Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tại Sao Lại Lo Lắng?

Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tại Sao Lại Lo Lắng? của tác giả Teo Aik Cher. Khi được đề nghị viết lời tựa cho quyển sách này, tôi đã thốt lên: “Tuyệt!”. Thế rồi cả một tuần trôi qua, tôi chẳng viết được gì. Trang giấy trống trơn – không một từ, một vệt mực, cũng không một ý tưởng nào. Tại sao lại như vậy? Bởi vì tôi cứ lo lắng về những gì mình phải viết. Chiếc bình sáng tạo trong tôi cạn khô! Khi chúng ta lo lắng, mọi thứ dường như chẳng có gì nên hồn. Chúng ta lạc lối trong mớ bòng bong rắc rối của mình và chẳng thấy được giải pháp nào. Chỉ khi bứt mình ra khỏi vấn đề, chúng ta mới có được cái nhìn đúng đắn hơn và mới có thể tìm thấy câu trả lời. Đó là lý do tôi gần như chẳng bao giờ lo lắng (trừ lúc tôi phải viết lời tựa này đây!). Lo lắng chẳng giúp được gì. Tất cả những gì bạn nhận được từ sự lo lắng là những cơn đau đầu và vài nếp nhăn hằn thêm trên trán. Điều này không có nghĩa là bạn không nên lo lắng bao giờ. Có hai dạng lo lắng. Một là dạng tiêu cực, tức lo lắng âu sầu – “Ôi trời ơi, mình không thể làm được điều này. Trời sập mất!”. Dạng thứ hai là lo lắng tích cực, tức là sự bận tâm một cách bình tĩnh và có chọn lọc – “Ừm, đây quả thực là vấn đề đây. Mình giải quyết nó cách nào tốt nhất nhỉ?”. Theo tôi, đây là dạng lo lắng tích cực mà mọi người cần hướng theo. Tôi đã học được rằng: không nên lo lắng khi đối mặt với những vấn đề nơi công sở. Kinh nghiệm cho tôi thấy óc hài hước lúc nào cũng có ích cả. Khi bắt đầu làm việc trong lĩnh vực truyền hình vào năm 1994, tôi nhanh chóng nhận ra làm nghệ sĩ là một công việc cực kỳ áp lực. Mọi người đều mệt mỏi, căng thẳng và lo âu. Không khí làm việc căng thẳng như thể chúng tôi đang đi trong một bãi mìn đang chực chờ nổ bất kỳ lúc nào vậy! Nhưng khi tôi bắt đầu mang sự hài hước vào trong mối quan hệ của mình với mọi người, không khí làm việc giảm hẳn sự u ám và mọi người bắt đầu làm việc hiệu quả hơn, sáng tạo hơn. Vì chọn cách suy nghĩ không lo lắng nên tôi đã có ảnh hưởng tốt đến mọi người xung quanh. Điều này cũng có ảnh hưởng tốt đến bản thân tôi. Tôi không thể không lặp lại câu: Lo lắng chẳng giúp ích gì cho bạn cả. Quyển sách nhỏ này chứa đựng rất nhiều vấn đề để bạn suy ngẫm. Nó sẽ giúp bạn nhận ra rằng cuộc sống mới mẻ hơn nhiều khi ta ngừng lo lắng. Với rất nhiều lời khuyên hữu ích, những trích dẫn và những mẩu chuyện thú vị, Tại sao lo lắng? Hãy vui lên! sẽ dẫn dắt bạn trên con đường vui sống không lo âu. Gurmit Singh Nghệ sĩ hài, người dẫn chương trình nổi tiếng thuộc Tập đoàn MediaCorp, Singapore *** Cuộc sống cũng giống như một chiếc cốc còn một nửa lượng nước. Một số người sống với tâm tình biết ơn nhìn thấy nước đầy đến nửa cốc. Kẻ cảm thấy mình thiếu may mắn lại chỉ nhìn thấy nước đã vơi đến phân nửa. Như vậy đấy, vấn đề là ở chỗ con người nhìn nhận mọi việc xung quanh họ như thế nào mà thôi. Wikipedia định nghĩa hạnh phúc là “một trạng thái tinh thần hay cảm giác đặc trưng bởi sự thỏa lòng, tình yêu thương, niềm thỏa mãn, lòng hân hoan, hay sự thích thú”. “Trạng thái tinh thần” khiến chúng ta cảm thấy mình hạnh phúc hay trở thành một kẻ luôn lo lắng âu sầu. Người hạnh phúc lúc nào cũng nhìn thấy mặt tích cực của sự việc, trong khi người hay lo lại thường bị thu hút về phía những khía cạnh tiêu cực. Nói cho công bằng, lo lắng có thể là một điều tốt. Nó có thể là một phương pháp hữu ích dẫn chúng ta tiến gần đến những giải pháp cho các vấn đề mình gặp phải. Lấy ví dụ, khi chúng ta lo lắng về kỳ thi sắp tới, thì lo lắng chính là động lực khiến chúng ta học chăm và ôn luyện kỹ càng hơn. Càng chuẩn bị sẵn sàng cho bài thi, chúng ta càng đỡ lo hơn. Tuy nhiên, khi lo lắng quá nhiều, chúng ta trở thành người lo lắng mãn tính. Nó có thể khiến chúng ta mất ngủ, ăn không ngon miệng, thậm chí còn bị rụng tóc hàng loạt nữa! Bạn đừng vội cười, vì thực ra lo lắng mãn tính là một chứng bệnh đấy. Nó được gọi tên là GAD hay Chứng rối loạn lo âu (Generalised anxiety disorder). Căn bệnh này có thể gây hại, bởi nó làm ngưng trệ cuộc sống của chúng ta và làm cản trở mọi tiến triển. Nó có thể trở nặng, và thậm chí còn gây ra chứng trầm cảm. Với nhịp sống hối hả như hiện nay, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều bạn trẻ cũng bị cuốn vào vòng xoáy của sự lo lắng, từ những mối lo ở trường đến những mối lo ở nhà và ngoài xã hội. Với những bạn này, họ thường tự hỏi những câu hỏi “nghiêm trọng” như: • Mình có thực sự hạnh phúc với vẻ ngoài của mình không? • Mình có thỏa mãn với điểm số ở trường? • Mình có hòa thuận với cha mẹ và anh em trong nhà? • Mình có thực sự hài lòng với đám bạn? • “Đằng ấy” của mình có hạnh phúc với mình không? • Mình có hài lòng với số tiền tiêu vặt ba mẹ cho không? • Mình có hạnh phúc với cuộc sống này không? Nếu dạng câu hỏi này vẫn thường xuyên làm phiền bạn, thì quyển sách này đích thực là dành cho bạn. Thông qua các chữ cái của từ WORRY (Lo lắng), chúng ta sẽ lần lượt khám phá về các lĩnh vực khiến mình thường phải bận tâm, còn với các chữ cái trong từ HAPPY (Hạnh phúc), chúng ta sẽ khám phá các cách khác nhau để khiến cho mình cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc. Có ai đó từng nói rằng ta chỉ có thể tìm thấy những người hoàn toàn không còn lo lắng gì nữa trong các nghĩa trang. Đúng là như vậy. Chỉ những ai đã rời bỏ thế giới này mới không còn bận tâm về bất cứ điều gì. Chừng nào còn sống, còn hít thở không khí, chúng ta vẫn còn có những vấn đề của mình và vẫn phải lo lắng. Thế nên lo lắng không có gì sai, chỉ cần chúng ta biết cách xử lý nó một cách hợp lý nhất! Người bán mì hạnh phúc Sam là một doanh nhân sở hữu nhiều công ty với giá trị lên tới hàng triệu đô-la. Dù giàu có và thành đạt là vậy, anh vẫn không cảm thấy thỏa mãn với cuộc sống, bởi anh luôn cố gắng kiếm nhiều tiền hơn nữa. Sam thường ghé một tiệm mì ưa thích để dùng bữa trưa mỗi ngày. Chủ tiệm mì là bà Lee. Dù không kiếm được nhiều tiền, bà Lee lại là một người sôi nổi và vui vẻ. Một ngày nọ, khi Sam đang dùng bữa tại tiệm mì của bà Lee, anh để ý thấy bà chỉ đeo một chiếc khuyên tai trên tai trái, còn bên tai phải thì trống trơn. Nghĩ rằng bà sơ suất quên đeo đủ cặp nên Sam cũng không thắc mắc gì. Lần sau, anh để ý thấy bà cũng chỉ đeo một chiếc khuyên tai. Lần này anh tò mò hỏi: - Bà Lee này, sao tôi thấy bà chỉ đeo một chiếc khuyên tai thôi. Bà làm mất chiếc còn lại rồi à? - Không đâu, Sam. Tôi chỉ có mỗi một chiếc này. – Bà Lee mỉm cười. - Sao bà không mua đôi khác? – Sam lại hỏi. - Tôi có cần đâu, bởi tôi đã có một chiếc rồi, và tôi thấy vui vì chiếc khuyên tai này. – Bà Lee vui vẻ. - Việc có một chiếc khuyên tai thôi mà cũng khiến bà vui sao? – Sam kinh ngạc. - Tôi thấy vui với cuộc sống của mình bởi tôi chỉ tập trung vào những gì tôi có chứ không phải với những gì tôi không có. Đó là lý do tôi luôn luôn vui vẻ và hạnh phúc. – Bà Lee cười lớn. Câu chuyện nhỏ này cho ta thấy việc tập trung vào mặt tích cực của vấn đề sẽ giúp chúng ta vui vẻ, hạnh phúc. Khi mọi chuyện trong cuộc sống trở nên khó khăn, chúng ta sẽ rất dễ chỉ thấy mặt tiêu cực và trở nên rối trí. Nếu có thể nhìn nhận sự việc như cách của bà Lee trong câu chuyện này, chúng ta sẽ nhìn thấy điểm sáng trong bức tranh tối và có suy nghĩ tích cực hơn. Với quan điểm trên, chúng ta hãy bước vào cuộc hành trình khám phá những vấn đề mà các bạn trẻ vẫn thường bận tâm, và sau đó là học hỏi cách thức vượt qua những lo lắng đó để luôn có một cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc. *** Tóm tắt Cuốn sách Tại Sao Lại Lo Lắng? Hãy Vui Lên! của tác giả Teo Aik Cher là một cuốn sách self-help giúp người đọc vượt qua những lo lắng trong cuộc sống. Cuốn sách được chia thành 12 chương, mỗi chương đề cập đến một khía cạnh khác nhau của lo lắng. Review Cuốn sách được viết với một giọng văn hài hước, dí dỏm, giúp người đọc dễ dàng tiếp thu những thông tin quan trọng. Tác giả Teo Aik Cher đã chia sẻ những kinh nghiệm và trải nghiệm của bản thân để giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất của lo lắng và cách vượt qua nó. Cuốn sách đã đưa ra nhiều lời khuyên hữu ích giúp người đọc giảm thiểu lo lắng, bao gồm: Học cách chấp nhận những điều không thể thay đổi. Tập trung vào những điều tích cực trong cuộc sống. Học cách thư giãn và giải tỏa căng thẳng. Tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người thân yêu. Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp một số bài tập và thực hành giúp người đọc áp dụng những lời khuyên vào cuộc sống thực tế. Đánh giá chung Cuốn sách Tại Sao Lại Lo Lắng? Hãy Vui Lên! là một cuốn sách hữu ích dành cho những ai đang gặp phải những lo lắng trong cuộc sống. Cuốn sách sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bản chất của lo lắng và cách vượt qua nó, để bạn có thể sống một cuộc sống vui vẻ và hạnh phúc hơn. Một số điểm cộng của cuốn sách: Giọng văn hài hước, dí dỏm giúp người đọc dễ dàng tiếp thu những thông tin quan trọng. Chia sẻ nhiều kinh nghiệm và trải nghiệm thực tế của tác giả giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về lo lắng. Đưa ra nhiều lời khuyên hữu ích giúp người đọc giảm thiểu lo lắng. Cung cấp một số bài tập và thực hành giúp người đọc áp dụng những lời khuyên vào cuộc sống thực tế. Một số điểm trừ của cuốn sách: Một số nội dung trong cuốn sách có thể hơi chung chung và khó áp dụng vào thực tế. Cuốn sách có thể không phù hợp với những người đang mắc chứng lo âu nặng. Kết luận Nhìn chung, cuốn sách Tại Sao Lại Lo Lắng? Hãy Vui Lên! là một cuốn sách self-help đáng đọc dành cho những ai đang gặp phải những lo lắng trong cuộc sống. Mời các bạn mượn đọc sách Tại Sao Lại Lo Lắng? của tác giả Teo Aik Cher.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tổ Chức Gia Đình - Nguyễn Hiến Lê
Các cụ mất hồi đầu thế kỷ, bây giờ có sống lại mà đứng ở đường Lê Lợi tại Sài Gòn trong các giờ tan sở, chắc phải hoảng lên và la: - Có giặc cướp hay đám cháy nào thế này? Sao mà thiên hạ chạy tíu tít, vẻ mặt đăm đăm như vậy? Chỉ đứng độ năm phút, nhìn lớp sóng người qua lại, nghe tiếng chuông, tiếng còi, các cụ cũng đủ choáng váng và hồi hộp. Nếu các cụ lại sống chung với chúng ta một buổi sáng thôi, thấy chúng ta mới sáu giờ đã dậy tập thể dục, rửa mặt, tắm gội, hấp tấp bận quần áo, húp vội một ly sữa rồi bổ nhào ra ngoài phố, tới đầu đường, liệng một đồng bạc, giựt một số báo, leo lên ô-tô-buýt, tới 12 giờ rưỡi mới về, mặt bơ phờ, nuốt mấy miếng cơm rồi lăn ra ngủ, nếu các cụ thấy như vậy, thì các cụ tất mau mau từ biệt chúng ta để vào rừng ở, dầu chúng ta có đem hết thảy những tiện nghi, xảo diệu của khoa học để dụ dỗ, giữ các cụ ở lại, cũng luống công vô ích. Từ sau đại chiến thứ hai, đời sống chúng ta ồ ạt quá, gần như đời sống tại các kinh đô ở Âu Mỹ. Tám giờ sáng một ngày làm việc mà bạn thấy ai vơ vẩn ở bờ sông Sài Gòn, ngắm mây ngắm nước, tất bạn sẽ ngờ người đó muốn tìm chỗ trầm mình; gặp ai ung dung tản bộ, ngâm thơ trong một công viên, chắc bạn sẽ bĩu môi chê là “thi sĩ mơ mộng” nếu không nghĩ người đó mắc bệnh thần kinh, phải đưa vào nhà thương Biên Hoà. Chúng ta không còn quan niệm được thú nhàn của cổ nhân nữa. Mỗi ngày vẫn chỉ có 24 giờ mà công việc thì tăng lên biết bao nhiêu! Công việc tăng vì nhu cầu tăng. Ta không thể sống như Nhan Hồi với một giỏ cơm, một bầu nước; ta cũng không thể sống như một cụ đồ nho với vài manh áo kép và đơn. Nội khoản chi phí về sách báo của chúng ta đủ nuôi một gia đình hồi trước. Khi ta có thêm một nhu cầu, ta chẳng những mất thì giờ để thoả mãn nó, mà còn mất thì giờ kiếm tiền để có phương tiện thoả mãn nó nữa. Như nhu cầu hớt tóc chẳng hạn. Mỗi tuần hoặc nửa tháng ta phải bỏ ra nửa giờ để hớt tóc, lại phải làm việc thêm một chút để kiếm được 5-10 đồng trả công người thợ. Có khi một nhu cầu tạo ra ba bốn nhu cầu khác. Nhu cầu sẽ còn mỗi ngày một tăng thêm, không biết thế nào là cùng. Bạn thử tưởng tượng, như vậy đời chúng ta sẽ còn bận rộn biết bao nhiêu! Hiện nay, trong phần đông các gia đình, một người không còn kiếm tiền đủ để nuôi 5-6 người, có khi cả chục người như hồi xưa. Tại các châu thành lớn, nhiều gia đình chưa có con mà cả chồng lẫn vợ đã phải làm việc cực nhọc mới đủ ăn. Công việc nhà phải bỏ bê. Người nào có phước thì được mẹ già trông nom giùm. Mà kiếm được người ở bây giờ, không phải là việc dễ. Ông Tham ông Phán thời này đừng hy vọng gì nuôi một anh xe, một anh bếp, một vú già và một chị sen hoặc một anh bồi cho mỗi cô mỗi cậu nữa. Không ai ham cảnh “cơm thầy cơm cô” và trong xã hội, không thiếu gì công việc cho anh em lao động. Người ở đã khó kiếm lại khó giữ. Họ đã biết nhân phẩm, quyền lợi của họ: họ hiểu rằng về mặt pháp luật, họ bình đẳng với chủ nhân nên không chịu để chủ bóc lột, bắt làm việc quần quật từ sáng đến tối, tháng này qua tháng khác. Họ muốn nghỉ ngơi mỗi ngày vài giờ, mỗi tuần nửa ngày, mỗi năm dăm bảy ngày. Họ có lý và chỉ những kẻ lạc hậu mới không chịu cho họ những điều họ đòi hỏi ấy. Tóm lại, tình cảnh của phần đông các gia đình ở châu thành bây giờ như vầy: -     Công việc trong nhà rất nhiều. -     Thời giờ của người chủ thì ít. -     Mà người ở khó kiếm, không chịu làm nhiều giờ như hồi xưa. Có lẽ chẳng bao lâu nữa, người ở sẽ hiếm như ở Âu, Mỹ và những gia đình trung lưu chỉ còn cách mướn người chuyên môn mỗi ngày lại nhà làm một vài công việc nào đó trong một thời gian nhất định thôi 1. Trở lại thời trước đã không được mà than tiếc nó chỉ vô ích, nên ta phải kiếm cách thích nghi với thời đại. Thời đã mới, cách sống đã mới thì cách làm việc cũng phải mới. Ta phải biết tổ chức công việc trong nhà cũng như tổ chức công việc trong sở, trong hãng. Tình thế bắt buộc ta như vậy mà sự thế tất nhiên phải tới như vậy. Ở Mỹ, sau khi khoa học tổ chức đã được áp dụng trong kỹ nghệ, tức là có những người đem thực hành nó trong gia đình, mà người đầu tiên là ông F. Gilbreth. Sau ông, có bà Christiane Frederick, tác giả cuốn “Le Taylorisme chez soi”. Ở Pháp, ông H.L.Rumpf viết cuốn “L’organisation familiale” (Editions Drouin) cách đây 20 năm. Ngoài ra lại có những tạp chí như “Mamans, avec moins de fatigue” ... Tại nước nhà từ trước đã xuất bản nhiều cuốn về gia chánh, chỉ cách nấu ăn may vá... nhưng chưa có cuốn nào dạy cách tổ chức gia đình. Gần đây, trên tuần báo “Mới” trong mục “Kim chỉ nam của bà nội trợ”, bà Hoàng Thị Hạnh viết một loại bài về cách xếp đặt việc nhà, nhưng lời khuyên rời rạc, không thành một hệ thống và đọc xong, các bà nội trợ không học được tinh thần tổ chức. Mà chính tinh thần ấy mới là quan trọng hơn cả. Có nó, ta mới biết tổ chức trong mọi trường hợp và biến hoá cách làm việc cho hợp với hoàn cảnh. Thiếu nó, ta sẽ luýnh quýnh mỗi khi gặp một trường hợp không chỉ sẵn trong sách. Vì lẽ ấy, chúng tôi viết cuốn này để giảng rõ tinh thần đó, vạch những quy tắc quan trọng rồi dẫn nhiều ví dụ giúp độc giả biết cách thực hành. Tất nhiên là chúng tôi không dám múa rìu qua mắt thợ mà bàn cách luộc rau, kho cá, cắt áo thêu khăn... Chúng tôi không biết gì về những công việc đó. Chúng tôi chỉ chú trọng đến những phương pháp tiết kiệm thì giờ, tiền bạc và sức lực, mục đích là giúp cho bà nội trợ tổ chức gia đình sao cho mọi việc xong xuôi mà có thì giờ để nghỉ ngơi, tiêu khiển, chơi với trẻ hoặc học hỏi thêm, và may ra bớt được nhiều lo lắng về vấn đề tài chính chăng. Chúng tôi sẽ phải dùng ít nhiều danh từ còn lạ tai đối với phần đông độc giả mà chúng tôi sẽ ráng giảng giải một cách thông thường để những bà nội trợ nào ít học nhưng chịu suy nghĩ cũng có thế hiểu được. Sách chủ ý viết cho các bà nội trợ, nhưng chúng tôi tưởng các bạn trai đã lập gia đình cũng nên đọc nó. Phụ nữ có nhiều đức quý như lòng vị tha, đa cảm, đức kiên nhẫn, tự tin... nhưng thường theo trực giác mà không chịu luận lý, lại cố chấp, thiếu phương pháp. Vì vậy, nếu các ông chồng hiểu rõ những quy tắc trong cuốn này rồi giúp các bà vợ cùng nhau tổ chức việc nhà thì kết quả sẽ mau hơn và không khí trong gia đình cũng sẽ đầm ấm hơn. Chúng tôi vẫn biết đàn ông mà bàn về công việc nội trợ thì không khỏi mang cái tiếng việt vị. Nhưng chúng tôi nghĩ đã không dám lấn vào phạm vi gia chánh, tức may vá, nấu nướng, mà chỉ xét những quy tắc để tổ chức việc nhà, thì các bà các cô cũng không nỡ trách; nên chúng tôi không do dự chi nữa mà cho xuất bản cuốn này với mục đích duy nhất là giúp phụ nữ Việt Nam tập sống đời sống mới tức đời sống có tổ chức, tổ chức bản thân và tổ chức gia đình rồi sau cùng tổ chức xã hội. Long Xuyên ngày 15-2-1953 Mời các bạn đón đọc Tổ Chức Gia Đình của tác giả Nguyễn Hiến Lê.
Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh - Nassim Nicholas Taleb
Trong Khả năng cải thiện nghịch cảnh, Taleb khẳng định vai trò quan trọng của tính bất định, làm cho nó trở nên đáng mong đợi, thậm chí cần thiết, và đề xuất rằng sự việc nên được xây dựng sao cho có khả năng cải thiện nghịch cảnh. Khả năng cải thiện nghịch cảnh không chỉ là sự mạnh mẽ hay khả năng phục hồi. Khả năng phục hồi chỉ có thể chịu đựng những cú sốc và trở về nguyên trạng; trong khi khả năng cải thiện nghịch cảnh nghĩa là trở nên ngày càng tốt hơn. Quyển sách này bao trùm vấn đề phát minh đổi mới thông qua thử nghiệm và sửa sai, các quyết định trong đời sống, chính trị, quy hoạch đô thị, chiến tranh, tài chính cá nhân, các hệ thống kinh tế, và y khoa. *** Nassim Nicholas Taleb sinh năm 1960 tại Liban, là một nhà viết tiểu luận, học giả, nhà thống kê. The Black Swan (Thiên Nga Đen)là cuốn sách nổi tiếng của ông ra đời năm 2007.   Mời các bạn đón đọc Khả Năng Cải Thiện Nghịch Cảnh của tác giả Nassim Nicholas Taleb.
Thông Điệp Yêu Thương - Luôn Mỉm Cười Với Cuộc Sống - Nhã Nam tuyển chọn
Bộ sách Thông điệp yêu thương lan truyền những cảm hứng về cuộc sống, về tình yêu, tình bạn, tình cảm gia đình, tình thầy trò… thông qua những mẩu chuyện, những câu nói giúp bạn sống lạc quan, yêu đời, hạnh phúc và thành công hơn. Hi vọng mỗi cuốn sách sẽ là quà tặng ý nghĩa, là người bạn đồng hành cùng bạn đọc trong cuộc sống. Cuốn sách Luôn mỉm cười với cuộc sống gồm những câu văn, câu chuyện ngắn đầy yêu thương giúp bạn thật sự lạc quan trong cuộc sống dù cuộc sống của bạn không ngừng với những bộn bề lo toan… Mời các bạn đón đọc Thông Điệp Yêu Thương - Luôn Mỉm Cười Với Cuộc Sống của tác giả Nhã Nam tuyển chọn.
Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định Tập 3
Quyển một “Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới” đã giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quan về Sáng tạo học và Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (PPLSTVĐM). Quyển hai “Thế giới bên trong con người sáng tạo” và quyển ba “Tư duy lôgích, biện chứng và hệ thống” có mục đích trình bày các kiến thức, được rút ra một cách chọn lọc từ những khoa học có đối tượng nghiên cứu là tư duy, hoặc liên quan, hỗ trợ hoạt động tư duy. Các kiến thức này đóng vai trò các kiến thức cơ sở của PPLSTVĐM, theo nghĩa, chúng giúp bạn đọc hiểu cơ sở khoa học của PPLSTVĐM và sử dụng các công cụ có trong PPLSTVĐM (sẽ trình bày từ quyển bốn trở đi) một cách chủ động với hiệu quả cao. Như bạn đọc đã biết, quyển hai dành nói về tâm lý học, lý thuyết thông tin, điều khiển học, nhằm giúp bạn đọc biết, hiểu và sử dụng những hiện tượng phong phú thuộc thế giới bên trong của mình tốt hơn. Từ đó, bạn đọc có thể thấy rằng, cần có những nỗ lực cá nhân hướng đến phát triển khả năng điều khiển thế giới bên trong cũng như các hành động của chính mình, đáp ứng nhu cầu phát triển các nhân cách sáng tạo. Quyển ba này trình bày các kiến thức lấy từ lôgích học hình thức, phép biện chứng duy vật và khoa học hệ thống. Theo chủ quan của người viết, cùng với quyển hai, đây là những kiến thức cần thiết nhất và phục vụ tốt nhất trong tư cách là các kiến thức cơ sở của PPLSTVĐM. Giống như trong quyển hai, những gì trình bày trong quyển ba này là kết quả người viết được học, tự học, nghiên cứu và sử dụng chúng. Bạn đọc nên xem những gì viết ở đây chỉ là tối thiểu, mang tính chủ quan, do vậy, cần tự suy xét, đánh giá và tìm hiểu sâu, rộng thêm các kiến thức liên quan thông qua những nguồn khác. *** Dự kiến, bộ sách “Sáng tạo và đổi mới” sẽ gồm những quyển sách trình bày từ đơn giản đến phức tạp, từ những kiến thức cơ sở đến những kiến thức ứng dụng của PPLSTVĐM với các tên sách sau: 1. Giới thiệu: Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới. 2. Thế giới bên trong con người sáng tạo. 3. Tư duy lôgích, biện chứng và hệ thống. 4. Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (1). 5. Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản (2). 6. Các phương pháp sáng tạo. 7. Các quy luật phát triển hệ thống. 8. Hệ thống các chuẩn dùng để giải các bài toán sáng chế. 9. Algôrit (Algorithm) giải các bài toán sáng chế (ARIZ). 10. Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới: Những điều muốn nói thêm. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, xã hội loài người trong quá trình phát triển trải qua bốn thời đại hay nền văn minh (làn sóng phát triển): Nông nghiệp, công nghiệp, thông tin và tri thức. Nền văn minh nông nghiệp chấm dứt thời kỳ săn bắn, hái lượm, du cư bằng việc định cư, trồng trọt và chăn nuôi, sử dụng các công cụ lao động còn thủ công. Nền văn minh công nghiệp cho thấy, mọi người lao động bằng các máy móc hoạt động bằng năng lượng ngoài cơ bắp, giúp tăng sức mạnh và nối dài đôi tay của con người. Ở thời đại thông tin, máy tính, các mạng lưới thông tin giúp tăng sức mạnh, nối dài các bộ phận thu, phát thông tin trên cơ thể người như các giác quan, tiếng nói, chữ viết... và một số hoạt động lôgích của bộ não. Nhờ công nghệ thông tin, thông tin trở nên truyền, biến đổi nhanh, nhiều, lưu trữ gọn, truy cập dễ dàng. Tuy nhiên, trừ loại thông tin có ích lợi thấy ngay đối với người nhận tin, các loại thông tin khác vẫn phải cần bộ não của người nhận tin xử lý, biến đổi để trở thành thông tin có ý nghĩa và ích lợi (tri thức) cho người có thông tin. Nếu người có thông tin không làm được điều này trong thời đại bùng nổ thông tin thì có thể trở thành bội thực thông tin nhưng đói tri thức, thậm chí ngộ độc vì nhiễu thông tin và chết đuối trong đại dương thông tin mà không khai thác được gì từ đại dương giàu có đó. Thời đại tri thức mà thực chất là thời đại sáng tạo và đổi mới, ở đó đông đảo quần chúng sử dụng PPLSTVĐM được dạy và học đại trà để biến thông tin thành tri thức với các ích lợi toàn diện, không chỉ riêng về mặt kinh tế. Nói cách khác, PPLSTVĐM là hệ thống các công cụ dùng để biến đổi thông tin thành tri thức, tri thức đã biết thành tri thức mới. Rất tiếc, ở nước ta hiện nay chưa chính thức đào tạo các cán bộ giảng dạy, nghiên cứu Sáng tạo học và PPLSTVĐM với các bằng cấp tương ứng: Cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ như một số nước tiên tiến trên thế giới. Người viết tin rằng sớm hay muộn, những người có trách nhiệm quyết định sẽ phải để tâm đến vấn đề này và “sớm” chắc chắn tốt hơn “muộn”. Hy vọng rằng, PPLSTVĐM nói riêng, Sáng tạo học nói chung sẽ có chỗ đứng xứng đáng, trước hết, trong chương trình giáo dục và đào tạo của nước ta trong tương lai không xa. *** Vào thế kỷ 17, 18, cơ học cổ điển của Galileo, Newton... đạt được nhiều thành tựu lớn cả trong nhận thức thế giới lẫn giải quyết các bài toán thực tiễn đề ra, tạo nên sự phát triển xã hội mạnh mẽ. Có lẽ vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu khái quát hóa các luận điểm cơ học cổ điển thành thế giới quan (chủ nghĩa) cơ giới: Giải thích sự phát triển của tự nhiên và xã hội bằng các quy luật của hình thức cơ học vận động vật chất. Những quy luật đó được xem là phổ biến và đúng cho tất cả các hình thức vận động vật chất. Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa cơ giới là sự đánh đồng một cách trừu tượng hình thức vận động vật chất bậc cao với hình thức vận động vật chất bậc thấp: Ví dụ, hình thức xã hội với sinh học; sinh học với hóa học hoặc/và vật lý... cho đến cơ học. Tuy có những hạn chế, thế giới quan cơ giới là sự tiến bộ vào thời kỳ đó và đóng vai trò tích cực trong việc phát triển khoa học, triết học. Các kiến thức cơ học giúp người ta hiểu, giải thích được nhiều hiện tượng tự nhiên, thoát khỏi các quan điểm thần bí, tôn giáo giáo điều. Việc dùng các quy luật cơ học ra ngoài phạm vi áp dụng của chúng (xem mục nhỏ 6.5.4. Tính ì tâm lý do ngoại suy ra ngoài phạm vi áp dụng của quyển hai) và tuyệt đối hóa chúng tạo nên bức tranh cơ giới về thế giới: Toàn bộ vũ trụ (từ nguyên tử đến các hành tinh) là hệ cơ học khép kín, bao gồm những yếu tố không thay đổi mà sự vận động của chúng tuân theo các quy luật của cơ học cổ điển. Tư duy tương ứng với mức phát triển nói trên của khoa học chính là tư duy siêu hình. Sự phát triển tiếp theo của khoa học cho thấy, các cố gắng dựa trên các quy luật cơ học cổ điển để giải thích các hiện tượng điện–từ, hóa học, sinh học, đặc biệt, các hiện tượng xã hội đã hoàn toàn thất bại. Các thành tựu khoa học tự nhiên, xã hội của thế kỷ 19, 20 đã phá vỡ bức tranh cơ giới về thế giới, cũng như cách tư duy siêu hình. Thay thế cho cách tiếp cận cơ giới (Mechanistic Approach), được dùng phổ biến từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, là cách tiếp cận hệ thống (Systems Approach). Từ giữa thế kỷ 20, cách tiếp cận hệ thống được dùng rộng rãi trong nghiên cứu các đối tượng phát triển phức tạp như các hệ thống sinh học tự tổ chức, tâm lý, xã hội, các hệ kỹ thuật lớn, hệ thống “người và máy móc”... Cách tiếp cận hệ thống có các nhiệm vụ: 1) Nghiên cứu các phương tiện mô tả, biểu diễn các đối tượng được nghiên cứu hoặc được thiết kế chế tạo như là các hệ thống; 2) Xây dựng các mô hình khái quát hệ thống, các mô hình về các loại hệ thống và các tính chất của hệ thống; 3) Nghiên cứu cấu trúc của các lý thuyết về hệ thống cùng các quan điểm, phương pháp hệ thống; 4) Là cơ sở lý thuyết và phương pháp luận của phân tích hệ thống. ... Mời các bạn đón đọc Giải Quyết Vấn Đề Và Ra Quyết Định Tập 3 của tác giả Phan Dũng.