khác. Họ phải lo bảo vệ quyền lợi của mình chứ.” Della Street nói, “Có thể là như thế. Nhưng mà họ đến đây với cả một đoàn lỉnh kỉnh.” Mason nói, “Bảo với họ là tôi không tiếp các vụ kiện liên quan đến chuyện gia đình, họ nên tìm gặp các luật sư khác trước giờ máy bay cất cánh.” Della Street lộ vẻ miễn cưỡng. Mason cầm lấy những văn thư trong đống hồ sơ đánh dấu “khẩn” do Della Street vừa đặt sẵn trên bàn giấy. Ông nói lớn giọng, “Ý cô là muốn tôi tiếp hai bà này hả, để thỏa mãn chút hiêu kỳ của giới phụ nữ. Thôi, xin miễn đi, cô bé.” Della Street ngoan ngoãn lẹ bước ra khỏi phòng, khoảng hơn nửa phút thì quay trở về. Mason hỏi, “Sao?” Nàng đáp, “Tôi bảo với họ là ông không nhận các vụ liên quan đến chuyện gia đình.” “Thế họ nói gì?” “Cái bà rụt rè như chuột chẳng nói gì cả.” “Còn bà táo tợn như mèo?” ... Mời các bạn đón đọc Perry Mason #44 Lá Thư Buộc Tội của tác giả Erle Stanley Gardner.
Người Được Minh Oan - Erle Stanley Gardner
Người ta bày ra một bữa tiệc nhỏ trên một con thuyền để bàn bạc những vấn đề mua bán một hòn cù lao. Nhưng mọi việc không suôn sẻ. Ngay sau đó một người bị ngã xuống nước và mất tích. *** Theo GUINNESS, quyển sách ghi các kỷ lực thế giới, Erle Stanley Gardner được ghi nhận là tác giả sách bán chạy nhất của mọi thời đại. - Erle Stanley Gardner có trên 150 tác phẩm trinh thám tin cậy, đáng giá và hợp thời đại. - Erle Stanley Gardner, người đã tạo nên nhân vặt truyền kỳ luật sư Perry Mason, cô thư ký tinh ý Della Street, và viên thám tử tài ba Paul Drake. - Erle Stanley Gardner, tác giả duy nhất có sách bán chạy hơn cả bốn tác giả nổi tiếng khác cộng lại gồm: Agathe Chistie, Harold Robbins, Barbara Cartland và Louis L’amour   *** Một số tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam:   1. Móng vuốt bọc nhung (Đôi tất nhung) [Perry Mason #1 - The Case of the Velvet Claws] (1933) 2. Cháu gái người mộng du [Perry Mason #8 - The Case of the Sleepwalker's Niece] (1936) 3. Vị giám mục nói lắp [Perry Mason #9 - The Case of the Stuttering Bishop] (1936) 4. Kẻ hùn vốn [Perry Mason #17 - The Case of the Silent Partner] (1940) 5. Con vịt chết chìm (Mười tám năm sau) [Perry Mason #20 - The Case of the Drowning Duck (Le Canard Qui Se Noie)] (1942) 6. Cô gái có vết bầm trên mặt [Perry Mason #25 - The Case of the Black-Eyed Blonde (La Blonde au Coquard)] (1944) 7. Lá thư buộc tội [Perry Mason # 44 - The Case of the Runaway Corpse] (1954) 8. Viên đạn thứ hai [Perry Mason #45 - The Case of the Restless Redhead] (1954) 9. Con mồi táo bạo [Perry Mason #54 - The Case of the Daring Decoy] (1957) 10. Kẻ mạo danh [Perry Mason #64 - The Case of the Spurious Spinster] (1961) 11. Người đàn bà đáng ngờ [Perry Mason #69 - The Case of the Mischievous Doll] (1963) 12. Vụ Án Hoa Hậu Áo Tắm [The Case of the Queenly Contestant] 13. Kẻ Giết Người Đội Lốt [Perry Mason #40 - The Case of the Grinning Gorilla] (1952)   *** Jane Keller bước vào tòa nhà Ngân hàng lúc ba giờ kém năm phút và đứng xếp hàng trước một cửa giao dịch phía trên có treo bảng Gửi tiền và trả tiền - J-M. Một người mặc bộ com-lê màu xanh, đứng không xa cửa ra vào, hình như chỉ đợi dịp đó, lấy ở trong túi ra một chiếc ví đã xỉn màu vì đã dùng lâu ngày, và tiến lên về phía cửa giao dịch. Jane Keller đưa mắt lơ đãng nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường. Bà ta có vẻ sốt ruột. Dòng người xếp hàng phía trước tiến bước một cách chậm chạp. Jane Keller lại phải nhìn đồng hồ một đôi lần nữa và chau mày. Người mặc bộ đồ xanh đã tiến lại gần bà, đó là một người khoảng bốn mươi tuổi, vẻ mặt hoạt bát và dễ bị kích động. Một nhà sinh lý học sẽ xếp ông ta vào loại những người đấu tranh, nhưng là loại người đấu tranh một kiểu riêng: những người này không ngần ngại đánh lén, nếu họ thấy chắc chắn bằng cách đó đem lại lợi ích cho mình. Người đàn ông lúc này đứng ngang với Jane Keller. Ông ta lấy ra năm tờ giấy bạc một trăm đô-la từ chiếc ví cũ đưa cho người đàn bà bên cạnh. “Đây, thưa bà Keller,” người đó nói. Những ngón tay của người đàn bà nắm lấy những tờ giấy bạc một cách máy móc. Sau đó một cảm giác ngạc nhiên, giống như một người đang ngủ bị đánh thức bất chợt thể hiện trên nét mặt. Bà ta nhấp nháy mắt. “Không, nhưng ông đừng phiền lòng!” một người nào đó càu nhàu với người đàn ông mặc bộ com-lê xanh. “Ông không thể xếp hàng như mọi người hay sao?” “Cái gì vậy?” Jane Keller hỏi. “Ông muốn cái gì ở tôi?” “Tôi là Scott Shelby,” người đàn ông trả lời rõ ràng. “Và số tiền này là tiền trả theo hạn trong 5 tháng của tiền thuê để được quyền khoan thăm dò dầu hỏa trên mảnh đất thuộc sản nghiệp của bà, được qui định trong hợp đồng thuê mướn. Ông Shelby nhờ tôi gởi cho bà.” Người ta có thể nói là ông ta đọc một bản tường thuật đã học thuộc lòng. “Bà hãy ký vào giấy biên nhận. Chỗ này, nơi đã đánh dấu… Đây, chiếc bút máy.” Vừa nói ông ta vừa lấy một cuốn biên lai, mở ra và đưa tới trước mặt Jane Keller. “Nhưng… Tôi không hiểu,” bà ta lắp bắp. “Ông Shelby không có lợi ích gì trong việc này… ông ấy đã khước từ sử dụng những quyền của mình…” “Không bao giờ!” “Nhưng đúng. Chắc chắn là như vậy! Việc này thể hiện ở chỗ đã nhiều tháng nay tôi không nghe thấy nói về ông ấy.” “Có thể là như vậy. Đó là tại sao tôi nộp cho bà 5 tháng tiền trả theo hạn, với một trăm đô-la một tháng. Đúng là như vậy, phải không ạ?” “Vâng!… Đó là cái giá đã thỏa thuận. Nếu ông ấy muốn giữ lấy quyền của mình, thì ông ấy phải nộp tiền hàng tháng.” “Ồ! Không!” Người đàn ông cười như thể một ông giáo nhận ra một trong số học trò của mình không thuộc bài. ... Mời các bạn đón đọc Perry Mason #27 Người Được Minh Oan của tác giả Erle Stanley Gardner.
Cô Gái Có Vết Bầm Trên Mắt - Erle Stanley Gardner
Luật sư Perry Mason tiếp một cô gái tóc vàng tên là Diana Regis với một bên mắt bị đánh bầm tím, cô ta nhờ luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình vì cô bị người khác đánh và bị vu cho là ăn cắp... Từ đây, nhiều vụ rắc rối xảy ra, có một án mạng mà nạn nhân là bạn của Diana Regis. Cảnh sát nghi ngờ Diana Regis là thủ phạm vì có rất nhiều chứng cứ buộc tội cô ta. Một lần nữa, luật sư lại ra tay giúp cô gái và ông đã phát hiện ra nhiều bí ẩn đằng sau vụ án mạng này. Cô gái có vết bầm trên mắt sẽ mang đến cho bạn nhiều bất ngờ, hồi hộp và thú vị với kẻ sát nhân không thể đoán trước cho đến khi đọc tới những trang cuối cùng. *** Một số tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam:   1. Móng vuốt bọc nhung (Đôi tất nhung) [Perry Mason #1 - The Case of the Velvet Claws] (1933) 2. Cháu gái người mộng du [Perry Mason #8 - The Case of the Sleepwalker's Niece] (1936) 3. Vị giám mục nói lắp [Perry Mason #9 - The Case of the Stuttering Bishop] (1936) 4. Kẻ hùn vốn [Perry Mason #17 - The Case of the Silent Partner] (1940) 5. Con vịt chết chìm (Mười tám năm sau) [Perry Mason #20 - The Case of the Drowning Duck (Le Canard Qui Se Noie)] (1942) 6. Cô gái có vết bầm trên mặt [Perry Mason #25 - The Case of the Black-Eyed Blonde (La Blonde au Coquard)] (1944) 7. Lá thư buộc tội [Perry Mason # 44 - The Case of the Runaway Corpse] (1954) 8. Viên đạn thứ hai [Perry Mason #45 - The Case of the Restless Redhead] (1954) 9. Con mồi táo bạo [Perry Mason #54 - The Case of the Daring Decoy] (1957) 10. Kẻ mạo danh [Perry Mason #64 - The Case of the Spurious Spinster] (1961) 11. Người đàn bà đáng ngờ [Perry Mason #69 - The Case of the Mischievous Doll] (1963) 12. Vụ Án Hoa Hậu Áo Tắm [The Case of the Queenly Contestant] 13. Kẻ Giết Người Đội Lốt [Perry Mason #40 - The Case of the Grinning Gorilla] (1952)   *** Perry Mason ra hiệu cho cô thư ký lại gần và nói sẽ: - Della, một cô tóc vàng với bên mắt tím bầm lúc nào cũng là một hình ảnh bất thường, trừ phi cô ta thuộc loại ‘quậy’. Cô ta có dáng như vậy không? - Tôi không nghĩ thế, - Della Street đáp – rõ ràng cô ta có mối lo sợ ghê gớm về một chuyện gì đó… Cô ta có giọng nói thật hay, hình như là được sửa giọng. - Đang ở phòng đọc sách à? - Vâng. - Ăn bận ra sao? - Giày đen, chân không tất, áo măng tô lông thú. Gấu áo ngủ lòi ra ngoài. Thế thôi, không còn gì trên người nữa. - Còn vết bầm? - Trông mà phát ghê. - Mắt phải hay trái? - Mắt phải. Cô ta có mớ tóc vàng nhạt, mắt xanh to, mi dài. Chịu khó trang điểm, có thể rất xinh gái nếu mắt không có vết bầm. Theo mắt ông nhìn thì ông đoán cô ta 22 tuổi nhưng theo tôi ít ra cũng 26. - Cô ta tên gì? - Diana Regia. - Cái tên thật kỳ quặc - Cô ta bảo tên cô ta đúng như thế. Dầu sao cô ta cũng đang ở tình trạng quá xúc động và hốt hoảng. - Mắt có đỏ không? - Tôi không để ý. Cô ta có dáng bồn chồn, lo lắng nhưng không phải loại phụ nữ mau nước mắt. Gặp trường hợp gay go, cô ta sử dụng trí óc nhiều hơn là nước mắt. - Thôi được. Tôi sẽ gặp để hỏi lý do gì cô ta tìm đến tôi. Ông mở cửa phòng đọc sách ... Mời các bạn đón đọc Perry Mason #25 Cô Gái Có Vết Bầm Trên Mắt của tác giả Erle Stanley Gardner.
Băng Cướp Thụy Điển
221 khẩu súng máy biến mất khỏi kho vũ khí quân sự quốc gia. Mười vụ cướp tàn bạo. Một quả bom phát nổ ở Nhà ga Trung tâm Stockholm. Không nhân chứng nào tường tận chuyện đã xảy ra, giới cảnh sát như bị bịt mắt, cả đất nước chìm trong hoảng loạn… Đó không chỉ là những tình tiết trong Băng cướp Thụy Điển mà chính là chuỗi sự kiện gây chấn động đất nước này hồi đầu thập niên 1990, và giờ đây tất cả được thuật lại sống động dưới ngòi bút người anh em trai của ba tên cướp lừng danh. Khắc họa rõ nét và chân thực từng vụ cướp khét tiếng, đồng thời cũng đi sâu vào mối quan hệ gia đình phức tạp nhưng khăng khít, Băng cướp Thụy Điển là một trong những tiểu thuyết tội phạm đáng đọc nhất năm nay.  “Hoàn toàn điên rồ, hoàn toàn liều lĩnh, và hoàn toàn xuất sắc...” - Nordjyske Stiftstidende  “Độc nhất và choáng ngợp. Một trong những tiểu thuyết lôi cuốn nhất của năm.” - Nhà văn Stephen Booth  “Một cuốn sách sâu sắc... miêu tả và phân tích tâm lý tội phạm vô cùng khéo léo và thuyết phục.” - Diversioni “Sự hòa hợp hoàn hảo của thực tế và hư cấu.” - Skanska Dagladet *** Từ xưa đến nay, bạo lực và giận dữ chẳng bao giờ giải quyết được vấn đề. Mahatma Gandhi từng nói “An eye for an eye only ends up making the whole world blind” (tạm diễn dịch: Nếu ai cũng báo thù bằng cách 1 mắt trả 1 mắt thì thế giới sẽ toàn là người mù). Bạo lực có thể nào xuất phát từ tình thương và sự che chở không? Nếu dựa vào thứ gọi là “tình cảm gia đình” mà tự cho mình cái quyền đối xử bạo lực với người thân thì Biển nghĩ hành động đó thật sai lầm, vừa hại mình vừa hại người, và chỉ đẩy mọi người vào cảnh chỉ còn thân thể tồn tại nhưng tâm hồn đã hoàn toàn mất đi. Đã lâu rồi mới có 1 quyển sách đem đến cho Biển nhiều cung bậc cảm xúc như thế. Tuy mới vài tuần trước, quyển “Trảng đất trống” của Robert Dugoni đã khiến Biển khóc 3 lần, nhưng chính quyển “Băng cướp Thụy Điển” này mới khiến Biển từ bất mãn, giận dữ chuyển sang thỏa mãn, rồi lại hoang mang suy tư đủ điều. Qủa thật, những quyển sách được viết bởi 2 tác giả có những nét rất đặc sắc so với những quyển được viết bởi 1 tác giả. Nếu như ở quyển “Dị chủng”, từng dòng chữ bình thường cũng đem lại cảm giác bất an bồn chồn, thì ở quyển “Băng cướp Thụy Điển”, từng chương sách đều khiến Biển cảm thấy 1 sự giận dữ ngấm ngầm. Tính ra thì Biển đọc quyển này suốt 3 tháng, từ tháng 3~5/2018, vì những đoạn đầu khiến Biển rất bất mãn & không muốn đọc tiếp. 1 người vợ bị chồng bạo hành, 1 người phụ nữ khác thì chấp nhận lìa xa con mình để sống chung / để yêu 1 người đàn ông, người mà đem đến cho cô nhiều ngày giờ căng thẳng hơn là những giây phút yêu thương và an toàn. Nhưng rốt cuộc Biển đã lướt qua cảm giác bất mãn ban đầu để theo dõi tiếp quyển sách, càng về sau câu chuyện càng lôi cuốn. Tuy đầu sách có 2 dòng mang tính chất rất đánh đố như sau “Điều này cũng chẳng lấy gì làm quan trọng. Nhưng cuốn sách này được viết dựa trên một câu chuyện có thật” thì Biển cũng không hoàn toàn tin là nó có thật. Nhưng dù có thật hay không thì đây vẫn là 1 câu chuyện rất ấn tượng. Tưởng như bạo lực tràn ngập các vụ cướp, nhưng cá nhân Biển lại tập trung vào những tình tiết mà tính nhân văn được hé mở, tập trung vào những khoảnh khắc mà sự thiện lương còn nguyên vẹn chưa bị đánh mất. Chính những khoảnh khắc ấy đã lôi kéo Biển tiếp tục đọc. Những câu chữ miêu tả tâm lý tuyệt vời, cứ như người đọc đang được ở cạnh và chứng kiến trực tiếp từng khung hình. Đọc xong quyển này và những quyển khác của các nhà văn Thụy Điển, Biển chợt tự hỏi : chẳng lẽ ở 1 đất nước thuộc Châu Âu văn minh lại có tỷ lệ tội phạm và bạo lực cao như vậy sao, hay đó chỉ là tiểu thuyết? Sách khá to, dày, đúng kiểu Biển thích. Bìa có màu sắc đẹp, thiết kế sáng tạo. Trình bày hoàn hảo, chữ in to rõ, dịch thuật rất tốt, không có lỗi chính tả hay lỗi đánh máy. Nhã Nam đã thành công rực rỡ khi xuất bản quyển sách này. Biển không thuộc loại thích khen 1 cách quá mức như thế này, nhưng Biển buộc phải khen quyển “Băng cướp Thụy Điển” này vì không có chỗ nào để chê. Biển cho điểm 10/10 vì đây là 1 siêu phẩm xứng đáng với mức điểm đó, nhưng nếu kết cuộc của nó lạc quan hơn thì Biển sẽ cho điểm cao hơn, khoảng 14/10. Đây là 1 quyển sách xứng đáng có trên kệ của các mọt sách nói chung và các mọt trinh thám nói riêng. *** Bà Ariadne Oliver đi với người bạn ở cùng, bà Judith Butler, giúp chuẩn bị một bữa tiệc cho các trẻ em trong vùng, diễn ra vào buổi tối hôm ấy. Khung cảnh hoạt động chuẩn bị lúc này hết sức rộn rịp. Các bà các cô hăng hái đi ra đi vào, người kê bàn, người giúp chuyển những chiếc ghế nhỏ, bê lọ hoa, và rất nhiều quả bí ngô đặt vào những chỗ được định sẵn một cách có chủ ý. Hôm nay là tiệc Hallowéen cho các vị khách độ tuổi từ mười đến mười bảy. Tách ra khỏi đám người hối hả trong phòng, bà Oliver đứng dựa vào bức tường trống, săm soi nhìn trái bí ngô khổng lồ trên tay. “Lần gần đây nhất tôi nhìn thấy bí ngô,” bà nói, tay khẽ vuốt những sợi tóc muối tiêu vương trên vầng trán cao, “là ở Mỹ hồi năm ngoái - cả trăm trái ấy. Bày khắp trong nhà. Đời tôi chưa thấy nhiều bí ngô thế bao giờ. Mà kỳ thực,” bà nói thêm, vẻ trầm ngâm, “tôi chẳng phân biệt nổi đâu là bí ngô và đâu là bí đao. Đây là loại nào nhỉ?” “Xin lỗi, bồ,” bà Butler vội nói khi vấp phải chân bà bạn. Bà Oliver càng nép sát vào tường. “Là lỗi của tôi,” bà nói. “Tại tôi cứ đứng quẩn chân, chắn lối mọi người đi lại. Nhưng hồi đó họ tổ chức cũng hoành tráng lắm, bao nhiêu là bí ngô, hay bí đao gì đó. Đi đâu cũng thấy, trong cửa hàng cửa hiệu, rồi thì từ nhà ra ngõ, khắp mọi nơi, người ta còn thắp nến hoặc đèn bên trong trái bí, hoặc buộc dây treo chúng lên. Hết sức vui mắt. Nhưng dịp ấy lại không phải trang trí cho tiệc Hallowéen, mà là Lễ Tạ ơn. Tôi thì cứ thấy bí ngô là lại nghĩ đến Hallowéen, tức là cuối tháng 10. Lễ Tạ ơn muộn hơn nhiều chứ nhỉ? Có phải tháng 11 không? Tầm tuần thứ ba của tháng 11 gì đấy? Dẫu sao thì, lại nói, Hallowéen là ngày 31 tháng 10 phải không? Đầu tiên là Hallowéen, rồi sau đó là gì nhỉ? Lễ Các đẳng linh hồn à? Ngày ấy ở Paris người ta đến nghĩa trang và đặt hoa viếng mộ. Cũng không phải ngày lễ buồn thảm gì đâu. Ý là, cả trẻ con cũng đi viếng nữa, và chúng thích thú lắm. Đầu tiên mọi người phải ra chợ hoa và mua thật nhiều nhiều hoa đẹp. Chẳng hoa ở đâu trông đẹp mắt bằng hoa ở Paris bán ở chợ ấy cả.” Các bà các cô hối hả qua lại, thi thoảng lại vấp phải bà Oliver, nhưng chẳng ai nghe bà nói. Ai cũng quá bận với công việc đang làm. Đa số họ là các bà mẹ, có một vài bà cô chưa chồng tháo vát; cũng có những cậu trai mười sáu mười bảy trèo thang hoặc đứng lên ghế để treo đồ trang trí, bí ngô hoặc bí đao, hoặc treo những quả cầu màu sắc sặc sỡ ở ngang tầm mắt; còn các cô bé mười một mười lăm tuổi túm tụm thành nhóm cười khúc khích. “Rồi sau ngày Các đằng và viếng mộ ấy,” bà Oliver lại tiếp tục, khẽ tựa người xuống tay vịn ghế sofa nhỏ, “là đến Lễ Các thánh. Tôi nói có đúng không nhỉ?” Không ai trả lời bà. Bà Drake, một phụ nữ trung niên quý phái, cũng là gia chủ tổ chức bữa tiệc, cất tiếng tuyên bố: “Tôi không định gọi đây là tiệc Hallowéen gì cả, dù tất nhiên, nó đúng là như thế. Tôi sẽ gọi đây là bữa tiệc Trên Mười Một Tuổi. Để chỉ độ tuổi người tham dự, hầu hết là những người sắp học hết trường Elms* và tiếp tục học lên các trường khác.” Elms là trường nội trú nam nữ ở Colwall, Herefordshire, Anh, dành cho trẻ em từ 2,5 đến 13 tuổi. “Nhưng gọi thế không chính xác lắm, có đúng không, Rowena?” cô Whittaker nói, tay chỉnh cặp kính không gọng trên mũi, ra vẻ không tán thành. Cô Whittaker vốn là giáo viên trường làng, rất kỹ tính về chuyện đúng sai trong lời ăn tiếng nói. “Vì chúng ta đã bãi bỏ chế độ trên mười một tuổi từ lâu rồi mà.” Bà Oliver đang ngồi tựa vào tay ghế vội đứng dậy, tỏ vẻ hối lỗi. “Nãy giờ tôi chẳng giúp được gì cả, toàn ngồi đây nói chuyện linh tinh về bí ngô với bí đao.” Và cho phép chân mình ngơi nghỉ một lúc, bà nghĩ thầm, lương tâm hơi có chút bứt rứt, nhưng lại chẳng đủ cảm giác tội lỗi để nói to suy nghĩ ấy ra. “Tiếp theo tôi có thể giúp gì đây?” bà hỏi, rồi chợt thốt lên: “Mấy quả táo này đẹp quá đi mất!” Ai đó mới bưng một tô lớn đựng táo vào đặt trong phòng. Bà Oliver vốn rất mê táo. “Táo đỏ đẹp quá,” bà tấm tắc khen. “Ăn không ngon lắm đâu,” bà Rowenda Drake tiếp lời. “Nhưng được cái trông đẹp mắt và hợp với buổi tiệc. Chỗ táo này là để cho bọn trẻ chơi trò dùng miệng lấy táo trong thau nước. Chúng khá mềm nên dễ cắn hơn. Bưng tô này vào trong phòng đọc sách được không, Beatrice? Trò cắn táo này lúc nào cũng làm nước bắn tung tóe khắp sàn, nhưng thôi kệ, thảm phòng đọc sách đằng nào cũng cũ rồi. Ôi! Cảm ơn cháu nhé Joyce.” Joyce, cô bé mười ba tuổi người rắn rỏi, hăng hái bưng tô đựng táo lên. Hai quả bị rơi xuống sàn và lăn tới chân bà Oliver thì ngừng lại, như thể có ai vẩy đũa phép điều khiển chúng vậy. “Bà thích táo mà, phải không,” Joyce nói. “Cháu có đọc được là bà thích táo, hoặc có khi cháu nghe trên tivi người ta nói thế cũng nên. Bà chính là người hay viết truyện trinh thám đúng không ạ?” “Đúng vậy,” bà Oliver đáp. “Chắc phải mời bà làm gì đó liên quan đến mấy vụ án mạng mới được. Bà dựng một vụ án mạng trong buổi tiệc tối nay và cho mọi người phá án đi.” “Không, cảm ơn cháu,” bà Oliver nói. “Đủ lắm rồi.” “Là sao ạ? Sao lại đủ lắm rồi?” “Ờ thì, ta từng làm thế một lần, và kết quả không thành công chút nào,” bà Oliver nói. “Nhưng bà đã viết rất nhiều sách,” Joyce hào hứng, “bà kiếm được rất nhiều tiền nhờ đó phải không ạ?” “Ở một chừng mực nào đó,” bà Oliver đáp, tâm trí lang thang trở về Inland Revenue. “Và bà có một thám tử là người Phần Lan nữa.” Bà Oliver thừa nhận. Một cậu bé khác trông có vẻ lãnh đạm, bà Oliver đoán hẳn phải hơn mười một tuổi, nói với vẻ nghiêm nghị: “Sao lại là Phần Lan?” “Ta cũng thường tự hỏi như thế,” bà Oliver thành thực trả lời. Bà Hargreaves, vợ người đánh đàn ống ở nhà thờ thở hổn hển bước vào phòng, tay bê một xô nhựa lớn màu xanh lá cây. “Cái này thì sao,” bà nói, “để chơi trò cắn táo ấy? Có vẻ màu mè rực rỡ đấy, tôi nghĩ thế.” Cô Lee, người bán thuốc theo toa bác sĩ, đáp: “Xô mạ kẽm thì tốt hơn. Thế mới khó lật. Bà định đặt cái này ở đâu đây, bà Drake?” “Tôi đã nghĩ trò cắn táo nên tổ chức trong phòng đọc sách. Tấm thảm phòng ấy cũng đã cũ rồi, và thể nào cũng có nước vương vãi cho xem.” “Được rồi. Vậy để chúng tôi bưng xô này theo luôn. Rowena, đây thêm một giỏ táo nữa này.” “Để tôi giúp,” bà Oliver xăng xái. Bà nhặt hai quả táo dưới chân lên. Gần như quên bẵng mất mình đang làm gì, bà đưa một quả lên miệng cắn và bắt đầu nhai rau ráu. Bà Drake đưa tay giật lại quả táo thứ hai và đặt trở vào giỏ. Cả phòng dậy lên tiếng nói chuyện ồn ào. “Vâng, nhưng giờ biết tìm đâu ra hoa mõm sói?” “Bà phải có hoa mõm sói đặt trong phòng đọc sách chứ, đấy chắc là phòng tối nhất nhà rồi.” “Không, chúng ta phải đặt hoa trong phòng ăn.” “Ta phải phủ cái gì lên bàn trước đã.” “Bàn đã bọc một lớp vải len tuyết dài, rồi lại phủ một tấm cao su lên nữa.” “Thế còn các tấm gương? Chúng ta sẽ nhìn được các ông chồng trong đó chứ?” Len lén cởi giày và vẫn khẽ nhai miếng táo trong miệng, bà Oliver lại thả người trở xuống chiếc sofa nhỏ và chăm chú quan sát căn phòng đầy người qua lại. Lúc này bà bắt đầu dùng đầu óc nữ tác giả của mình để suy nghĩ: “Giờ thì, nếu mình định viết một cuốn sách về tất cả những người này, mình nên viết gì nhỉ? Họ đều là những người tử tế, mình nghĩ là vậy, nhưng ai mà biết được?” Một mặt, bà cảm thấy thật thú vị khi không biết gì về họ. Tất cả đều sống ở Woodleigh Common, vài người bà có biết đôi chút qua lời kể của Judith. Cô Johnson - hình như có liên quan nhà thờ, nhưng không phải là em gái của mục sư. À không, cô ấy là em người đánh đàn ống mới phải, đúng rồi. Rowena Drake, hình như chuyên chỉ đạo các hoạt động chung trong vùng Woodleigh Common này. Và cả người phụ nữ đang thở hổn hển sau khi bưng cái xô nhựa lúc nãy, một cái xô xấu đến phát gớm. Bản thân bà Oliver vốn chẳng bao giờ ưa nổi đồ nhựa. Rồi bọn trẻ con và các cô cậu tuổi choai. Đến bây giờ tất cả chỉ mới là những cái tên trong đầu bà Oliver. Cô bé Nan này, Beatrice này, Cathie, Diana này và Joyce, một cô bé khoác lác và hay hỏi lung tung. Mình không thích cô bé Joyce này lắm, bà Oliver thầm nghĩ. Cô bé kia tên là Ann, trông cao ráo và kẻ cả. Rồi hai cậu thiếu niên, hình như thích thử các kiểu tóc khác lạ, chỉ có điều kết quả không được tốt đẹp lắm. Một cậu bé người nhỏ nhắn rụt rè bước vào phòng. “Mẹ bảo cháu đem những tấm gương này đến xem có dùng được không,” cậu nói, giọng như hụt hơi. Bà Drake đón lấy các tấm gương: “Cảm ơn cháu nhiều nhé, Eddy.” “Chỉ là gương cầm tay bình thường thôi mà,” cô gái tên Ann lên tiếng. “Có thật bọn cháu sẽ nhìn thấy mặt chồng tương lai trong đó không?” “Có đứa sẽ thấy, có đứa không,” Judith Butler đáp, vẻ bí hiểm. “Bà đã bao giờ thấy mặt chồng mình khi đến một bữa tiệc chưa ạ - ý cháu là những bữa tiệc như thế này này?” “Tất nhiên là chưa rồi,” Joyce đáp thay. “Có lẽ bà ấy đã thấy rồi,” Beatrice lên giọng kẻ cả. “Cái đó người ta gọi là giác quan thứ sáu,” cô bé nói thêm, giọng hài lòng vì mình thông thạo những từ ngữ hợp thời. “Cháu đã đọc truyện của bà,” Ann nói với bà Oliver, “The Dying Goldfish. Cuốn đó hay đấy ạ.” cô bé lịch sự tán dương. “Cháu lại không thích cuốn đó,” Joyce lên tiếng. “Không đủ máu me. Cháu thích những vụ án đổ máu thật nhiều ấy.” “Thế thì hơi bẩn,” bà Oliver nói, “cháu không thấy vậy sao?” “Nhưng rất ly kỳ,” Joyce đáp. “Cũng không hẳn,” bà Oliver nói. “Cháu đã chứng kiến một vụ án mạng đấy,” Joyce la lên. “Đừng có ăn nói hàm hồ vậy chứ, Joyce,” cô giáo Whittaker lên tiếng. Mời các bạn đón đọc Băng Cướp Thụy Điển của tác giả Anders Rosluno & Stefan Thunberg.