Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tuổi Già Tập 1 - Simone de Beauvoir

Simone de Beauvoir (1908 - 1986) là nhà văn, nhà triết học và một nhà đấu tranh cho nữ quyền người Pháp. Là một nhà văn từng được giải Goncourt nhưng cũng là một học giả uyên bác, các tác phẩm của bà được lấy cảm hứng từ chính cuộc đời mình đồng thời đầy ắp các dữ kiện khoa học, lịch sử, thống kê… Hai tác phẩm non-fiction được biết ở Việt Nam nhiều nhất của bà là Giới tính thứ nhì và Tuổi già. Giới tính thứ nhì (xuất bản năm 1949), được xem là một trong những quyển sách hay nhất của thế kỷ 20, là một cuốn bách khoa toàn thư về các giai đoạn của cuộc đời phụ nữ từ lúc sinh ra, dậy thì, lấy chồng, làm mẹ; đồng thời vạch ra con đường giành quyền lợi cho nữ giới. Với tác phẩm này, bà được xem là “Bà mẹ của phong trào nữ quyền". Tuổi già được viết lúc Beauvoir hơn 50 tuổi, mô tả chi tiết cuộc sống của người già và đấu tranh giành quyền cho họ. Người ta chỉ có thể hiểu được thân phận người già khi ở tuổi đó. “50 tuổi, tôi giật nảy mình khi một nữ sinh viên Mỹ kể lại với mình câu nói của một cô bạn: "Nhưng Simone de Beauvoir là một bà già chứ sao!" Cả một truyền thống dồn cho từ ngữ này một cái nghĩa xấu; nó vang lên như một lời thoá mạ. Vì vậy, người ta phản ứng, thường bằng giận dữ, khi nghe người khác bảo mình già. Tôi có biết nhiều người phụ nữ được biết tuổi tác của mình một cách khó chịu qua một kinh nghiệm giống như kinh nghiệm Marie Dormoy: một người đàn ông, bị vẻ trẻ trung của hình bóng bà đánh lừa, đi theo bà trên đường phố; đến khi đi vượt qua bà và trông thấy gương mặt bà, thì thay vì bắt chuyện, ông ta rảo bước.” "Bạn có biết khuyết tật nào lớn nhất trong các khuyết tật không? Đó là tuổi trên 55" – Tourgueniev. Vào tuổi 55, Trotsky phàn nàn người mệt mỏi, mất ngủ, hay quên; ông có cảm giác sức lực sút kém; và lo lắng. Ông gợi lại quá khứ: "Anh buồn bã nhớ lại tấm ảnh của em, tấm ảnh của chúng ta, trong đó chúng ta trẻ trung biết chừng nào”. Già đi – đó là một điều không thể tránh khỏi và cũng là một quá trình chấp nhận đầy đau đớn. "Wagner kinh hãi thấy mình già đi, 80 tuổi, ông viết: “Hình hài tôi làm người ta khiếp sợ và khiến tôi u sầu một cách xót xa”. Sự suy sụp về thể chất khiến người già không còn có thể tham gia sản xuất hay xây dựng, do đó họ bị xem như gánh nặng, phải phụ thuộc vào người khác. Beauvoir viết về những trại dưỡng lão ở ngoại ô Paris với những người già như bị xã hội bỏ quên, sống mòn mỏi chờ đợi những cuộc viếng thăm của con cháu. Theo Beauvoir, đối đãi công bằng với người già là cách ứng xử có trước có sau mà nếu khác đi là làm lung lay gốc rễ của xã hội hiện đại. *** Khi còn là thái tử Siddharta, bị vua cha nhốt trong một tòa lâu đài tráng lệ, nhiều lần Thích Ca trốn đi dạo chơi bằng xe ngựa trong vùng. Trong lần dạo chơi đầu tiên, thái tử gặp một người tàn tật, tóc bạc, răng rụng, da nhăn nheo, cúi gập người trên một cây gậy, miệng lập cập, hai tay run rẩy. Chàng lấy làm ngạc nhiên và người xà ích giải thích đó là một ông già. Thái tử liền thốt: “Những kẻ hèn yếu và dốt nát, chuếnh choáng vì niềm kiêu hãnh của tuổi trẻ, không thấy được tuổi già. Khốn khổ biết chừng nào! Hãy trở nhanh về nhà thôi. Các trò chơi và niềm vui mà làm gì, vì ta là nơi ẩn náu của tuổi già mai sau”. Qua một ông già Thích Ca nhận ra số phận của chính mình, sinh ra để cứu vớt loài người, Thích Ca muốn chia sẻ hoàn toàn với số phận của họ. Và về điểm này, Người khác họ: họ lẩn tránh những gì không làm họ vui lòng. Và đặc biệt là tuổi già. Châu Mỹ đã loại trừ ra khỏi từ vựng của họ từ: người chết: mà chỉ nói người khuất bóng thân yêu; cũng giống như vậy, họ tránh liên hệ tới tuổi già. Ở nước Pháp ngày nay, đó là một đề tài cấm kỵ. Khi bắt buộc phải vi phạm điều cấm kỵ ấy, tôi đã bị người ta la ó! Chấp nhận mình đã bước vào ngưỡng cửa của tuổi già, tức là cho rằng nó rình rập tất cả mọi người phụ nữ, rằng nó đã tóm cổ nhiều người. Với thái độ dễ thương hay giận dữ, nhiều người, nhất là người già, không ngớt nhắc đi nhắc lại với tôi rằng làm gì có tuổi già! Có những người không trẻ bằng những người khác, chỉ thế thôi! Đối với xã hội, tuổi già xuất hiện như một điều bí ẩn đáng xấu hổ, mà nói tới là điều khiếm nhã. Trong mọi lĩnh vực, văn học viết rất nhiều về phụ nữ, về trẻ em, về thiếu niên; ngoài các công trình chuyên môn, người ta rất ít ám chỉ tới tuổi già. Một tác giả băng hoạt hình đã phải làm lại cả một loạt tác phẩm vì trước đó ông ta đã đưa vào trong số các nhân vật một cặp vợ chồng đáng tuổi làm ông làm bà: “Hãy loại bỏ người già đi!” - người ta hạ lệnh cho ông ta[1]. Khi tôi nói mình viết một cuốn tiểu luận về tuổi già, người ta thường thốt lên: “Sao lại kỳ thế!... Bà đâu có già!... Đề tài ấy, ngán lắm...” Chính vì lý do ấy mà tôi viết cuốn sách này: để phá tan sự đồng tình im lặng. Theo Marcuse, xã hội tiêu thụ đem một ý thức tốt đẹp thay thế cho ý thức xấu xa và bài xích mọi ý nghĩ tội phạm. Cần khuấy động sự yên ổn của nó. Đối với người có tuổi, nó chẳng những là phạm tội, mà còn là một tội ác. Ẩn náu phía sau các huyền thoại bành trướng và phong túc, nó cho người già là những kẻ khốn cùng. Ở Pháp, nơi tỷ lệ người già cao nhất thế giới - 12% dân số trên 65 tuổi - họ bị dồn vào cảnh khốn cùng, cô đơn, tàn tật, thất vọng. Ở Mỹ, số phận của họ cũng không sung sướng hơn. Nhằm dung hòa sự man rợ này với thứ đạo lý nhân văn chủ nghĩa mà họ thuyết giáo, giai cấp thống trị có cách đơn giản là không xem họ là những con người; nếu nghe tiếng nói của họ, người ta bắt buộc phải thừa nhận đó là một tiếng nói của con người; tôi sẽ buộc độc giả của mình nghe tiếng nói ấy. Tôi sẽ miêu tả hoàn cảnh của họ và cách họ sống; tôi sẽ nói những gì diễn ra thực sự trong đầu óc và trong con tim họ - những thứ bị dối trá, huyền thoại và những lời sáo rỗng của nền văn hóa tư sản xuyên tạc. Vả lại, thái độ của xã hội đối với họ mang tính chất đồng lõa sâu sắc. Nói chung, xã hội không coi tuổi già là một lớp tuổi rõ rệt. Cuộc khủng hoảng về tuổi dậy thì cho phép vạch ra giữa một thiếu niên và người trưởng thành một đường ranh giới chỉ mang tính võ đoán trong những giới hạn chật hẹp; ở tuổi 18, 21, thanh niên được chấp nhận vào xã hội con người. Hầu như bao giờ xung quanh sự thăng tiến ấy cũng có những “nghi thức chuyển giai đoạn”. Còn thời điểm bắt đầu tuổi già thì không được xác định rõ rệt, nó thay đổi theo từng lúc, từng nơi. Không ở đâu, người ta bắt gặp “nghi thức chuyển giai đoạn” thiết lập một quy chế mới[2], về chính trị, suốt đời, cá nhân giữ nguyên những quyền lợi và nghĩa vụ giống nhau. Luật Dân sự không mảy may phân biệt giữa một cụ già trăm tuổi và một người tuổi bốn mươi. Các nhà làm luật cho rằng ngoài những trường hợp bệnh lý ra, trách nhiệm hình sự của người có tuổi cũng hoàn toàn đầy đủ như của thanh niên[3]. Trong thực tiễn, người ta không coi họ là một lớp người riêng, vả lại, họ cũng không muốn như vậy; có sách, báo, sân khấu, những buổi truyền hình và truyền thanh dành cho trẻ em và thiêu niên: còn đối với người già thì không[4]. Trên tất cả những bình diện này, người ta đồng hóa họ với lớp người lớn tuổi trẻ hơn. Nhưng khi quyết định quy chế kinh tế của họ, hình như người ta cho là họ thuộc một lớp người xa lạ: họ không có những nhu cầu cũng như những tình cảm giống như những người khác, nếu chỉ cần ban cho họ một chút bố thí khốn khổ là cảm thấy hết nợ đối với họ. Các nhà kinh tế học, các nhà làm luật tin vào cái ảo ảnh thuận tiện ấy khi phàn nàn cái gánh nặng những người không hoạt động gây nên cho những người hoạt động: như thể những người này không phải là những người không hoạt động trong tương lai và không bảo đảm chính ngày mai của mình trong lúc xây dựng việc nhận lấy trách nhiệm đối với những người có tuổi. Còn các nhà hoạt động công đoàn thì không nhầm lẫn: khi đưa ra những đòi hòi, bao giờ họ cũng coi trọng vấn đề hưu trí. Những người già không tạo nên một lực lượng kinh tế nào thì không có cách gì để đòi hỏi quyền lợi của mình: lợi ích của những kẻ bóc lột, là tiêu diệt tình đoàn kết giữa người lao động và người không sản xuất, sao cho không một ai bênh vực những người này. Những huyền thoại và lời sáo rỗng theo tư duy tư sản tìm cách chỉ ra một con người khác trong người già. “Chính với những thiếu niên sống khá nhiều năm mà cuộc đời tạo nên lớp người già” - Proust từng nhận định như vậy - họ giữ lại những nết tốt và những tật xấu của con người trong họ. Điều đó, dư luận không muốn biết tới. Nếu biểu thị những ham muốn, những tình cảm, những đòi hỏi giống như những người trẻ tuổi, thì người già làm người ta công phẫn; ở họ, tình yêu nam nữ, lòng ghen tuông hình như là bỉ ổi hay lố bịch, còn tình dục thì đáng ghê tởm và bạo lực thì chẳng có nghĩa lý gì. Họ phải là tấm gương về mọi đức tính. Trước hết, người ta đòi hỏi ở họ sự thanh thản; người ta khẳng định họ có lòng thanh thản ấy, nên cho phép người ta không quan tâm tới nỗi bất hạnh của họ. Cái hình ảnh người ta tô vẽ về họ là hình ảnh một nhà Hiền triết trong ánh hào quang của một mái tóc bạc trắng, giàu kinh nghiệm và khả kính, vượt lên rất xa thân phận con người; nếu rời khỏi hình ảnh ấy, là họ rơi xuống phía dưới; cái hình ảnh đối lập với hình ảnh trên đây, là hình ảnh một lão già điên lẩm cẩm, lố lăng, bị trẻ em chế giễu. Dẫu sao, do đức độ hay do sự đê tiện của họ, họ ở ngoài nhân loại. Vì vậy, người ta có thể không ngại ngần khước từ đối với họ những gì tối thiểu được coi là cần thiết cho một cuộc sống con người. Người ta đẩy xa sự loại thải này tới mức làm cho nó quay trở lại chống chính bản thân mình; người ta sẽ không công nhận bản thân mình trong hình ảnh ông già mà chính mình là ông già đó. Proust nhận xét một cách xác đáng: “Trong mọi hiện thực, (tuổi già) có lẽ là hiện thực mà chúng ta giữ lại một khái niệm thuần túy trừu tượng lâu bền nhất trong đời”. Tất thảy mọi người đều khả tử: họ nghĩ tới điều đó. Nhiều người trong số họ trở thành người già: hầu như không một ai hình dung trước sự biến đổi ấy. Người ta không chờ đón, không dự kiến một cái gì khác ngoài tuổi già. Khi được hỏi về tương lai của họ, thanh niên, nhất là nữ thanh niên, cho đời mình kéo dài nhiều nhất đến tuổi 60. Một số cô gái bảo: “Em không chờ đến ngày ấy, em sẽ ra đi trước đó”. Và thậm chí, một vài cô nói: “Em sẽ tự sát trước ngày ấy”. Người trưởng thành hành động như thế không bao giờ phải trở thành người già. Thông thường, người lao động kinh hoàng khi điểm giờ nghỉ hưu: thời hạn nghỉ hưu vốn đã được ấn định trước, người đó biết thời hạn ấy, nhẽ ra họ phải chuẩn bị sẵn. Sự thật là sự hiểu biết ấy vẫn xa lạ đối với họ cho tới giây phút cuối cùng - trừ phi nó thực sự mang tính chất chính trị. Đến ngày đó, và khi đã bước tới gần, thông thường, người ta thích tuổi già hơn là cái chết. Tuy vậy, đứng cách xa, người ta xem xét cái chết sáng suốt hơn cả. Cái chết nằm trong phạm vi những khả năng trực tiếp của chúng ta, uy hiếp chúng ta ở mọi lứa tuổi; có lúc chúng ta suýt chết; thông thường, chúng ta sợ chết. Con người ta không trở nên già nua trong chốc lát; ở tuổi thanh niên hay lúc tráng niên, chúng ta không nghĩ là tuổi già tương lai đã tiềm ẩn trong con người mình như Thích Ca: tuổi già ấy cách xa chúng ta tới mức khoảng cách ấy lẫn lộn trước mắt mình với sự vĩnh hằng: tương lai đối với chúng ta như thể phi hiện thực. Vả lại, cái chết không là gì cả; người ta có thể cảm thấy một nỗi bàng hoàng siêu hình trước cái hư vô ấy, nhưng bằng một cách nào đó, nó làm người ta yên lòng, nó không đặt thành vấn đề. “Ta sẽ không còn nữa”. : ta giữ hình tích của mình trong sự tiêu vong ấy[5]. Ở tuổi 20, hay 40, tôi nghĩ mình già, tức là nghĩ mình là người khác. Trong mọi sự biến đổi, đều có một cái gì đó khủng khiếp. Ở tuổi ấu thơ, tôi bàng hoàng, và thậm chí kinh hoàng khi hiểu ra sẽ có ngày mình sẽ trở thành người lớn. Nhưng ý muốn mình vẫn là bản thân mình, thường được bù đắp ở buổi thiếu thời bởi những lợi thế của quy chế người trưởng thành. Còn tuổi già thì xuất hiện như một nỗi bất hạnh: ngay cả ở những người mà người ta cho là vẫn giữ được vẻ quắc thước, sự suy sụp về thể chất mà tuổi già kéo theo cũng vẫn lồ lộ trước mắt. Vì ở loài người, sự đổi thay do năm tháng là nổi bật nhất. Loài vật thì gầy đi, yếu đi, nhưng không biến đổi. Còn con người thì có. Người ta se lòng khi nhìn thấy bên cạnh một thiếu phụ trẻ, phảng phất trong gương hình ảnh chính mình những năm tháng sau này: tức là mẹ mình. Theo Lévi-Strauss, người Da đỏ Namblikwara chỉ có một từ để nói “trẻ và đẹp” và một từ để nói “già và xấu”. Trước hình ảnh người già gợi ý với chúng ta về tương lai của mình, chúng ta không tin; một tiếng nói nội tâm thầm thì một cách phi lý với chúng ta rằng điều đó sẽ không đến với mình: sẽ không còn là chúng ta nữa khi điều đó xảy tới. Trước khi nó ập xuống chúng ta, tuổi già là cái chỉ liên quan tới ngườl khác. Vì vậy, có thể hiểu vì sao xã hội có thể khiến chúng ta không coi người già là đồng loại của mình. Thôi, chúng ta đừng tự lừa dối mình nữa; ý nghĩa cuộc sống chúng ta nằm trong tương lai đang đón đợi mình; chúng ta không biết mình là ai, nếu không muốn biết mình sẽ là người thế nào: chúng ta hãy tự nhận biết mình ở ông lão kia, ở bà già nọ. Cần phải như vậy nếu chúng ta muốn đảm nhận thân phận con người của mình một cách trọn vẹn. Chỉ có như vậy, chúng ta mới không còn chấp nhận một cách thờ ơ nỗi bất hạnh của lứa tuổi cuối cùng, chúng ta sẽ cảm thấy mình ở trong cuộc: và quả chúng ta ở trong cuộc. Nỗi bất hạnh ấy tố cáo một cách vang dội chế độ bóc lột chúng ta đang sống. Người ta không thể tự mình thỏa mãn nhu cầu của mình, bao giờ cũng bị coi là một gánh nặng. Nhưng trong những tập thể có một sự bình đẳng nào đó - trong lòng một cộng đồng nông thôn, ở một số dân tộc nguyên thủy - người đứng tuổi, tuy không muốn biết, vẫn biết ngày mai thân phận của mình sẽ là thân phận mà ngày hôm nay người đó quy cho người già. Đấy là ý nghĩa truyện cổ tích của Grim, được thuật lại ở mọi miền thôn dã. Một gã nông dân bắt người cha già ăn riêng, trong một cái máng gỗ nhỏ; hắn bất chợt thấy đứa con trai đang ghép những miếng ván. Nó bảo ông bố: “Cho bố đấy, khi bố về già”. Thế là ông già lại ngồi vào bàn ăn cùng cả nhà. Trước lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt, các thành viên còn hoạt động trong tập thể sáng tạo nên những sự thỏa hiệp. Tình trạng cấp bách của nhu cầu buộc một số người nguyên thủy giết chết bố mẹ, dù về sau, có phải chịu một số phận như thế. Trong những trường hợp ít căng thẳng hơn, sự phòng xa và tình cảm gia đình chế ngự tính ích kỷ. Trong thế giới tư bản, lợi ích dài hơn không còn tác dụng: những kẻ có đặc quyền và quyết định số phận của đám đông không sợ phải nếm trải số phận ấy. Còn những tình cảm nhân văn chủ nghĩa thì không bao giờ can thiệp tới, mặc dù những lời huyênh hoang dối trá. Cơ sở của nền kinh tế là lợi nhuận; trên thực tiễn, toàn bộ nền văn minh phụ thuộc vào nó: người ta chỉ quan tâm tới tập thể người trong một doanh nghiệp trong chừng mực tập thể ấy có lợi. Sau đó, họ bị vứt bỏ. Tại một hội nghị gần đây, tiến sĩ Leach, nhà nhân chủng học ở Cambritgiơ tuyên bố: “Trong một thế giới đang chuyển động, trong đó máy móc có những cuộc đời rất ngắn ngủi, con người không nên phục vụ quá lâu. Tất cả những gì vượt qua 55 năm tuổi đều phải loại bỏ”[6]. Cái từ “đồ bỏ đi” nói đúng điều nó muốn nói. Người ta kể lể với chúng ta rằng nghỉ hưu là thời gian của tự do và giải trí; có những nhà thơ ca ngợi “lạc thú nghỉ ngơi”. Đó là những lời dối trá vô liêm sỉ. Xã hội áp đặt cho số đông người già mức sống khốn khổ tới mức từ ngữ “già nua và đói nghèo” trở thành hầu như một từ thừa (pléonasme); ngược lại, số đông người bần cùng là người già. Nhàn rỗi không mở ra cho người nghỉ hưu những khả năng mới; vào lúc cá nhân, đến phút cuối cùng, được giải thoát khỏi những sự ràng buộc, người ta tước đoạt của họ mọi phương tiện sử dụng quyền tự do. Họ buộc phải sống lay lắt trong cô đơn và phiền muộn, như một vật phế thải không hơn không kém. Khi trong mười lăm hay hai mươi năm cuối đời, một con người chỉ còn là một vật chẳng ai đoái hoài, thì đó là sự thất bại của nền văn minh chúng ta: sự thật hiển nhiên ấy khiến chúng ta nghẹn ngào nếu chúng ta coi người già là những con người từng có một cuộc sống con người phía sau họ, chứ không phải là những xác chết dật dờ. Những ai tố cáo cái chế độ đọa đày vốn là chế độ chúng ta, phải đưa điều điếm nhục ấy ra ánh sáng. Chính bằng cách tập trung nỗ lực của mình vào thân phận những người xấu số nhất, người ta có thể làm lay chuyển một xã hội. Để phá hủy hệ thống đẳng cấp, Gandhi tìm cách giải quyết thân phận tầng lớp Tiện dân (parias); nhằm tiêu hủy gia đình phong kiến, nước Trung Hoa cộng sản giải phóng phụ nữ. Đòi hỏi con người cứ phải là con người ở lứa tuổi cuối cùng của họ bao hàm một sự đảo lộn triệt dể. Không thể thu được kết quả ấy với một vài cải cách hạn hẹp không đụng chạm tới hệ thống: chính nạn bóc lột người lao động, chính quá trình phân hủy xã hội và sự khốn cùng của một nền văn hóa chỉ dành riêng cho tầng lớp quan lại, dẫn tới những cảnh già nua phi-nhân văn ấy. Chúng chỉ ra rằng cần làm lại tất cả, từ đầu. Chính vì vậy, vấn đề này bị nhấn chìm trong im lặng hết sức kỹ lưỡng; và chính vì vậy, cần phá tan sự im lặng ấy: tôi mong đợi độc giả giúp đỡ tôi trong công việc này.   Mời các bạn đón đọc Tuổi Già Tập 1 của tác giả Simone de Beauvoir.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Siêu Trí Nhớ
15 bài tập đơn giản giúp bạn rèn luyện trí nhớ hiệu quả “Trong cuốn sách này, tôi muốn chỉ cho bạn cách rèn luyện trí nhớ. Mục đích không chỉ để thành thạo những bài tập não bộ mà bạn chưa bao giờ nghĩ là mình có thể làm được, mà còn là đòn bẩy giúp tăng sự tự tin của bạn, cũng giống như tôi vậy. Khi bạn đã có ý niệm về tiềm năng bên trong trí nhớ của mình, thì bạn cũng sẽ sớm nhận ra tiềm năng đó còn có thể áp dụng cho những mặt khác của não bộ, từ khả năng tập trung và phản xạ nhanh nhạy (hay còn gọi là “trí thông minh mềm”) cho đến sự tự tin khi kể chuyện, khi diễn thuyết và thậm chí là cả khả năng ứng biến. Bằng cách dẫn dắt bạn đi trên hành trình khám phá của tôi, vẽ ra những cung đường đã đưa tôi đến vị trí ngày hôm nay, tôi hy vọng rằng, tôi có thể trao cho bạn phương tiện để bạn tìm thấy trí nhớ tuyệt đỉnh của mình.” -    Dominic O’Brien Cuốn sách cung cấp những kỹ thuật ghi nhớ có thể cải thiện hoàn toàn trí nhớ của bạn, đồng thời đưa ra những lời khuyên về sức khỏe tinh thần và thể chất để rèn luyện một trí nhớ hoàn hảo. Dominic O'Brien - 8 lần vô địch thế giới về trí nhớ - còn thiết lập 15 bài tập đơn giản đánh giá mức độ tiến bộ không ngừng của bạn xuyên suốt quá trình đọc cuốn sách. Tác giả: Dominic O’Brien nổi danh với những thành tựu ghi nhớ phi thường và những lần qua mặt các sòng bạc tại Las Vegas. Ngoài 8 lần giành được danh hiệu vô địch thế giới về trí nhớ, ông còn được vinh danh là Bộ óc Siêu việt, đồng thời là Kiện tướng Trí nhớ năm 1995. Vào năm 2005, ông đã được trao tặng giải Thành tựu Trọn đời để ghi nhận những công lao trong việc quảng bá nghệ thuật ghi nhớ đến khắp nơi trên thế giới. *** Review sách luyện tập Siêu Trí Nhớ | Domic O’Brien Sách Luyện tập Siêu Trí Nhớ của Dominic O’Brien là cuốn sách rèn luyện trí nhớ hữu ích mà Review Hay Hay muốn giới thiệu với các bạn. Xin chào các bạn, thời gian này thì chương trình Siêu Trí Tuệ Việt Nam mùa 2 đang phát sóng những rất gay cấn. Đó là sự đối đầu của các Siêu Trí Nhớ đã trải qua quá trình luyện tập miệt mài, để chọn ra những người xuất sắc nhất vào đội hình Siêu Trí Tuệ Việt Nam đi thi đấu Quốc Tế. Nhờ ảnh hưởng chương trình Siêu Trí Tuệ, hẳn là nhiều người trong chúng ta muốn tìm hiểu cách các bạn ấy ghi nhớ để vượt qua các thử thách, hay muốn học hỏi, luyện tập để có một trong nhớ tốt hơn. 1. GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH SIÊU TRÍ NHỚ 1.1 Tác giả Dominic O’Brien Tác giả cuốn sách, ông Dominic O’Brien là người đã 8 lần vô địch thế giới về trí nhớ, với khả năng ghi nhớ phi thường của mình, ông đã bị các sòng bạc tại Las Vegas cấm cửa. Lúc nhỏ ông ấy bị mắc chứng khó đọc, không tập trung và việc học tập khá chậm chạp. Thầy cô thường nói ông sẽ không làm nên trò trống gì. Sau đó, ông biết đến và luyện tập trí nhớ và trở thành chuyên gia trong lĩnh vực này. Ông là ví dụ điểm hình cho việc khẳng định trí nhớ có thể rèn luyện được chứ không phải bẩm sinh 1.2 Giới thiệu cuốn sách Siêu Trí Nhớ Cuốn sách cung cấp những kỹ thuật ghi nhớ có thể cải thiện hoàn toàn trí nhớ của bạn, đồng thời đưa ra những lời khuyên về sức khỏe tinh thần và thể chất để rèn luyện một trí nhớ hoàn hảo. Dominic O’Brien – 8 lần vô địch thế giới về trí nhớ – còn thiết lập 15 bài tập đơn giản đánh giá mức độ tiến bộ không ngừng của bạn xuyên suốt quá trình đọc cuốn sách. Cuốn sách sẽ chỉ cho bạn cách rèn luyện trí nhớ. Mục đích không chỉ để thành thạo những bài tập não bộ mà bạn chưa bao giờ nghĩ là mình có thể làm được, mà còn là đòn bẩy giúp tăng sự tự tin của các bạn. Khi bạn đã có ý niệm về tiềm năng bên trong trí nhớ của mình, thì bạn cũng sẽ sớm nhận ra tiềm năng đó còn có thể áp dụng cho những mặt khác của não bộ, từ khả năng tập trung và phản xạ nhanh nhạy (hay còn gọi là “trí thông minh mềm”) cho đến sự tự tin khi kể chuyện, khi diễn thuyết và thậm chí là cả khả năng ứng biến. 2. NỘI DUNG CUỐN SÁCH SIÊU TRÍ NHỚ 2.1 Tổng quan nội dung Nội dung cuốn sách Siêu Trí Nhớ rất thực tế, nó cung cấp các bài tập để chúng ta có thể rèn luyện trí nhớ. Những bài tập này gắn liền với hành trình của tác giả Dominic O’Brien từ khi bắt đầu luyện tập tới lúc vô địch thế giới về trí nhớ. Từ việc ông gặp những khó khăn nào trong việc luyện tập và cách chúng ta chăm sóc bộ não như ăn ngon, chơi bời quá mức (ăn nhậu, bar, chất kích thích…) hay thức khuya… cũng được đề cập ở trong sách. 2.2 Các phương pháp ghi nhớ Từng phần trong cuốn sách còn có những bài tập để chúng ta thực hành luôn các phương pháp mà ông truyền tải. Những phương pháp mà ông đề cập đi từ đơn giản đến phức tạp như: Phương pháp liên kết: là liên kết các sự vật/sự việc cần nhớ lại với nhau thành một câu chuyện mà ta ấn tượng, chúng ta chỉ cần nhớ câu chuyện đó là sẽ nhớ các sự vật, sự việc khác. Phương pháp hành trình: tạo ra một hành trình như trải nghiệm thực tế của chính mình cho các sự vật/sự việc cần nhớ, hành trình này theo thứ tự cần nhớ và logic với nhau. Phương pháp mã hóa nhị phân: Mã hóa thông tin cần nhớ thành số nhị phân. Ví dụ Trong sách còn có một số phương pháp khác nữa, phần này các bạn mua sách về khám phá nha. Tác giả có đề cập đến thử thách nhớ 52 lá bài, giống vớ thử thách mà anh….tham gia cuộc thi Siêu Trí Tuệ có tham gia, mình thấy phần thử thách này rất thú vị và áp dụng nhiều phương pháp ghi nhớ lại với nhau. 2.3 Đánh giá nội dung Với việc đề cập nhiều phương pháp thực tế và bài tập để thực hành, thì theo mình những người mới bắt đầu, chưa biết gì về ghi nhớ cũng có thể áp dụng và rèn luyện trí nhớ của mình. So sánh với cuốn sách Giải Mã Siêu Trí Nhớ của Mai Tường Vân thì mình thấy khá nhiều điểm tương đồng trong các phương pháp ghi nhớ. Tuy nhiên cuốn sách Siêu Trí Nhớ thì đi sâu vào việc giải thích và tường thuật cách tác giả luyện tập, còn sách của Mai Tường Vân có những điểm riêng biệt để người Việt có thể luyện tập như cung cấp bảng mã hóa bằng tiếng Việt. Các bạn nào có thắc mắc về nội dung thì hãy để lại bình luận bên dưới, mình sẽ check và phản hồi các bạn nhé. 3. ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT SÁCH SIÊU TRÍ NHỚ 3.1 Những ai nên đọc Có một trí nhớ tốt là rất hữu ích đối với tất cả chúng ta, vậy nên cuốn sách Siêu Trí Nhớ là một cuốn sách mà những người chưa biết cách ghi nhớ hay có vấn đề về việc ghi nhớ trong học tập và cuộc sống hằng ngày. Cuốn sách Siêu Trí Nhớ với cơ sở khoa học và nhiều bài tập để chúng ta có thể thực hành và luyện tập trí nhớ. 3.2 Giá và chất lượng Cuốn sách này cũng có thể được coi là “vỡ lòng” đối với những bạn có mong muốn rèn luyện trí nhớ và đi thí đấu. Chất lượng giấy của cuốn sách khá tốt, giá bìa là 99k. Mình có để đường link mua sách ở bên dưới, các bạn có thể click vào và mua nha. Mời các bạn đón đọc Siêu Trí Nhớ của tác giả Dominic O’Brien & Thảo Trâm (dịch).
Phương Pháp Học Tập Ở Đại Học
Giáo sư John Vũ - Nguyên Phong, là một nhà khoa học nổi tiếng ở Mỹ, đứng trong Top 10 người sáng tạo nhất thế giới (mà đứng đầu là Bill Gates và Steve Jobs). Ông chính là người dịch tác phẩm nổi tiếng Hành trình về Phương Đông, một trong những tác phẩm hay nhất về phương Đông từ trước đến nay. Giáo sư John Vũ cũng là một người rất quan tâm đến khoa học công nghệ, với trên 10.000 bài viết đã được đăng trên blog Science-Tecnology.  Giáo sư John Vũ là một người Mỹ gốc Việt có những đóng góp rất lớn về nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đối với thế hệ trẻ. Xin giới thiệu một Ebook về phương pháp học tập ở đại học được lấy từ trang science-technology.vn. *** Một cuốn sách hữu ích của Giáo sư John Vu (Nguyên Phong – Tác giả sách “Muôn kiếp nhân sinh” và nhiều cuốn sách “bom tấn” khác.) dành cho những bạn đang là sinh viên hoặc chuẩn bị bước vào cánh cửa Đại học. *** Nhiều thầy vẫn dùng phương pháp dạy tập trung vào lí thuyết và ghi nhớ thay vì phương pháp giảng dạy mới chú trọng vào áp dụng. Khó thay đổi phương pháp giảng dạy khi hàng nghìn thầy giáo được đào tạo theo truyền thống cũ và nhiều người không thoải mái khi phải thay đổi. Hệ thống giáo dục thay đổi chậm chạp và phải mất mười hay hai mươi năm nữa mới có thể thích nghi phương pháp dạy mới nhưng nếu như thế chúng ta có thể vụt mất cơ hội để tiến bước cùng thời đại số. Nhiều sinh viên thường chờ tới trước kỳ thi cuối kỳ rồi “nhồi nhét” mọi thứ một lúc. Đó là lí do tại sao họ có thể biết “vài thứ” đủ để qua được môn học nhưng không thể phát triển được kĩ năng rất cần là ứng dụng lý thuyết để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Sự thật là khi dùng lối tắt để học và không có kiến thức sâu sắc, SV không thể giải quyết được vấn đề họ gặp khi ra trường. Hiện nay nhiều sinh viên chỉ nghĩ về việc qua được kì thi, có được bằng cấp, nhưng KHÔNG nghĩ đủ xa vào tương lai nơi họ phải xây dựng nghề nghiệp. Không có phương hướng học tập rõ ràng, không có kế hoạch học tập, nên nhiều người tốt nghiệp không tìm được việc làm là phải. Mời các bạn đón đọc Phương Pháp Học Tập Ở Đại Học của tác giả John Vu.
Nghệ Thuật Lắng Nghe Trong Giao Tiếp
Việc trở thành một người lắng nghe tốt hơn có ý nghĩa thế nào đối với bạn? Cuộc đời bạn sẽ thay đổi ra sao nếu bạn biết lắng nghe hơn? Trong thế giới hiện đại ngày nay, dường như chúng ta đã quá quen với việc chạy theo những lợi ích cá nhân và dần quên đi sự quan trọng của việc dừng lại và lắng nghe. Khả năng lắng nghe người khác thực sự có thể được coi là kỹ năng quan trọng nhất, giúp thay đổi cuộc đời của bạn và những người xung quanh bạn. Trong giao tiếp đời thường, kỹ năng lắng nghe sẽ giúp bạn xây dựng các mối quan hệ dựa trên nền tảng tiếp nhận thông tin; trong công việc, lắng nghe không chỉ giúp bạn tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm từ những người có chuyên môn, mà còn giúp bạn thấu hiểu đồng nghiệp hơn và từ đó có thể giúp đỡ nhau cùng phát triển, đạt hiệu suất cao. Với những ví dụ sinh động, các kỹ thuật dễ học và bài tập thực tế, hãy cùng học lại cách lắng nghe hiệu quả từ bậc thầy về giao tiếp – Dale Carneige thông qua cuốn sách “Nghệ thuật lắng nghe trong giao tiếp”. Bạn có thể tự đánh giá khả năng lắng nghe của bản thân thông qua bài kiểm tra “Bạn có nghe tôi nói không?”. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng sẽ giới thiệu các đặc điểm thường thấy từ bảy lọai hình người nghe để từ đó gợi ý cho bạn cách thức giao tiếp sao cho phù hợp. Trong chương 3, tác giả sẽ phân tích bốn kiểu lắng nghe, bao gồm: Giả vờ lắng nghe, lắng nghe để đáp trả, lắng nghe học hỏi và lắng nghe đồng cảm.Tất nhiên, đây không phải là danh sách tuyệt đối về các loại hình lắng nghe. Chỉ cần lướt nhanh một vòng trên Internet là bạn có thể thấy hằng hà sa số những cái tên và những mô tả cho các loại hình lắng nghe khác nhau. Tuy nhiên bốn loại hình trên đây có thể bao hàm cho các loại còn lại. Hãy tận hưởng trong quá trình đọc và đắm chìm trong những kiến thức chứa đựng trong cuốn sách này. Món quà tuyệt vời nhất mà bạn có thể dành tặng cho người khác chính là trở thành phiên bản tốt hơn của chính bản thân bạn. Và điều đó bắt đầu với việc trở thành một người lắng nghe hiệu quả hơn. *** [Bookademy] Review Sách Có khi nào bạn cảm thấy không muốn nói chuyện với bố mẹ hay người thân vì họ không lắng nghe bạn không? Có khi nào bạn cãi nhau với đứa bạn thân vì hiểu sai ý nhau không? Hay có bao giờ từ bỏ một mối quan hệ vì không thể giao tiếp? Frank Tyger, nhà báo và nhà vẽ tranh biếm họa người Mĩ, từng nói: “Thính giác là một trong năm giác quan của con người. Nhưng lắng nghe là cả một nghệ thuật.” Thật vậy. Nhiều người cho rằng việc nghe dễ hơn nói bởi họ không phải nghĩ nên và không nên nói gì. Những người không biết cách trò chuyện lại càng lấy cớ lắng nghe để đẩy trách nhiệm cho đối phương. Tuy nhiên, việc lắng nghe cũng quan trong như việc nói vậy, bởi để giao tiếp thành công cần có sự tương tác hai chiều giữa hai bên đối thoại. Người nghe cần thấu hiểu, hay ít nhất là nắm bắt được chủ đề người nói đang đề cập tới, từ đó khiến người nói có cảm giác thoải mái và tạo dựng được một mối quan hệ tốt đẹp. Lắng nghe, trên thực tế, là một kĩ năng khó. Nhưng cuốn sách “Kĩ năng lắng nghe trong giao tiếp” của Hiraki Noriko sẽ dạy bạn mọi thứ bạn cần để dành 50% chiến thắng trong đời. Tại sao lắng nghe lại quan trọng? Mới đây thôi, tôi đã cắt đứt quan hệ tình bạn với một người. Có nhiều lí do dẫn đến kết quả này, nhưng một trong số đó lại là vấn đề giao tiếp giữa chúng tôi. Tôi đã qua tuổi 18, em vẫn còn là một đứa nhỏ cần sự quan tâm và thấu hiểu. Tôi có thể lờ đi mọi thứ khiến bản thân bực bội, em thì thích để chúng vào mắt. Tôi ở một góc độ nào đó đã thấu hiểu sự bất công của thế giới, em thì lại quá nhạy cảm. Mỗi lúc trông thấy tôi, em sẽ quấn quit kể về những điều em trông thấy, cảm thấy và những chuyện xảy ra trong ngày hôm đó. Sẽ không có gì đáng nói nếu tôi không càng ngày càng phát ngán với những câu chuyện tưởng chừng bất tận về cùng hay vài chủ đề luẩn quẩn. Em hay kể những chuyện khiến em không thoải mái, những điều tôi chẳng quan tâm, những thứ tôi đã dặn em đừng làm nữa nhưng em vẫn ngang bướng không nghe. Và tôi bắt đầu hờ hững với em, hờ hững lắng nghe những câu chuyện em kể. Có quá nhiều khác biệt giữa chúng tôi khiến việc chấm dứt chỉ là vấn đề thời gian. Nhưng tôi đã nghĩ đến một cái kết trong êm đẹp, chứ không phải bắt đầu bằng việc tổn thương em bởi sự hờ hững ích kỉ này. Thế đấy, bạn của tôi ạ, lắng nghe quan trọng bởi nó có thể giúp bạn giữ lại dù chỉ một chút kỉ niệm đẹp về đối phương, để bạn không phải ngày ngày canh cánh trong lòng hai chữ “xin lỗi”, và nếu bạn không phải là một kẻ xấu xa như tôi, có thể bạn sẽ hàn gắn được mối quan hệ đang rạn nứt này với tình yêu thương và tấm lòng thông cảm, bao dung. Như đã đề cập ở trên, lắng nghe là một trong hai chiều của giao tiếp. Nếu việc nói giúp bạn bộc lộ bản thân và chia sẻ quan điểm thì việc nghe giúp bạn hiểu đối phương, từ cách suy nghĩ đến tính cách và thái độ của người đang cùng bạn trò chuyện, rồi dựa vào đó mà khéo léo tạo dựng được những mối quan hệ phù hợp, có thể khiến bạn được yêu mến nữa (Bởi là thôi nào, có ai mà không yêu mến người khiến mình thoải mái trò chuyện và được thấu hiểu chứ?)  Như Johann Wolfgang von Goethe có nói: “Nếu bạn muốn hiểu tư duy của ai đó, hãy nghe anh ta nói.” Tác giả Hiraki Noriko cũng cho biết: Những người không biết cách lắng nghe, không nắm bắt được chủ đề đối phương đang nói, tuy không phải là người xấu nhưng cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp. Nói một cách cực đoan thì họ sẽ không tạo dựng được mối quan hệ với mọi người trong gia đình, bạn bè hay đồng nghiệp, thậm chí những việc đơn giản như mua đồ tại cửa hàng cũng trở nên khó khăn với họ. Hơn thế nữa, những người như vậy cũng khó có thể hi vọng rằng mình sẽ có một mối quan hệ thân thiết hay sự đồng cảm sâu sắc với người khác. Từng ấy lí do đã đủ khiến lắng nghe trở nên quan trọng chưa? Về đối tượng hướng đến Theo từ điển Oxford, giao tiếp (communication) là hành động hay quá trình cung cấp thông tin, diễn đạt suy nghĩ và cảm xúc đến mọi người. Trong tiếng Anh, “communication” (giao tiếp) và “community” (cộng đồng) có cùng từ gốc Latin “communis”, mang nghĩa chung, phổ biến. Bên cạnh đó, tiếng Latin còn có từ “communicare”, nghĩa là khiến cái gì đó trở nên phổ biến với nhiều người, chia sẻ, truyền đạt, chia ra. Do vậy, ta có thể suy ra bản chất của giao tiếp chính là sự sẻ chia. Theo tâm lý học, giao tiếp là hoạt động xác lập, vận hành các mối quan hệ giữa người với người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định. Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và xã hội, là nhu cầu sớm nhất của con người từ khi tồn tại đến khi mất đi. Con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa, đạo đức, chuẩn mực xã hội thông qua giao tiếp. Như vậy, con người không thể tồn tại mà không có giao tiếp, và ai cũng cần quan tâm đến cách lắng nghe. “Kĩ năng lắng nghe trong giao tiếp” của Hiraki Noriko phù hợp với mọi đối tượng. Dù bạn là cô gái tuổi đôi mươi hay đã là phụ huynh của hai nhóc tì, thậm chí là một ông lão tóc bạc trắng, dù bạn có đang gặp khó khăn trong giao tiếp nói chung và kĩ năng lắng nghe nói riêng hay không, dù bạn có muốn thay đổi hay không, bạn vẫn có thể đọc hiểu và áp dụng cuốn sách này. Ở mỗi chương đều có những hình minh họa tóm tắt và ví dụ cụ thể mà người đọc dễ dàng liên hệ vào thực tế. Càng đọc những lời khuyên của Hiraki Noriko, tôi càng nhận ra bản thân đã mắc quá nhiều lỗi trong việc lắng nghe như thế nào, dù tôi luôn nhận mình là đứa giỏi nghe hơn nói. Chà, nghe mỉa mai nhỉ? Nhưng đó là sự thật. Bởi tôi đã nhầm tưởng về việc lắng nghe như bao người ngoài kia. Tôi nhận ra, nghe và hiểu điều đối phương muốn đề cập không phải là tất cả, đáp lại đối phương như thế nào cũng vô cùng quan trọng. Nếu bạn đã từng gắt gỏng với bố mẹ, từng không muốn trò chuyện với gia đình vì không ai hiểu cách suy nghĩ của bạn hay từng đánh mất một mối quan hệ và cách lắng nghe là một trong nhiều vấn đề dẫn đến rạn nứt, giống như tôi, thì bạn nên ra hiệu sách và mang cuốn này về, bởi nó sẽ giúp bạn nhiều hơn bạn tưởng tượng về một cuốn sách kĩ năng. Mời các bạn đón đọc Nghệ Thuật Lắng Nghe Trong Giao Tiếp của tác giả Dale Carnege & Ngân Nga (dịch).
Nghệ Thuật Làm Vợ
Nghệ thuật làm vợ là nghệ thuật biến một người phụ nữ bình thường thành niềm ao ước của đại đa số đấng mày râu. Một nửa thế giới còn lại mong muốn gì về những người vợ như chúng ta? Làm vợ, đơn giản là trở thành một hình mẫu lý tưởng trong lòng các quý ông chồng. Vậy, bạn có đang nằm trong Top những người vợ lý tưởng ? Người vợ như thế nào là người vợ đáng để mơ ước. Làm vợ là cả một nghệ thuật và người phụ nữ trong thế giới hiện đại luôn hướng tới chuẩn mực nhất định. Sự dịu dàng, thông minh, đảm đang, ngăn nắp hay biết nấu ăn,.. chưa hẳn là yếu tố làm vợ, làm mẹ một cách hoàn hảo. Làm vợ được trải qua thời gian khá dài, làm tròn bổn phận và trách nhiệm của một người vợ khiến ai ai cũng phải ngưỡng mộ quả là điều không đơn giản. Cuốn sách này chắt lọc kinh nghiệm của những "người vợ" đi trước, là cẩm nang hữu ích giúp bạn trở thành người vợ đảm đang trong gia đình hạnh phúc. *** Làm vợ! Hai tiếng ngắn gọn và giản dị đó bao hàm biết bao trọng trách thiêng liêng của người phụ nữ. Ngay từ lúc cúi lạy trước bàn thờ tổ tiên là đôi lứa đã cảm thấy cuộc đời cả hai thuộc về nhau rồi. Cũng từ giây phút ấy, bạn sẽ không còn nghĩ và làm cho riêng cá nhân nữa, và chồng bạn cũng vậy... Hai con người riêng rẽ đã tiến đến bên nhau để cùng đi chung một cuộc đời. Bạn và chồng bạn phải cùng nhau gánh vác nhiệm vụ xây dựng gia đình mà trong đó cả hai sẽ cùng nhau chia sẻ niềm vui lẫn nỗi buồn, phải hòa hợp với nhau cả tâm hồn và thể xác. Cuộc sống ấy không hoàn toàn thơ mộng đẹp đẽ như bạn tưởng tượng trước đó, nhưng nó cũng sẽ là một "mái ấm vô cùng tuyệt vời" cho bạn và chồng bạn nếu cả hai cùng yêu thương, cảm thông nhau và cùng có một nghị lực phấn đấu trước các chông gai thử thách của cuộc đời. Nhưng để được như vậy, trước hết bạn phải làm đủ trọng trách của một người làm vợ. Hãy làm sao cho căn nhà của bạn là một tổ ấm mà chồng bạn phải nhớ tới, phải cần tới để được thoải mái nghỉ ngơi, làm cho mọi người cảm thấy được hạnh phúc bên nhau... Tất cả là do nghệ thuật làm vợ của bạn. Cuốn Nghệ Thuật Làm Vợ sẽ phân tích và hướng dẫn cho các bạn rõ những vấn đề trên. Với Nghệ Thuật Làm Vợ, mong rằng khi bạn đã trao tay cho chàng đeo nhẫn là bạn đã quên tất cả để sống với chồng cho trọn vẹn, và là lúc bạn sẽ đem tất cả sự khôn ngoan, tế nhị cũng như lòng nhân ái vốn có của phụ nữ làm hành trang đi vào đời. Mời các bạn đón đọc Nghệ Thuật Làm Vợ của tác giả Lan Anh (biên soạn).