Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lợi Thế Cạnh Tranh - Michael E. Porter

Xuất bản lần đầu năm 1985, cuốn sách này là sự bổ sung chính yếu cho tác phẩm Chiến lược cạnh tranh (Competitive Strategy). Nếu Chiến lược cạnh tranh tập trung vào các ngành kinh doanh, thì Lợi thế cạnh tranh lại chủ yếu nói về các công ty và doanh nghiệp. Mục tiêu của tôi là khái niệm hóa một công ty, với những nguồn gốc cơ bản của lợi thế cạnh tranh và tính bền vững của lợi thế đó.   Trọng tâm của tác phẩm này là một lý thuyết dựa trên hoạt động (activity-based theory) của công ty. Để cạnh tranh trong bất kỳ ngành nào, các công ty phải thực hiện một loạt những hoạt động riêng rẽ như thực hiện đơn hàng, tiếp xúc khách hàng, lắp ráp sản phẩm, đào tạo nhân viên v.v… Chính các hoạt động này, vốn ở tầm nhỏ hẹp hơn các chức năng như marketing hay R&D, mới là nơi phát sinh chi phí và tạo ra giá trị cho người mua. Chính chúng mới là các đơn vị cơ bản (basic units) của lợi thế cạnh tranh [1] . Lợi thế cạnh tranh đưa ra khái niệm về Chuỗi giá trị (value chain) – là khung mẫu cơ sở để tư duy một cách chiến lược về các hoạt động trong doanh nghiệp; đồng thời đánh giá chi phí và vai trò tương đối của chúng trong việc khác biệt hóa. Khác biệt giữa giá trị (mức mà người mua sẵn sàng thanh toán cho một sản phẩm hay dịch vụ) với chi phí thực hiện các hoạt động cần thiết để tạo ra sản phẩm/dịch vụ ấy sẽ quyết định mức lợi nhuận. Chuỗi giá trị giúp ta hiểu rõ các nguồn gốc của giá trị cho người mua (buyer value) đảm bảo một mức giá cao hơn cho sản phẩm, cũng như lý do tại sao sản phẩm này có thể thay thế sản phẩm khác. Chiến lược là một cách sắp xếp và kết hợp nội tại các hoạt động một cách nhất quán, cách thức này phân biệt rõ ràng doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.   Cũng chính cái nhìn dựa trên hoạt động này cho ta cơ sở để suy nghĩ về chiến lược tại các doanh nghiệp đa ngành. Lợi thế cạnh tranh đi sâu khám phá vai trò của sản phẩm /dịch vụ thay thế trong cạnh tranh, cũng như phân tích lợi thế cạnh tranh trong một số ngành cụ thể [2] . Các hoạt động cũng là công cụ cơ bản để kiểm tra lợi thế hay bất lợi của việc đa dạng hóa. Khả năng tạo ra giá trị gia tăng thông qua cạnh tranh ở các doanh nghiệp đa ngành có thể được lý giải qua việc chia sẻ các hoạt động hoặc chuyển các kỹ năng độc nhất giữa các hoạt động khác nhau trong doanh nghiệp. Điều đó cho phép khái niệm “tổng lực” (synergy) trở nên rõ ràng và nhất quán. Lợi thế cạnh tranh nghiên cứu những vấn đề này, cũng như những thách thức về mặt tổ chức của sự cộng tác giữa các chức năng kinh doanh (cross-business collaboration) [3] . Với làn sóng mới của sự sáp nhập, các giá trị cạnh tranh bị đặt dấu hỏi, thì các vấn đề này tiếp tục gây ra nhiều sự quan tâm mới.   Cuối cùng, cách nhìn doanh nghiệp dựa trên các hoạt động của nó cũng tạo điều kiện cho việc đánh giá các chiến lược quốc tế, hay nói cách khác, cho sự cạnh tranh giữa những địa phương và quốc gia khác nhau. Khi tham gia cạnh tranh quốc tế, một doanh nghiệp có thể “trải rộng” các hoạt động của nó lên nhiều địa điểm, quốc gia khác nhau (tôi đặt tên cho khái niệm này là configuration – cấu hình, cấu trúc của doanh nghiệp), nhưng vẫn hoàn toàn có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bằng việc phối kết hợp các hoạt động này. Tuy nhiên, do Lợi thế cạnh tranh đã quá dày và phức tạp, tôi quyết định sẽ phát triển các vấn đề “quốc tế” này ở trong một cuốn sách khác [4] . Tiếp đó, một cách tự nhiên, tôi lại nghiên cứu vai trò riêng của địa điểm đối với lợi thế cạnh tranh. Đó chính là chủ đề của cuốn sách thứ ba trong bộ sách này, mang tên Lợi thế cạnh tranh quốc gia [5] .   13 năm sau khi Lợi thế cạnh tranh được xuất bản lần đầu tiên, hồi tưởng lại, tôi cảm thấy hạnh phúc nhất khi các khái niệm chính yếu của nó được sự chấp nhận của mọi người. Những cụm từ như lợi thế cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh bền vững giờ đây đã trở nên phổ biến. Khái niệm “hoạt động” không chỉ phổ biến trong khi nói về cạnh tranh và chiến lược, mà còn quan trọng trong việc nghiên cứu các vấn đề về chức năng như quản trị dịch vụ, hay vai trò của công nghệ thông tin trong cạnh tranh. Tính toán chi phí dựa trên hoạt động trở thành một tiêu chuẩn mới trong kế toán quản trị, ngay cả khi đây chưa thể là một công cụ chiến lược.   Ngoài ra, khi hồi tưởng lại, Lợi thế cạnh tranh còn là một sự hài lòng đặc biệt cho cá nhân tôi với tư cách một học giả. Trong khi Chiến lược cạnh tranh là sự phát triển các lý thuyết trong kinh tế học công nghiệp, Lợi thế cạnh tranh dường như là tác phẩm mang tính khai phá trong lĩnh vực này, cả trong quản trị học và kinh tế học. Thực ra, tác phẩm này là kết quả của sự nỗ lực giải một câu đố của tôi. Câu đố như sau: bằng cách nào chúng ta có thể tìm ra một cách thức có hệ thống để kiểm tra nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh, gắn liền với chi phí và khác biệt hóa, đồng thời vạch ra sự khác biệt căn bản giữa các công ty? Hiện nay tôi hoàn toàn tin rằng chính các hoạt động đã cho chúng ta công cụ cần thiết đó. Càng nghiên cứu, tôi càng thấy khái niệm này được chứng minh rõ ràng và hùng hồn hơn nhiều so với dự tính ban đầu.   Tại sao vậy? Bởi cuốn sách này đưa ra phương pháp vượt ra ngoài những kiểu mô tả đặc điểm một chiều hoặc đơn nhất của lợi thế cạnh tranh. Đa số các công trình nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực này gắn lợi thế với quy mô và thị phần, và điều này thực ra đã quá đơn giản hóa vấn đề. Một là, tại một số bộ phận của doanh nghiệp, quy mô và thị phần quan trọng hơn nhiều so với chi phí và khác biệt hóa. Hai là, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn trong nhiều ngành kinh doanh. Cuối cùng, ngay cả khi quy mô và thị phần gắn liền với hiệu quả của sản xuất kinh doanh, thì chúng thường chỉ là kết quả, chứ không phải là nguyên nhân của lợi thế cạnh tranh.   Một số nỗ lực khác nhằm giải thích lợi thế cạnh tranh - chẳng hạn như điểm mạnh và điểm yếu, các yếu tố thành công, hay các khả năng riêng biệt - đều đúng khi thừa nhận rằng một doanh nghiệp là đa dạng và có nhiều sự tương tác. Song những nỗ lực ấy lại thất bại trong việc giải thích nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh một cách có hệ thống và sâu sắc, cũng như không gắn chúng với khả năng sinh lời. Cuốn sách Lợi thế cạnh tranh bắt đầu với tiền đề rằng lợi thế cạnh tranh xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau; sau đó đưa ra cách thức gắn lợi thế cạnh tranh với những hoạt động cụ thể cũng như cách liên kết các hoạt động ấy với nhau và với hoạt động của nhà cung cấp, khách hàng. Cuốn sách này cũng nghiên cứu những nguyên nhân tiềm tàng của lợi thế trong một hoạt động cụ thể: lý do tại sao một doanh nghiệp đạt chi phí thấp hơn, bằng cách nào mà các hoạt động tạo ra giá trị hữu hình cho người mua. Nó nhấn mạnh rằng đa số vị thế cạnh tranh tốt bắt nguồn từ các hoạt động khác nhau. Lợi thế dựa trên một số ít các hoạt động dễ bị phát hiện và bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh. Sau hết, hoạt động và chuỗi giá trị cho ta cái nhìn về doanh nghiệp như là một hệ thống phụ thuộc lẫn nhau (interdependent system), trong đó các bộ phận riêng lẻ phải mang tính nhất quán về nội tại.   Nói rộng hơn, Lợi thế cạnh tranh giúp chiến lược trở nên vững chắc hơn, khả thi hơn. Các hoạt động - tức những gì một doanh nghiệp làm – nói chung là hữu hình, quan sát được, và do đó, có thể quản lý được. Khi đó, chiến lược không chỉ là một tầm nhìn chung chung, nó đã trở thành một sự kết hợp các hoạt động riêng lẻ mà doanh nghiệp lựa chọn, trong sự so sánh với các đối thủ của mình. Chiến lược theo đuổi chi phí thấp, chẳng hạn, sẽ gồm một bộ các lựa chọn về hoạt động không giống với chiến lược khác biệt hóa. Các hoạt động chính là cây cầu nối giữa chiến lược và việc triển khai. Khi chiến lược được định nghĩa trên những khái niệm chung về định vị, thì sự phân biệt rõ ràng giữa chiến lược với cấu trúc là có ý nghĩa và cần thiết. “Là cái gì” và “bằng cách nào” là hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, khi ý thức rằng doanh nghiệp là một tập hợp nhiều hoạt động khác nhau, dường như những phân định trước kia giữa chiến lược, chiến thuật và tổ chức trở nên lu mờ. Chiến lược giờ đây là một loạt các hoạt động nhất định, nhắm đến việc cung cấp một loạt giá trị cho những khách hàng cụ thể nào đó. Đặc điểm của mỗi hoạt động thể hiện cách thức thực hiện hoạt động đó, bao gồm cả nhân lực và vật lực, cũng như các sắp xếp về tổ chức liên quan. Do đó, các khả năng cùng năng lực làm việc trở thành bộ phận của các hoạt động cụ thể, hơn là mang tính trừu tượng, xa rời chi phí và giá trị tạo ra cho người mua.   Các chức năng mà nhiều người cho là mang tính tổ chức (như hệ thống bồi hoàn, đào tạo, quy trình ra quyết định .v.v…) cũng chỉ là những hoạt động. Tôi gọi chúng là những hoạt động hỗ trợ, phân biệt với những hoạt động trực tiếp liên quan tới việc sản xuất, phân phối, marketing sản phẩm, dịch vụ. Ngay các hoạt động hỗ trợ cũng có thể là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh. Việc kết hợp các hoạt động để cạnh tranh theo một cách thức nhất định cũng góp phần hình thành quan hệ trong hợp đồng với nhân viên và các doanh nghiệp khác. Các hoạt động cũng tạo ra một khung mẫu trong việc xác định các biên giới tổ chức.   Các hoạt động cũng làm cho chiến lược trở nên mang tính thực hành. Nói cách khác, coi doanh nghiệp như là tập hợp các hoạt động khác nhau chính là coi mỗi cá nhân là một phần của chiến lược. Điều này cũng giải thích tại sao các nhân viên phải hiểu về chiến lược, sao cho lý lẽ trong các hoạt động của họ cũng như cách thức chúng liên hệ với những hoạt động khác là rõ ràng. Các ý tưởng trong Lợi thế cạnh tranh khi triển khai mang tính thách thức nhiều hơn so với các ý tưởng trong Chiến lược cạnh tranh , vì chúng đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn đến mọi công việc của doanh nghiệp. Trong một thế giới nơi các nhà quản trị có xu hướng thiên về những chỉ thị đơn giản, việc phân tích hoạt động một cách chi tiết đã và đang mang tính thách thức cao. Việc cố gắng tìm ra những ví dụ để minh họa chuỗi giá trị trong công việc cũng gặp phải những hạn chế thực tế. Tính phức tạp của một doanh nghiệp khiến không thể chỉ đưa ra những ví dụ ngắn; song muốn nghiên cứu tình huống một cách sâu hơn thì lại gặp khó khăn về tiết lộ thông tin. Đa số các công ty thành công đều xem cấu hình hoạt động của họ là thứ gì đó bí mật, độc quyền. Thực ra mà nói, chính sự khó khăn để hiểu được cấu hình hoạt động từ bên ngoài là một lý do quan trọng giải thích tại sao lợi thế cạnh tranh lại trở nên bền vững.   Ngày nay, hơn một thập kỷ sau lần xuất bản đầu tiên của Lợi thế cạnh tranh , các ý tưởng của nó vẫn đang tiếp tục lan tỏa. Trong lĩnh vực cạnh tranh và chiến lược, nơi có xu hướng phân biệt rõ ràng giữa các yếu tố bên ngoài (cấu trúc ngành và định vị) và bên trong (các năng lực cốt lõi, các nguồn lực chủ yếu), một số ý kiến cho rằng yếu tố bên trong là quan trọng hơn. Việc đối lập chiến lược cạnh tranh với các năng lực cốt lõi / các nguồn lực chủ yếu thực chất là đã đi lạc đề, tạo ra một sự phân biệt giả tạo.   Thật quá đơn giản khi suy nghĩ rằng các vị thế cạnh tranh và những kỹ năng bên trong, uy tín, hay năng lực tổ chức, có thể được tách biệt nhau. Thực tế thì các hoạt động kết nối chúng lại với nhau. Rõ ràng doanh nghiệp vừa là một tập hợp các hoạt động, vừa là một tập hợp các nguồn lực và năng lực. Nhưng hoạt động là những gì một doanh nghiệp làm, chúng xác định các nguồn lực và năng lực nào là liên quan. Các hoạt động cung cấp sự liên kết giữa vị thế sản phẩm và vị thế thị trường sản phẩm. Có thể quan sát và thực hiện các hoạt động, chúng liên quan trực tiếp đến chi phí và sự khác biệt. Một chiến lược cụ thể sẽ làm cho đa số nguồn lực và năng lực trở nên có giá trị, trong khi một chiến lược khác lại làm giảm thiểu giá trị của chúng. Nếu các nguồn lực và năng lực bị tách rời khỏi hoạt động, chiến lược và ngành kinh doanh, các doanh nghiệp trở nên có xu hướng hướng nội. Có nhiều điều cần nghiên cứu về tài sản của một doanh nghiệp, song không phải nghiên cứu một cách riêng rẽ.   Lợi thế cạnh tranh tạo cơ sở nền móng cho việc mô tả và đánh giá chiến lược, liên kết nó với hành vi doanh nghiệp, giúp hiểu được nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh. Đồng thời cuốn sách này cũng tạo cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn. Khi nhìn lại, rõ ràng Lợi thế cạnh tranh đã dẫn dắt tôi đến các chủ đề trong những nghiên cứu gần đây của mình: Tại sao những khác biệt về hoạt động đem lại những vị thế cạnh tranh khác nhau lại có thể xảy ra? Khi nào thì diễn ra sự đánh đổi giữa những vị thế? Điều gì khiến cho các hoạt động là khó bắt chước? Bằng cách nào các hoạt động trở nên ăn khớp với nhau? Các vị thế độc nhất đã được hình thành và phát triển như thế nào?   Tất nhiên, một điều rõ ràng nữa là việc cần nghiên cứu tại sao doanh nghiệp này lại hoạt động tốt hơn doanh nghiệp kia. Và cũng còn nhiều việc phải tìm hiểu về quy trình theo đó các doanh nghiệp tìm ra một chiến lược duy nhất, triển khai nó, thay đổi nó khi điều kiện thay đổi. Câu trả lời cho những vấn đề trên đương nhiên là không đơn giản, đòi hỏi những suy nghĩ và nghiên cứu sâu sắc, toàn diện.   Michael E. Porter Brookline, Massachusetts 01/1998       [1] 1 - Các sách về tái cấu trúc (re-engineering) doanh nghiệp sử dụng khái niệm quá trình (process). Đôi khi khái niệm này cũng có thể hiểu là các hoạt động (activities), hoặc một loạt hoạt động xuyên suốt qua nhiều phòng ban chức năng trong một tổ chức. Tuy nhiên, trong bất kỳ trường hợp nào thì khái niệm cơ bản vẫn là như nhau – các vấn đề về chiến lược cũng như vận hành đều được hiểu rõ nhất ở tầm mức hoạt động (activity level).   [2] - Các tác giả Adam Brandenburger và Barry Nalebuff trong cuốn sách Co-opetition (NXB Currency/Doubleday, New York, 1996) đã trình bày rất sâu sắc và sống động về vai trò của sản phẩm thay thế.   [3] - Các khái niệm này được phát triển tiếp tục trong bài báo “Từ lợi thế cạnh tranh đến Chiến lược cạnh tranh” của M.E.Porter trên tạp chí Harvard Business Review, số tháng 5&6, 1987.   [4] - M.E.Porter “Competition in Global Industries - Cạnh tranh trong các ngành kinh doanh toàn cầu”, Harvard Business School Press, Boston, 1986.   [5] - M.E.Porter “The competition Advantage of Nations - Lợi thế cạnh tranh quốc gia”, The Free Press, New York, 1990. *** Tủ Sách Doanh Trí gồm có: Nền Kinh Tế Tăng Trưởng Và Sụp Đổ Như Thế Nào? 23 Vấn Đề Họ Không Nói Với Bạn Về Chủ Nghĩa Tư Bản Cách Nghĩ Để Thành Công Nói Vậy Mà Không Phải Vậy  Quảng Cáo Và Tâm Trí Người Tiêu Dùng Thay Đổi Tư Duy - Nghệ thuật và Khoa học thay đổi tư duy của bản thân và người khác Vận Hành Toàn Cầu Hóa Đặt Tên Cho Thương Hiệu! Nguyên Lý Thứ Năm: Nghệ Thuật Và Thực Hành Tổ Chức Học Tập Nhìn Về Toàn Cầu Hóa Yukichi Fukuzawa - Tinh Thần Doanh Nghiệp Của Nước Nhật Hiện Đại 10 Điều Răn Về Những Thất Bại Trong Kinh Doanh Lãnh Đạo Chuyển Hóa Đạo của Warren Buffett Châu Á Thần Kỳ - Thiên Sử Thi Về Hành Trình Tìm Kiếm Sự Thịnh Vượng Của Châu Á Học làm Lãnh đạo Thế giới cong Rơi Tự Do Quản Trị Dựa Vào Tri Thức Hơn Cả Tiền Tương Lai Của Nghề Quản Trị Nhân Sự Phương Thức Dẫn Đầu Thị Trường Nhà Quản Lý Tài Giỏi Lợi Thế Cạnh tranh Khi Bong Bóng Vỡ Lợi Thế Cạnh Tranh Quốc Gia ...   Mời các bạn đón đọc Lợi Thế Cạnh Tranh của tác giả Michael E. Porter.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những Thách Thức Của Quản Lý Trong Thế Kỷ 21 - Peter F. Drucker
Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI là một trong những cuốn sách đột phá về các giả định trong quản lý của Peter F. Drucker. Cuốn sách đề cập một cách thẳng thắn, logic và sâu sắc tới các vấn đề quản lý vượt qua tầm nhìn của hiện tại, đưa ra những đề tài nóng bỏng của ngày mai. Cuốn sách không hẳn đưa ra các giải pháp cho tương lai mà tập trung đưa ra các vấn đề thực tế và đặt ra những câu hỏi nhằm giải quyết vấn đề đó. "Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI - Là ý tưởng mới, mang tính cách mạng và có tầm nhìn về các vấn đề quản lý trọng tâm trong tương lai. Peter F. Drucker thể hiện là một nhà tư tưởng quản lý quan trọng nhất trong thời đại của chúng ta" (Warren Bennis). Một cách tổng quát, Peter F. Drucker đã trông vào những vấn đề của thế kỷ XX nhằm xác định, đánh giá và phân tích các vấn đề của thế kỷ XXI. Drucker chỉ ra rằng, những doanh nghiệp đã và đang làm việc trong những thách thức của ngày hôm nay sẽ trở thành người tiên phong và nắm giữ nền kinh tế của ngày mai. 5 hiện tượng nổi bật trên thế giới được Peter F. Drucker đưa vào như một yếu tố làm ảnh hưởng tới việc xây dựng chiến lược trong tương lai. Với cách tiếp cận xây dựng chiến lược mới và khá bất ngờ, Peter F. Drucker cho rằng: “Mọi chiến lược, tức là sự giao phó các nguồn lực của ngày hôm nay cho sự kỳ vọng trong tương lai, cần phải xuất phát từ yếu tố dân số học…” Theo ông, “trong vòng 20 hoặc 30 năm tới đây dân số học sẽ là vấn đề chính trị bao trùm tất cả các nước phát triển. Và điều không tránh khỏi là nó sẽ trở thành vấn đề bất ổn lớn về chính trị”. Các đảng phái chính trị sẽ phải liên kết với nhau để đối phó với vấn đề dân số học. Với ông, tương lai không còn là cuộc cách mạng về công nghệ (T) mà là cuộc cách mạng của thông tin (I) thông qua việc hình thành các “khái niệm mới”. Sự bất mãn của các nhà quản lý cấp cao đối với dữ liệu mà công nghệ thông tin đem lại đã kích hoạt một cuộc cách mạng thông tin mới tiếp theo. Một thách thức nữa là đội ngũ lao động trí thức, việc thoả mãn lao động trí thức không dừng lại ở tiền lương mà là những thách thức và môi trường làm việc. Họ làm chủ “phương tiện sản xuất” của mình - đó là tri thức. Do đó, họ rất cơ động có thể ra đi tuỳ ý. Bởi vậy họ cần phải được quản lý như những người tình nguyện. Ở đây tác giả đặt ra một câu hỏi “sự nổi lên của lao động trí thức và năng suất lao động tri thức có ý nghĩa gì đối với quyền điều khiển doanh nghiệp? Nó có ý nghĩa gì với tương lai và cấu trúc của hệ thống kinh tế?” Sự xuất hiện người lao động trí thức, người có thể và cần phải quản lý bản thân mình đang làm chuyển đổi mọi xã hội. "Các ý tưởng của Peter F. Drucker chứng minh sự xuất chúng của ông trong lĩnh vực quản lý. Không thể có những thấu hiểu về con người như vậy nếu không có quá trình tìm hiểu và học tập say mê" (Fortune Magazine). Không ai khác mà chính là Drucker đã đưa ra một khái niệm rất mới: “nửa cuộc đời còn lại”. Theo phân tích của ông, lần đầu tiên trong lịch sử loài người các cá nhân có thể sống lâu hơn các tổ chức nơi họ làm việc. Điều này sẽ đẫn đến một thách thức hoàn toàn mới mẻ: Bạn sẽ làm gì trong nửa cuộc đời còn lại của mình? Trong cuốn sách này, tác giả cố tình chỉ giới hạn trong phạm vi "những thách thức của quản lý". Nhưng ông cũng không hề bỏ qua quản lý cá nhân, tức người lao động trí thức. Những sự thay đổi nêu ra trong cuốn sách không những vượt xa phạm vi lĩnh vực quản lý, phạm vi cá nhân và nghề nghiệp của cá nhân mà đã đề cập đến một vấn đề nóng bỏng đó là: Với 6 chương sách tác giả đã đem lại cho chúng ta một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ vào xã hội tương lai, đồng thời đưa ra được một loạt các khái niệm mới với tầm quan trọng không thể chối cãi của nó. Tạp chí Business Week đánh giá Peter F. Drucker là một nhà lý luận sắc bén về thực hành quản lý và quản lý kinh tế xã hội. Vì lẽ đó, độc giả sẽ thấy rằng, cuốn sách này không đơn thuần chỉ là cung cấp thông tin và những phân tích khoa học, mà quan trọng hơn, nó còn kêu gọi hành động. Trong dòng chảy của thời đại, hiếm có ai dám đánh giá thấp những giá trị mà công nghệ thông tin mang lại cho cuộc sống. Nhưng một cuốn sách của một người được coi là bậc thầy của tư tưởng quản lý hiện đại, ngang hàng với những nhà tư tưởng hàng đầu thế giới trước đó về quản lý như Taylor, Henry Fayol, Mc. Gregor, hay William Ouchi… lại chứng minh một điều ngược lại: chỉ ra sự thất bại của công nghệ thông tin! Theo ông, giá trị gia tăng của thông tin không phải là công nghệ mà là những thông tin hữu ích trong kinh doanh, bao gồm cả những quyết định kinh doanh đúng đắn. Và đây chính là một trong nhiều điều thú vị bất ngờ mà Peter F. Drucker mang lại cho chúng ta trong cuốn sách cuối cùng của cuộc đời viết sách "Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI". ***  Peter F. Drucker sinh ra tại Vienna (Áo) tháng 11/1909. Sau khi nhận bằng tiến sĩ luật quốc tế tại đại học Frankfurt Đức, ông nghiên cứu kinh tế học và làm báo tại Luân Đôn trước khi di cư sang Mỹ vào năm 1937. Là một nhà viết sách, nhà tư vấn quản lý và giáo sư đại học, Peter F. Drucker đã viết 35 cuốn sách với 15 cuốn về quản lý, 16 cuốn về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, 2 cuốn tiểu thuyết và 1 cuốn tự truyện. Xuyên suốt sự nghiệp của mình, ông đã tư vấn cho rất nhiều các tổ chức, tập đoàn lớn nhất thế giới trong quá trình quản lý doanh nghiệp cũng như tham gia tư vấn quản lý các tổ chức phi chính phủ và các quốc gia và được các chuyên gia kinh tế ghi nhận như cha đẻ của học thuyết nghiên cứu về quản lý. Tác phẩm: Quản Trị Trong Thời Khủng Hoảng Nhà Quản Trị Thành Công Những Thách Thức Của Quản Lý Trong Thế Kỷ 21 Những Nguyên Lý Quản Trị Bất Biến Mọi Thời Đại Tinh Thần Doanh Nhân Khởi Nghiệp Và Sự Đổi Mới Tinh Hoa Quản Trị Của Drucker ... Mời các bạn đón đọc Những Thách Thức Của Quản Lý Trong Thế Kỷ 21 của tác giả Peter F. Drucker.
Tạo Lập Mô Hình Doanh Nghiệp Bất Bại
Phiên bản sách đáng mong đợi nhất theo sau hai tác phẩm bán chạy nhất thế giới, Tạo lập mô hình kinh doanh và Thiết kế giải pháp giá trị. Tạo lập mô hình doanh nghiệp bất bại: ● Giúp các công ty lớn và nhỏ xây dựng chiến lược tăng trưởng thần tốc đồng thời quản lý hiệu quả hoạt động cốt lõi của họ ● Phân tích các mô hình kinh doanh đã và đang thành công nhất thế giới ● Cung cấp các công cụ để đánh giá mô hình kinh doanh, mức độ sẵn sàng đổi mới và mọi dự án đổi mới của bạn. Được trình bày với 4 màu nổi bật, cùng các hình ảnh và công cụ thiết thực, Tạo lập mô hình doanh nghiệp bất bại xứng đáng là cẩm nang “gối đầu giường” của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, doanh nhân và các chuyên gia đổi mới. *** Bộ sách Binh Pháp Cho Doanh Nghiệp gồm có: Kiểm Chứng Ý Tưởng Kinh Doanh Tạo Lập Mô Hình Kinh Doanh Thiết Kế Giải Pháp Giá Trị Tạo Lập Mô Hình Doanh Nghiệp Bất Bại ------ Thông tin tác giả: Tiến sĩ Alexander Osterwalder (www.strategyzer.com) là tác giả chính của các cuốn sách bán chạy nhất thế giới, Tạo lập mô hình kinh doanh và Thiết kế giải pháp giá trị, đồng thời là doanh nhân, diễn giả đầy nhiệt huyết. Ông đồng sáng lập Strategyzer, công ty phần mềm chuyên về các công cụ và nội dung quản lý chiến lược và đổi mới. Tiến sĩ Osterwalder đã phát minh ra “Mô hình kinh doanh giản lược”, công cụ quản lý chiến lược để thiết kế, kiểm tra, xây dựng và quản lý các mô hình kinh doanh, được sử dụng bởi các công ty như Coca Cola, GE, P&G, Mastercard, Ericsson, LEGO hoặc 3M. Ông thường xuyên là diễn giả chính trong các tổ chức và các trường đại học hàng đầu trên thế giới, đồng thời là giáo sư thỉnh giảng năm 2018 tại Stanford. Yves Pigneur là đồng tác giả của Tạo lập mô hình kinh doanh và là giáo sư về quản lý và hệ thống thông tin tại Đại học Lausanne. Yves cũng là một diễn giả thường xuyên về các mô hình kinh doanh trong các trường đại học, các tập đoàn lớn, các sự kiện khởi nghiệp và hội nghị quốc tế. Alan Smith đã cùng tạo ra Khung đề xuất giá trị với Alex Osterwalder và Yves Pigneur, đồng thời là nhà thiết kế đột phá cho cuốn sách Tạo lập mô hình kinh doanh. Ông đồng sáng lập Strategyzer. *** [REVIEW] SÁCH TẠO LẬP MÔ HÌNH DOANH NGHIỆP BẤT BẠI: Liệu có công thức chung cho doanh nghiệp theo đuổi sự bất bại? Ý tưởng thành lập hoặc duy trì một công ty bất bại khiến ta phải suy ngẫm. Đúng thế, không có công ty nào có thể trường tồn mãi mãi. Ngay tại Mỹ, các báo cáo thống kê cho thấy độ tuổi trung bình của các doanh nghiệp đã giảm từ gần 60 tuổi trong những năm 1950 xuống con số 20 ở thời điểm hiện tại. Tuổi thọ của top Fortune 500 công ty lớn nhất hiện nay tại Mỹ là từ 40 đến 50 tuổi. Đặc biệt, gần 50% công ty thuộc top Fortune 500 vào năm 1999 đã biến mất chỉ 10 năm sau đó. Các công ty này đã bị mua lại, sáp nhập hoặc chia tách thành các công ty khác. Dù thực tế khắc nghiệt, nhưng vẫn có những công ty được coi là tiến gần đến sự bất bại. Họ liên tục tự làm mới mình trước những thanh đổi ngoạn mục của bối cảnh và sử hữu một danh mục mô hình kinh doanh liên tục được khai thác và cải tiến. Đồng thời, họ cũng quản lý và khai thác có hệ thống một doanh mục mô hình kinh doanh mới mẻ để tạo ra động lực tăng trưởng mới. Làm thế nào để trở thành một doanh nghiệp bất bại và trở nên giá trị hơn? Cuốn sách Tạo lập mô hình doanh nghiệp bất bại sẽ là chiếc chìa khóa mở cánh cửa đến sự “bất bại” mà bạn kiếm tìm. Về cuốn sách Tạo lập mô hình doanh nghiệp bất bại Kể từ khi các cuốn sách Tạo lập mô hình kinh doanh (Business Model Generation), Thiết kế giải pháp giá trị (Value Proposition Design) và Kiểm chứng ý tưởng kinh doanh (Testing Business Ideas) lần lượt được phát hành vào 2009, 2017 và 2019, tác giả Alex Osterwalder, Yves Pigneur cùng các đồng tác giả đã biến các khung mô hình trực quan của họ thành bộ công cụ kinh doanh phổ biến và hiệu quả dành cho những doanh nhân khởi nghiệp và các doanh nghiệp start-ups.  Nhưng làm thế nào công cụ này có thể hỗ trợ hàng triệu các doanh nghiệp hiện nay đang khẩn thiết cần đổi mới chính mình trước khi bị đối thủ cạnh tranh và những người mới gia nhập thị trường loại khỏi cuộc chơi? Và cuốn sách này, Tạo lập mô hình doanh nghiệp bất bại, đã ra đời để trả lời câu hỏi đó. Tạo lập mô hình doanh nghiệp bất bại là cuốn thứ tư trong loạt sách của Strategyzer, thuộc bộ sách “Binh pháp cho doanh nghiệp” do Alpha Books xuất bản. Nó bổ sung cho những cuốn sách trước đó và xác định một số vấn đề cần giải quyết cho các nhóm đổi mới sáng tạo, doanh nhân và lãnh đạo cấp cao quản lý toàn bộ tổ chức. Những nội dung trong sách dựa trên những gì nhóm tác giả đã tích lũy được khi làm việc với các tổ chức hàng đầu thế giới và từ việc nghiên cứu một số công ty bất bại trên toàn cầu. Bạn có thể tìm hiểu thêm về trọn bộ 4 cuốn sách “Binh pháp doanh nghiệp” tại đây. Tạo lập mô hình doanh nghiệp bất bại có gì độc đáo và tại sao các doanh nhân nên đọc? Cuốn sách Tạo lập mô hình doanh nghiệp bất bại đưa ra hai khái niệm hấp dẫn và vô cùng đơn giản: tìm kiếm và phát triển. Một công ty muốn tồn tại lâu dài và duy trì tính cạnh tranh cần đầu tư nhiều nguồn lực nhất có thể vào hành trình khám phá các mảng kinh doanh mới, đồng thời khai thác hiệu quả các mảng đang có.  Tại phần mở đầu, tác giả ngay lập tức đưa ra câu trả lời đơn giản cho câu hỏi “Làm thế nào để trở thành doanh nghiệp bất bại?” Liên tục làm mới mình: Để đi trước mọi người và đánh bại các rủi ro phá vỡ, bạn phải liên tục đổi mới bản thân. Các mô hình kinh doanh sớm trở nên lỗi thời cùng với đà suy giảm của chúng. Sự cạnh tranh ngày càng đến từ những bối cảnh khó đoán như các công ty khởi nghiệp mới nổi bên cạnh các đối thủ truyền thống. Các công ty bất bại liên tục làm mới mình theo các cách họ là ai, ở đâu, đặc biệt là cách họ cạnh tranh để duy trì sự phù hợp và dẫn đầu. Cạnh tranh dựa trên các mô hình kinh doanh ưu việt: Cuộc đua ngày càng gấp rút khi các thương hiệu gia tăng cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ, giá cả và công nghệ mới. Bỏ lại đối thủ cạnh tranh trong khi tận dụng tối đa các cơ hội thị trường, các nhu cầu khách hàng mới và các công nghệ mới bằng cách đưa chúng và các mô hình kinh doanh ưu việt. Thiết kế, thử nghiệm và kiến tạo các mô hình kinh doanh vượt trội có thể tạo hiệu ứng đổi mới phá vỡ những đối thủ khác trong khi bản thân các mô hình đó lại khó phá vỡ. Vượt ra khỏi ranh giới các ngành: Các tổ chức thành công nhất không bị ranh giới ngành hoặc các áp lực trong ngành định hình. Trên thực tế, họ thường phá vỡ các ranh giới ngành và tạo ra hiệu ứng đổi mới phá vỡ cách làm của tổ chức khác. Mô hình kinh doanh hoặc danh mục kinh doanh của họ không phải là kết quả của một tổ chức không ngừng khám phá những cách thức mới để tạo ra giá trị xoay quanh các cơ hội thị trường. Khác với những cuốn sách thông thường chỉ lật giở đọc từng trang, cuốn sách này độc đáo ở chỗ chỉ ra một “bản đồ” đọc tùy thuộc vào bạn là ai. Với từng vị trí “Nhà lãnh đạo cấp cao”, “nhà lãnh đạo và các đội nhóm đổi mới sáng tạo” hay “các doanh nhân” lại có những nội dung đặc biệt cần nghiên cứu kỹ ở các phần. Điều này giúp bạn tiết kiệm thời gian đọc, nghiên cứu và thực hành trong việc tạo ra một mô hình kinh doanh thích hợp. Cuốn sách được chia làm 05 phần, bên cạnh những chỉ dẫn cụ thể là hàng loạt case-study đắt giá của những doanh nghiệp thành công nhất hiện nay. Công cụ Phần này cung cấp cho bạn một công cụ đặc biệt: Bản đồ khám phá và khai thác. Các công ty bất khả chiến bại không ưu tiên khai thác hơn khám phá. Họ rất giỏi trong việc liên tục khám phá các mảng kinh doanh hiện hữu. Họ sở hữu văn hóa “ngày đầu tiên”, duy trì tinh thần khởi nghiệp trong khi quản lý hàng nghìn, hàng trăm nghìn người cùng các đơn vị kinh doanh trị giá nhiều tỷ đô-la. Khả năng quản lý khám phá và khai thác kiểu này không còn giới hạn ở các công ty quy mô lớn mà đã trở thành vấn đề sống còn đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng các đơn vị khởi nghiệp với các mô hình kinh doanh có vòng đờn ngày càng ngắn xuyên suốt các ngành.  Quản lý Các công ty bất khả chiến bại triển khai các chiến lược chỉ dẫn, đa dạng hóa đo lường và hành động đồng thời trên 02 danh mục kinh doanh: hiện hữu và tiềm năng. - Chỉ dẫn: Cung cấp hướng dẫn về danh mục đầu tư chiến lược cần thiết nhằm làm rõ loại dự án, đổi mới sáng tạo, cải tiến hoặc hành động nào cần duy trì hoặc loại bỏ. - Đa dạng hóa: Tạo ra phễu đổi mới sáng tạo, phân tán rủi ro nhằm hạn chế tối đa rủi ro sáng tạo. Tạo điều kiện cho sự ra đời của những đội nhóm và dự án xuất sắc nhất. Tăng cường đầu tư cho các nhóm chứng minh được hiệu quả.  - Đo lường: Đo lường có hệ thống và trực quan hóa đổi mới và rủi ro sáng tạo của tất cả các mảng kinh doanh cũng như cơ hội đi kèm . Hiểu được tính phù hợp của danh mục đầu tư trong tương lai. - Hành động: Sử dụng một tập hợp hành động liên quan đến danh mục nhằm tối ưu chúng. Phát triển các mảng kinh doanh nội tại, mua lại và thoái vốn, hoặc thực hiện đồng thời cả hai tùy vào bối cảnh. Thư viện dạng thức sáng chế Các dạng thức mô hình kinh doanh có thể khởi nguồn từ giai đoạn Tiền kỳ (lấy khách hàng làm trọng tâm), giai đoạn Hậu kỳ (chú trọng vào nguồn lực) hay Công thức tạo lợi nhuận (tập trung vào tài chính) của một mô hình kinh doanh. Thư viện dạng thức cải tiến Các mô hình kinh doanh hiện hữu vốn dĩ thường sớm bị lỗi thời, suy giảm và cần cải tổ triệt để. Trong phần này, nhóm tác giả để cập để những công ty điển hình khởi điểm từ mô hình kinh doanh hiệu hữu, từ đó họ áp dụng 12 dạng thức chuyển đổi khác nhau để cải tiến, đồng thời gia tăng hiệu quả của mô hình kinh doanh hiện hữu. Các tác giả đặc biệt mô tả kỹ để bạn có thể sử dụng chúng như một “thư viện tham khảo”. Trong phần này đề cập đến 04 sự dịch chuyển: Dịch chuyển Đề xuất Giá trị, dịch chuyển do Tiền kỳ tác động, dịch chuyển do Hậu kỳ tác động và dịch chuyển do Công thức tạo lợi nhuận tác động. Văn hóa Để xây dựng một công ty bất bại, bạn cần phải tạo ra, quản lý và kết hợp hài hòa hai nền văn hóa hoàn toàn đối nghịch nhau dưới một mái nhà - cả hai đều có vai trò quan trọng. Bạn cần khám phá và khai thác đồng thời cả hai. Văn hóa khám phá nuôi dưỡng việc tạo ra, khám phá, xác thực và tăng tốc những ý tưởng hoàn toàn mới lạ đối với một tổ chức.  Văn hóa khai thác đề cao hoạt động quản lý, cải tiến hệ thống và tăng trưởng của các mảng kinh doanh hiện tại. Lời kết Một tổ chức phải liên tục đổi mới trước khi trở nên lỗi thời. Doanh nghiệp bất bại khám phá tương lai trong khi khai thác hiện tại một cách xuất sắc. Họ nuôi dưỡng nền văn hóa đổi mới sáng tạo và thực thi hòa hợp dưới cùng một mái nhà, đồng thời cạnh tranh dựa trên các mô hình kinh doanh ưu việt vượt qua ranh giới ngành truyền thống. Nếu doanh nghiệp bạn đang trên đà phục hồi sau đại dịch Covid, thì đây chắc chắn là thời điểm thích hợp để đọc và thực hành theo những gì “Tạo lập mô hình doanh nghiệp bất bại” truyền tải, hãy tận dụng nó để tái tạo một mô hình bất bại cho doanh nghiệp bạn! Bạn có thể sở hữu cuốn sách Tạo lập mô hình doanh nghiệp bất bại tại đây. Mời các bạn đón đọc Tạo Lập Mô Hình Doanh Nghiệp Bất Bại của tác giả Alexander Osterwalder & Yves Pigneur & Alan Smith & Đoàn Đức Thuận (dịch).   
Marketing Theo Phong Cách Sao Kim - Hermawan KartaJaya
Marketing tại Sao Kim là đầu sách, công trình nghiên cứ u chuyên sâu nhất về khai thác tính nữ trong mỗi khách hàng tiềm năng của chúng ta. Những hiểu biết, đúc kết của tác giả giúp đọc giả có được tầm nhìn của một chiếc máy bay trực thăng, để nắm được những giá trị tổng thể về khách hàng của mình trên hành tinh sao Kim. Để sự khôn khéo của các nhà tiếp thị ngày càng rộng lớn và sâu sắc hơn. Các nghiên cứu, câu chuyện về chinh phục thị trường ngoạn mục ở nhiều ngành hàng trong đầu sách cho thấy, hãy chinh phục trái tim của khách hàng thuộc cả hai giới bằng khả năng thấu cảm những thang bậc cảm xúc và mong muốn của khách hàng. Bằng những hiểu biết về tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học và rất nhiều khoa học khác để làm giàu kiến thức cũng như cách nhìn của bạn về công nghệ tiếp thị bằng cảm xúc ! Về bản chất Tình cảm có sức lan tỏa, vì vậy các nhà tiếp thị hãy bước đi một cách thận trọng ! nhưng hãy lắng nghe, hãy tin vào bản năng, giác quan thứ 6 về sự từng trãi của mình để sáng tạo ra những giải pháp tiếp thị đột phá trong không gian và thế giới cảm xúc, tình cảm của khách hàng! Những người mang tính nữ luôn chú ý tới chi tiết! Khách hàng đang trở nên ngày càng phức tạp và đánh giá mọi thứ rất tỉ mỉ. Vì vậy, nếu không muốn làm khách hàng thất vọng, tác giả khuyến cáo chúng ta đừng bao giờ bỏ qua thứ gì bất kể nó nhỏ bé đến đâu. Bắt đầu từ chính sách của công ty cho tới các sản phẩm của bạn! Như vậy là bạn đã cung cấp cho khách hàng cả những lợi ích cảm xúc tích cực, hãy đảm bảo chắc chắn rằng bạn và cả tất cả các nhân viên của bạn cũng cảm thấy thoải mái để thực hiện chiến lược này…lấy lợi ích cảm xúc làm vũ khí mới để chiến thắng, chinh phục thị trường và thượng đế của bạn. Trong số những phương thức và giải pháp đề cập, tình Mẫu Tử, tình cảm, giá trị gia đình, tình yêu, tính nhân bản, ý thức trách nhiệm cộng đồng xã hội là những suối nguồn ý tưởng, cơ hội lớn để tạo sự khác biệt đột phá trong mục tiêu chinh phục thị trường và khách hàng của các thương hiệu. Tác giả cũng giới thiệu đem đến cho đọc giả những câu chuyện, công cụ để phát huy cao nhất khả năng quảng bá nhờ sử dụng công nghệ thông tin để truyền tải các  thông điệp cảm xúc tới khách hàng của bạn. Bằng cách này, họ sẽ có một mối liên hệ cũng như sự gắn kết, sức hút về tình cảm với công ty và thương hiệu của bạn. Hãy tiếp cận tình cảm của khách hàng bằng những thấu cảm và giải pháp cá thể hoá, thông điệp cá nhân, mọi chuyện sẽ trở nên dễ dàng hơn. Hermawan Kartajaya, chủ tịch Hiệp hội Tiếp thị Thế giới là một trong “50 chuyên gia hình thành nên tương lai của tiếp thị” do Viện Hiến Chương Tiếp thị - Vương quốc Anh (CIM-UK) bầu chọn. Ông là sự kết hợp độc đáo giữa một nhà nghiên cứu chiến lược kinh doanh, tư vấn cao cấp đặc biệt trong lĩnh vực tiếp thị. Đầu sách Marketing tại sao Kim của ông khái quát và đút kết 18 nguyên tắc giúp các nhà tiếp thị định hướng và tầm nhìn để xây dựng các chương trình kế hoạch tiếp thị một cách hiệu quả nhất trong không gian cảm xúc tinh tế và nhiều cung bậc này. Chúc các Bạn sẽ tiếp tục khám phá thêm nhiều điều thú vị đang chờ đợi trong những trang sách tiếp sau, chắc chắn rằng những hiểu biết mới này không chỉ giúp các nhà tiếp thị hoàn thiện công việc mà còn giúp mỗi người chúng ta thêm niềm vui, sự lãng mạn và thăng hoa trong cuộc sống, tình yêu và sự nghiệp của mình. TRẦN HOÀNG Chủ tịch Hội Marketing TP.HCM Chủ tịch VietnamMarcom  *** Hermawan Kartajaya, chủ tịch Hiệp hội Tiếp thị Thế giới là một trong “50 chuyên gia hình thành nên tương lai tiếp thị” do Viện Hiến Chương Tiếp thị - Vương quốc Anh (CIM-UK) bầu chọn. Ông là sự kết hợp độc đáo giữa một nhà nghiên cứu chiến lược kinh doanh, đặc biệt trong lĩnh vực tiếp thị, với một nhà hoạt động. Ông gia nhập liên đoàn các chuyên gia tiếp thị quốc tế với mô hình được thừa nhận bởi giáo sư Philip Kotler, chuyên gia tiếp thị và giáo sư Warren J.Keegan, chuyên gia tiếp thị toàn cầu. Năm 1989, Hermawan Kartajaya thành lập MarkPlus&Co - hãng tư vấn tiếp thị hàng đầu ở Đông Nam Á. Áp dụng khung chiến lược tiếp thị của Hermawan Kartajaya, MarkPlus&Co đã đổi mới thành công chiến lược tiếp thị của nhiều công ty (công ty trong nước, khu vực và toàn cầu) và nâng cao đáng kể hoạt động của họ. Một số khách hàng chính của MarkPlus&Co như: Singapore Tourism Board, SembCorpParks Holdings, Hewlett-Packard, Microsoft, Yamaha, Goodyear, Indofood, United Tractors, Telkom Indonesia và Bank Rakyat Indonesia. Gần đây, MarkPlus&Co là một hiện tượng trong AsiaCase.com do Nanyang Business School và Ivey Business School thiết lập.  Hermawan Kartajaya là một diễn giả có uy tín quốc tế, đồng thời cũng là tác giả của nhiều cuốn sách trong lĩnh vực tiếp thị. Ông đã được mời với tư cách là diễn giả và giảng viên trong nhiều hội thảo, hội nghị quốc gia và quốc tế, và giảng ở nhiều trường đại học trên khắp thế giới từ châu Á đến châu Âu. Gần đây ông đã đi nhiều đến các nước Đông Nam Á và không ngừng cống hiến những hiểu biết của mình cho cộng đồng tiếp thị ASEAN. Ông đã viết nhiều cuốn sách và bài báo về tiếp thị đã xuất hiện trên rất nhiều ấn phẩm quốc tế. Ông là đồng tác giả với giáo sư Kotler cho ba cuốn sách: Attracting Investors: A Marketing Approach to Finding Funds for your Business (John Wiley & Sons, 2004) (tạm dịch: Thu Hút các Nhà Đầu Tư: Chiến Lược Tiếp thị nhằm Tìm Kiếm Nguồn Vốn cho Hoạt Động Kinh Doanh của Bạn), Rethinking Marketing: Sustainable Marketing Enterprise in Asia (Pearson Education Asia, 2002) (tạm dịch: Suy Nghĩ Lại về Tiếp thị: Doanh Nghiệp Tiếp thị Bền Vững ở Châu Á), Repositioning Asia: From Bubble to Sustainable Economy (John Wiley & Són, 2000) (tạm dịch: Tái Định Vị Châu Á: Từ Nền Kinh Tế Bong Bóng đến Kinh Tế Bền Vững). Ông cũng thường xuyên cộng tác với tạp chí Asia Inc. và Marketing của Singapore. Hermawan Kartajaya cũng tham gia vào nhiều hoạt động cộng đồng với Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Tổ Chức Bảo Tồn Quốc Tế (Conservation International), Tổ chức Lãnh Đạo vì Môi Trường và Phát Triển Quốc Tế (Leadership for Environment and Development International). Mới đây ông còn tham gia sáng lập và tổ chức sự kiện Celebrities for Kid @ National Mother’s Day, 1 hoạt động từ thiện của UNICEF dành cho trẻ em tại Indonesia. Mời các bạn đón đọc Marketing Theo Phong Cách Sao Kim của tác giả Hermawan KartaJaya.
Các Nhà Sáng Lập - Maurice Baslé & Francoise Benhamon & Bernard Havance
Các nhà kinh tê học hiện nay đều có nguồn gốc của họ Kinh tế học là một khoa học trẻ tuổi. Những nhà sáng lập ra nó là nhhững người cận đại, việc dạy nó thành một môn chuyên nghiệp chỉ mới khioảng một thế kỷ nay.  Năm 1795, Quốc ước lập ra một chức giáo sư về kinh tế chính trị học ở Trường Sư phạm, chức đó được giao cho Alexandre Vandermonde. Nhưng theo một lời đồn về lịch sử, chính J-B. Say là người khai trương thật sự của việc giảng dạy kinh tế học ở Pháp với giáo trình của ông ở Athénee (A-v- tê-nê) năm 1815-1816, rồi ở Trường Đại học Quốc gia về kỷ thuật và nghề nghiệp năm 1819; Say còn được xác nhận năm 1831 với việc bổ nhiệm ông vào College de France. Chỉ dến năm 1877 nước Pháp mới mở rộng các chức giáo sư Kinh tế học ra tất cả các khoa Luật trong nước.  Không có sự nhập môn nào về kinh tế học tốt hơn việc lướt qua lịch sử các tư tưởng kinh tế. Cách đi ấy cho phép ngược lại nguồn gốc của các khái niệm; nó đem lại cho người ta cả nguồn gốc lẫn cách sử dụng các khái niệm đó. Bằng cách đó mỗi người có thể tìm thấy những nhà sáng lập ra dòng họ tư tưởng của mình. "Lịch sử kinh tế học chứng tỏ rằng các nhà kinh tế học, giống như mọi người khác, đều tưởng bong bóng là đèn lồng và tưởng mình nắm đưọc chân lý, nhưng thật ra tất cả những gì họ có đều dẫn tới cả một loạt những định nghĩa hay những phán xét phức tạp về giá trị được ngụy trang thành-những qui tắc khoa học. Không có cách trình bày nào khác hơn việc nghiên cửu lịch sử kinh tế học [ ] , nó đem lại phòng thí nghiệm rộng lớn nhất để có được một sự khiêm nhưòng cần thiết về phưong pháp luận đối với việc tìm hiểu những thành tựu thật sự của kinh tế hợc. Ngoài ra, đó còn là một phòng thí nghiệm mà mỗi nhà kinh tế học mang theo mình, dù có ý thức hay không ( ) Cần hiểu rõ những gì mình thừa kế được còn hơn là tưởng tượng ra một di sản bị giấu kín ỏ một góc tối nào đó và ở một thử tiếng nước ngoài nào đó".  M. Blaug, tư tưởng kinh tế, Económica, 1987.  Thứ tự xuất hiện của các nhà kinh tế học lớn là rất có ý nghĩa. Mỗi người có những quan hệ với những người đi trước nào đó, dưới dấu hiệu tiếp nối hay đoạn tuyệt Mancur Olson thừa nhận một cách rõ ràng món nợ trí tuệ của mình đối với những nhà lý luận đi trước :  "Tôi có thói quen dẫn lời Newton nói rằng nếu ông có thể nhìn thấy xa hơn những ngưòi khác, thì đó là vì ông đứng lên trên vai của những vị khổng lồ. Nếu Newton đã có thể nói như vậy vào thế kỷ XVII, thì chắc chắn nhà kinh tế học hôm nay cũng chỉ có thể tự coi mình đứng ở vị trí ấy, cho dù tầm hiểu biết cá nhân của mình rộng lớn tới mức nào. Thật ra, anh ta là kẻ kế thừa của một số nhà tư tưởng thiên tài được thừa nhận, như Smith, Ricardo, Mili, Marx, Walras, Wicksell , Marshall và Keynes, cũng như hàng trăm người thông minh, cả nam lẫn nữ, đã tạo ra một công trình quí giá. Trên thực tế, nếu các vị khổng lồ của kinh tế học đã tự mình đứng lên trên vai những ngưòi tiền bối của họ, thì nhà kinh tế học hôm nay cũng đứng trên đỉnh cao của một kim tự tháp mênh mông của những tài năng". Vinh quang và suy thoái của các dân tộc, Bonnel, 1983.  Các tư tưỏng kinh tế là những chân vòm ở trên hiện thực Các tư tưởng kinh tế của quá khứ không phải chỉ là để cho các nhà kinh tế học tương lai tập sự, chúng còn tác động tới hiện thực bằng hai kênh :  - Các tác nhân kinh tế thường xuyên có một tác động dự báo và tiên đoán. Chỉ cần một dự báo đáng lo ngại được đưa ra là các tác nhân kinh tế tác động dự báo theo đó, bằng cách ngăn cản nó xuất hiện hoặc, trái lại, tạo thuận lợi cho nó được thực hiện.  - Việc nghiên cứu những vận động của thị trường chứng khoán hay những cơ chế lạm phát cho thấy rằng các khoa học kinh tế phải tính đến những ý kiến kinh tế hàng ngày của các tác nhân Thông tin và những tri thức kinh tế có thật hay giả định tác động tới hiện thực như vậy - "Cai trị là lựa chọn" : những người cai trị phải có một thứ khuôn đọc về kinh tế để hành động : "Những tư tưởng đúng hay sai của các nhà kinh tế học và chính trị học có một tầm quan trọng lớn hơn điều ngưòi ta thường tưỏng. Nói đúng ra, thế giới gần như chỉ được hưóng dẫn bởi những tư tưỏng đó. Những người hành động nào tưởng mình thoát khỏi những ảnh hưởng của các học thuyết thường là những kẻ nô lệ của một vài nhà kinh tế học của quá khứ Những người cầm quyền sáng suốt tự cho mình noi theo những tiếng nói thương giới thật ra đều chắt lọc từ những không tưỏng nảy sinh trước đó vài năm trong đầu óc của một nhà soạn giáo án nào đó". J. M. Keynes, Lý luận chung về sử dụng lợi tức và tiền tệ, 1936. Mời các bạn đón đọc Các Nhà Sáng Lập của tác giả Maurice Baslé & Francoise Benhamon & Bernard Havance.