Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Gác Đêm Tập 3

Tóm tắt phần trước Một vụ án vượt ngục ly kỳ, 22 đào phạm trốn thoát ra ngoài trở thành cơn ác mộng cho người dân thành phố Nam An. Dưới vô vàn áp lực nặng nề, tổ chức thần bí Người gác đêm đã bị lãng quên bao lâu được khởi động lại. Một Tiêu Lãng nhanh nhạy bướng bỉnh, một Lăng Mạc lạnh lùng ít nói, cùng với các đồng đội khác trở thành lực lượng chủ lực trẻ trung của Người gác đêm thế hệ mới. Đằng sau vụ án vượt ngục, họ phát hiện ra một gã trẻ tuổi chuyên truy sát các đào phạm - “Kị sĩ u linh” . Hắn không chỉ có khả năng chính là người lập kế hoạch của vụ vượt ngục, còn có khả năng nắm được những thông tin cơ mật của nội bộ Người gác đêm, từ đó mới có thể luôn ra tay trước một bước mỗi lần Người gác đêm hành động. Sau nhiều khó khăn, Tiêu Lãng và Lăng Mạc cuối cùng đã hợp sức cùng bắt sống được tên “Kị sĩ u linh” xuất quỷ nhập thần, nhưng rồi ngay trong bệnh viện được canh phòng nghiêm ngặt, “Kị sĩ u linh” đã bị ám sát, chỉ lưu lại một mảnh giấy thần bí in mấy chữ “Người gác đêm”. Ai là hung thủ sát hại “Kị sĩ u linh” ? Ai là “nội gián” tiết lộ thông tin của nội bộ Người gác đêm? Trong quá trình truy bắt hung thủ, tổ chức Người gác đêm lần lượt phải đối mặt với những thách thức bởi từng vụ án đột ngột xảy ra: Đoạn đường cao tốc vào một đêm mưa bão, trước cửa kính ô tô đột nhiên xuất hiện một bóng ma trắng toát; ở một thị trấn nhỏ yên bình, mấy bé gái sơ sinh còn đang quấn tã bị đâm vào người những cây kim bạc một cách tàn nhẫn; Trong một nhà nghỉ nhỏ nằm cạnh bệnh viện, chỉ trong một đêm xuất hiện năm “con nhộng” đẫm máu đáng sợ… Các vụ án ly kỳ xảy ra ở những nơi khác nhau, song đều có liên quan đến một thế lực đen tối tiềm tàng nào đó. Mỗi hung thủ đều có một mặt sở trường “thiên phú khác người”, trong quá trình trưởng thành, bọn chúng đều phải chịu sự tác động của một nhân tố nào đó, kích thích gây ra biến đổi năng lực. Những năng lực này khiến cho đám người biến đổi này luôn gây án một cách thành thạo lão luyện, khó mà bắt giữ được. Nhưng thế hệ trẻ tuổi của Người gác đêm bất luận bằng mọi giá, từ trong những manh mối bất thường, tìm được cách phá án đối phó với những kẻ biến đổi, bọn họ còn lần theo vụ án “Kị sĩ u linh” bị giết hại, kết nối với một loạt nghi án trẻ sơ sinh mất tích, vén lên một góc tảng băng bí mật về một tổ chức to lớn đằng sau “Kị sĩ u linh” . Thì ra, trong đám người biến đổi có rất nhiều người đều là những đứa trẻ sơ sinh bị mất tích năm nào, còn đối tượng ra tay của đám người này là những người có mối liên quan mật thiết đến một vụ án cũ từ nhiều năm trước. Năm đó, thành viên của tổ chức Người gác đêm là Đổng Liên Hoa phụ trách điều tra phá án một vụ án mạng giết chồng, hai mẹ con nhiều năm phải sống trong bóng đêm u ám của bạo lực gia đình đã bỏ trốn ngay trong đêm, nhưng cuối cùng vẫn bị Lão Đổng tìm ra. Người mẹ bị xét xử tử hình, chỉ còn lại một mình người con trai Đỗ Xá. Lão Đổng thương cho cảnh ngộ của Đỗ Xá, sau khi đưa đứa trẻ vào viện phúc lợi còn thường xuyên đến thăm hỏi, song không ngờ rằng, Đỗ Xá lại này sinh âm mưu giết hại Lão Đổng. Cho đến tận khi vớt được phần thi thể rời rạc của Lão Đổng trên sông, tội ác của Đỗ Xá mới bị phát hiện. Nhưng Đỗ Xá đã thoát khỏi án tử nhờ một tờ giấy chứng minh mắc bệnh tâm thần, cho đến giờ vẫn đang bị giam giữ trong nhà tù Kim Ninh. Nạn nhân bị những kẻ biến đổi giết chết, đều là những người năm đó từng giúp đỡ Đỗ Xá. Đổng Lạc con trai Lão Đổng cũng đã chết rồi, vậy thì, những kẻ biến đối này rốt cuộc có mối liên hệ gì với Lão Đổng? Sau những tranh đấu gian khổ, cuối cùng bọn họ đã bắt được Sơn Tiêu - hung thủ của vụ án “Kị sĩ u linh” , những tưởng rằng mọi nghi vấn sẽ theo đó mà được lý giải, không ngờ, vào đúng đêm hôm thầy giáo hướng dẫn Đường Tuấn của tổ chức Người gác đêm thẩm vấn xong Sơn Tiêu, ông đã chôn thân bên dưới chiếc máy xúc ở khu công trường hoang vắng trống trải… Cái chết của Đường Tuấn có vẻ như là một sự cố ngoài ý muốn. Nhưng không một ai biết được, tại sao ông lại xuất hiện ở đó vào giữa đêm. Duy nhất có chiếc vòng đeo tay trên cổ tay Đường Tuấn là tiết lộ ra một thông tin vi diệu: Số bước đi thể hiện trên vòng đeo tay và số bước đi được ghi lại trong điện thoại của Đường Tuấn có sự cách biệt vô cùng lớn… *** Lời tựa Chống lại bóng tối, bảo vệ ánh sáng. Cuốn thứ ba “Người gác đêm 3” trong series Người gác đêm đã xong rồi. Điều đáng mừng là, “Người gác đêm 2” vừa ra mắt, lập tức vươn lên dẫn đầu trên bảng tiêu thụ, điều đó khiến tôi vô cùng cảm động. Chính là vô vàn độc giả, đã cổ vũ tôi, thúc giục tôi, kịp thời chỉ ra những thiếu sót của tôi, đưa ra những ý kiến góp ý và kiến nghị, mới khiến cho tôi tiếp tục đi được đến ngày hôm nay. Không chỉ vậy, tôi còn tự nhận thấy rằng mình đang tiến bộ lên từng ngày. Còn nhớ khi đó vào lúc xuất bản tập đầu “Người gác đêm 1“, không ít bạn bè cũ của tôi vẫn còn chưa thích nghi được. Là do sự thay đổi trong kết cấu của toàn bộ câu truyện cũng như trong phong cách sáng tác, khiến cho bộ truyện Người gác đêm và bộ truyện Pháp y Tần Minh có phong cách khác biệt hẳn với nhau. Bởi vậy, tôi đã nhận được rất nhiều phê bình và kiến nghị. Quả thực, bản thân tôi cũng ý thức được rằng, nhược điểm trong viết lách của mình đã hiển hiện ra đó. Nói thật lòng, vào lúc đó tôi đã tính chuyện rút lui. Nhưng tôi biết rằng, nếu như thực sự không lấp đầy hố trống nữa, vậy thì đây mới là một biểu hiện không có trách nhiệm, vậy thì không phải là Lão Tần nữa rồi. Để series Người gác đêm ngày càng hay hơn, cùng lúc với quá trình sáng tác tập 1 “Kẻ trời phạt” trong series Pháp y Tần Minh thứ hai, tôi cũng đã bắt đầu tiến hành chỉnh sửa toàn bộ thế giới quan cũng như hệ thống câu chuyện của “Người gác đêm 3”. Một điều vô cùng vinh hạnh nữa là, luôn có một đội ngũ ưu tú ủng hộ giúp đỡ tôi. Đó chính là đội ngũ lập kế hoạch của nhà xuất bản Nguyên Khí, còn cả các bạn học sinh của đội ngũ biên tập trang wechat Pháp y Tần Minh. Họ đã cung cấp cho tôi rất nhiều hướng tư duy hợp lý, đồng thời phát huy vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa tuyến truyện chính cho các tác phẩm sau này của series Người gác đêm. Trong vòng nửa năm, đã sửa chữa tất cả 13 lần bản thảo, tuyến truyện chính của “Người gác đêm 2” mới được định hình xong. Trong khoảng thời gian này, đau khổ có, tiều tụy có, bàng hoàng có, nhưng rồi bản thân tôi đều kiên trì vượt qua, cuối cùng thực sự đã thu được thành quả to lớn. Sau khi “Người gác đêm 2”xuất bản, được sự ủng hộ của bạn bè, lượng tiêu thụ tăng lên một cách ổn định. Điều quan trọng hơn cả là, đánh giá của bạn đọc cũng tăng lên một cách rõ rệt. Đây là niềm an ủi lớn nhất đối với tôi. Cho nên, tôi đã cầm bút viết ra phần lời dẫn này với tâm trạng vô cùng hứng khởi. Đương nhiên, trước đó, tôi vẫn dành thời gian mấy tháng liền để nghiền ngẫm cốt truyện chính của “Người gác đêm 3”. Sửa bản thảo rất nhiều lần, hao tổn rất nhiều trí lực. Tôi tin tưởng rằng, bản thảo đã thành hình lần này của “Người gác đêm 3“, có thể khiến cho các bạn được đọc những câu chuyện càng thú vị hơn. Ngoài việc chuẩn bị trước một cách đầy đủ, còn có một việc khiến cho tôi tràn đầy niềm tin và mong đợi rằng sẽ viết tốt cuốn truyện này. Có một hôm, vào lúc tôi và bố tôi cùng uống rượu trò chuyện với nhau, vô tình nhắc đến trạng thái cảnh sát và ý thức pháp trị thời bố tôi còn trẻ, đã gợi mở cho tôi rất nhiều. Bố tôi kiên nhẫn giải thích cho tôi tiến trình phát triển từ “quy kết có tội” cho đến “suy đoán vô tội”, thậm chí còn đưa ra vài vụ án ví dụ sinh động. Sau đó ông có đưa ra một quan điểm: Chúng ta bây giờ đều biết rằng “suy đoán vô tội” là chân lý, nhưng mà, trong lòng mọi người, có đều thực sự đồng tình với “suy đoán vô tội” hay không? Cho dù “suy đoán vô tội” thật sự đi vào lòng người như vậy, vậy thì, yếu tố “đoán tội” nói đến ở đây, nên được định nghĩa như thế nào? Chứng cứ như thế nào được coi là “suy đoán”, chứng cứ như thế nào được coi là “xác thực”? Có ranh giới rõ rệt để phân định hay không? Một vấn đề nghe có vẻ rất đơn giản, mà nói ra như vậy, có phải là đáng để xem xét hay không? Tôi tin rằng, vào lúc tôi bắt đầu cầm bút viết ra cuốn sách, cũng đồng thời luôn suy nghĩ về vấn đề này, đem những câu hỏi thấm nhuần vào trong từng câu chữ. Nếu như cuốn sách này có thể khiến cho độc giả đi tìm hiểu về những vấn đề này, vậy thì mục đích của tôi coi như là đạt được rồi. Đương nhiên, nếu như mọi người có thể thông qua việc đọc cuốn sách này mà thấy được những vinh quang và trách nhiệm của những người cảnh sát nhân dân “gánh vác trọng trách đi về phía trước” kia nữa, thì tôi lại càng thêm hài lòng hơn. Đồng thời, tôi cũng chuẩn bị được nhiều những tình tiết câu chuyện phá án “có vẻ huyền ảo, thực ra chân thực” đan xen chặt chẽ trong tuyến truyện chính, tin rằng những bạn độc giả yêu thích việc suy luận phá án nhất định có thể thông qua việc đọc truyện mà thỏa mãn cơn nghiện của mình. Cuối cùng, có một tin không biết là tin tốt hay tin xấu để báo với mọi người. Vào lúc sáng tác đề cương “Người gác đêm 3”, tôi phát hiện ra những điều tôi muốn biểu đạt càng ngày càng nhiều, vốn dự định cuốn “đại kết cục” này đến giờ về cơ bản là không thể dung nạp được nhiều câu chuyện và tư tưởng như vậy, cho nên, tôi chỉ còn cách là hoạch định bộ truyện Người gác đêmtừ 3 cuốn thành 4 cuốn. Cũng có nghĩa là, xem xong cuốn sách này, câu chuyện vẫn chưa đi đến hồi kết. Các bạn sẽ thấy không thoải mái, hay là mong đợi đây? Bất luận thế nào, tôi đã không thể đừng được nỗi khát khao cầm bút bắt đầu viết ra câu truyện rồi, lời dẫn dài dòng văn tự đến đây là hết. Cảm ơn các bạn vẫn luôn ủng hộ tôi như ngày nào, cảm ơn các bạn đã luôn động viên cổ vũ cho những người cảnh sát nhân dân “chống lại bóng tối, bảo vệ ánh sáng” của chúng ta! Câu chuyện, xin được bắt đầu! Tần Minh Ngày 4 tháng 8 năm 2018 *** Con người có ba thứ không nên nhớ đến, Kiếp nạn, cái chết và tình yêu; Anh muốn nhớ đến thì anh sẽ khổ đau tận cùng. Vladimir Nabokov 1 Mưa to như trút. Cô gái trẻ không che ô. Toàn thân đã ướt sũng, cô tựa người vào bức tường gạch màu xanh xám, không còn cảm nhận được sự ấm áp của bức tường. Bức tường gạch màu xanh xám còn rất mới, dấu vết các đường gân dọc do máy móc ép xuống hằn in bên trên còn chưa bị bào mòn đi theo năm tháng, nhưng rồi, vào thời điểm đúng dịp mùa mưa trời âm u suốt như thế này, rêu xanh cũng đã mọc đầy ở khe hở giữa những viên gạch. Cô gái không biết đang nghĩ ngợi điều gì, cả phần lưng phía sau dựa sát vào bức tường gạch, đầu ngẩng lên, để mặc những hạt mưa to như hạt đậu tùy ý rơi trên khuôn mặt non nớt mà thanh tú của cô. Trong làn mưa mịt mù, dường như cô có thể nhìn thấy phía trên cùng của bức tường cao, chỗ cách phía trên đỉnh đầu cô hơn 3 mét, là tấm lưới bằng dây thép gai đang nhe nanh múa vuốt. Đôi tay cô bám chặt vào bức tường, mười ngón tay đang cào vào các khe tường, cứ ra sức cào, tựa như muốn cào bằng hết bức tường gạch màu xanh vô cùng kiên cố này. Đám rêu xanh bị móng tay tác động vào, dồn hết sang một bên, còn thừa cơ ra sức dính chặt vào trong các kẽ móng tay cô gái. “Này, làm gì đó? Hãy tránh xa nơi này!” Một giọng thanh niên trẻ trung vang lên cắt đứt tiếng mưa rơi đều đều, vọng đến tai cô gái trẻ, toàn thân cô run lên nhè nhẹ. “Làm gì đó? Tránh xa nơi này!” Giọng người thanh niên lặp lại một lần nữa, nhưng lần này khẩu khí thêm nặng hơn. Cô gái theo hướng giọng nói nghiêng mặt nhìn sang phía trên bên phải của mình, trong làn mưa mịt mù, dường như cô nhìn thấy trên đỉnh bức tường có một căn chòi gác, bên trong chòi gác có một bóng người mơ hồ đang mặc áo mưa, tay ôm súng trường. “Nghe thấy không? Tránh xa nơi này!” Âm thanh một lần nữa to hơn, khẩu súng trong tay của bóng người đó cũng giơ lên cao. Hai bên nhìn nhau chăm chú hồi lâu, rồi cô gái quay đầu bỏ chạy. Bóng người bên trong chòi gác một lần nữa lại đứng thẳng người lên, đeo súng vòng ra sau lưng, cầm chiếc máy bộ đàm đặt trên bàn lên. “Bảo vệ cổng chính chú ý, một người phụ nữ không rõ danh tính đang di chuyển về phía các anh.” Mặt trước của khối kiến trúc là một quảng trường rộng lớn, ngay đến một cái cây cũng không có, đất cát trên mặt đất bị nước mưa rơi xuống bắn ra tung tóe. Cô gái đứng giữa quảng trường, hai bàn tay nắm chặt, nhìn thẳng vào khối kiến trúc to lớn trước mặt. Cô đứng im bất động, mặc cho những giọt nước mưa giá lạnh xuôi theo đuôi tóc xuống cổ rồi chảy vào phía bên trong người, toàn thân cô đã bị ướt hết. Cô nhìn trân trân vào bốn chữ màu đen lớn phía trên đỉnh tòa kiến trúc, ánh mắt đầy vẻ giận dữ, cũng có thể là bi thương nữa. Cô đã hòa lẫn vào trong làn nước mưa ngập trời, nếu như không phải là đôi mắt đang đỏ hoe, cơ bản là không phát hiện ra cô đang khóc mãi không thôi. Rầm. Sau khi một tiếng động lớn vang lên từ chiếc cổng sắt, hai cánh cổng sắt lớn trước mắt từ từ di chuyển chậm chạp, cho đến khi xuất hiện một lối đi hẹp đủ cho hai người có thể đi qua. Từ trong lối đi đó, hai chiếc ô lớn màu đen xuất hiện, bên dưới chiếc ô đen là hai người mặc trang phục cảnh sát màu xanh lá. Hai người bước ra khỏi chiếc cổng sắt, chiếc cổng sắt sau lưng ngay lập tức đóng chặt lại. Hai người tiến đến chỗ cô gái đang đứng trên quảng trường, mưa lớn dội vào bên trên chiếc ô, phát ra tiếng “rào rào rào” ầm ĩ. Cô gái không hề di chuyển, vẫn cứ chăm chú nhìn không chớp mắt vào bốn chữ đen lớn phía xa. Lúc tiến đến chỉ còn cách cô gái khoảng 2 mét, người cảnh sát lớn tuổi dừng lại, đồng thời đưa tay ra ngăn người cảnh sát trẻ tuổi vẫn đang định tiến về phía trước lại. Người cảnh sát trẻ hiếu kỳ nhìn sang người cảnh sát lớn tuổi. “Đảm bảo cự ly an toàn.” Người cảnh sát lớn tuổi nói nhỏ nhưng bị tiếng mưa át đi nên nghe không rõ ràng. Yết hầu của người cảnh sát trẻ tuổi chạy lên chạy xuống mấy cái, muốn nói gì đó, lại không nói ra lời. Cậu giơ chiếc ô đen cầm trong tay ra, dường như muốn che chắn cho cô gái khỏi cơn mưa to như trút nước, song do khoảng cách quá xa, không thể nào vươn tới được. “Cô gái, mưa lớn như thế này, bị ướt là sinh bệnh đó.” Người cảnh sát lớn tuổi nói bằng giọng thăm dò. Cô gái trẻ dường như không nhìn thấy gì, cũng không nghe thấy gì hết, vẫn cứ đứng trong làn mưa lớn chăm chú nhìn về phía xa. “Cô gái? Cô gái?” Người cảnh sát lớn tuổi làm điệu bộ giơ tay trước mắt cô gái, dường như muốn thu hút sự chú ý của cô, “Cô đến đây làm gì thế? Có phải là đi lạc đường không? Chỗ này ngoài nhà tù ra, không có cơ quan đơn vị nào cả. Đi tiếp về phía sau là nông thôn rồi.” Cô gái vẫn cứ chẳng nói chẳng rằng. Người cảnh sát trẻ tuổi thực sự không đành lòng đứng nhìn tiếp, cậu tiến lên phía trước mấy bước, giương chiếc ô che lên trên đầu cô gái, còn bản thân mình thì ngay lập tức bị mưa lớn làm ướt hết. Có thể do cơn mưa lớn trên đỉnh đầu đột nhiên ngừng hẳn, khiến cô gái có vẻ đã định thần trở lại. Cô chậm rãi nhìn thẳng vào người cảnh sát trẻ tuổi chỉ đứng cách mình một bước chân, dường như cậu ta trạc tầm tuổi với mình, 17, 18 tuổi, chiếc cầu vai* học viên một sao gắn trên vai áo. So với người cha ruột của mình, trên cầu vai của cậu ta còn ít hơn bốn vạch. Chàng trai mặt mũi khôi ngô tuấn tú, sáng sủa sạch sẽ, trong ánh mắt lúc này không giấu được vẻ hiếu kỳ và đồng cảm. “Có gì cần chúng tôi giúp đỡ không? Tôi họ Tần.” Chàng trai nói. Cô gái nhìn chăm chú vào đôi mắt chàng trai, không nói gì cả. Mặc dù mưa lớn đã bị chiếc ô che mưa chặn lại, song từ khóe mắt cô gái những giọt nước vẫn không ngừng rơi xuống. Cho dù bị ngăn cách bởi làn nước mưa chảy xuống từ trên vành mũ của mình, chàng trai cũng vẫn nhìn thấy rõ ràng. “Trong kia chúng tôi có điện thoại, có thể giúp cô liên hệ với người nhà của mình.” Chàng trai nói thêm. Cô gái vẫn nhìn chàng trai không chớp mắt, khiến cậu có chút lúng túng không biết phải làm sao. “Cô gái, chắc cô chưa đến 18 tuổi nhỉ? Nếu cô vẫn cứ không nói gì, tôi phải thông báo cho công an đấy.” Người cảnh sát lớn tuổi cũng tiến lại gần rồi nói. “Các người, các người không phải là công an ư?” Giọng nói của cô gái rất nhỏ, trong tiếng mưa lớn hầu như không nghe rõ được. “Tôi là cảnh sát tư pháp, cậu ấy là học viên của Học viện Công an.” Người cảnh sát lớn tuổi nói, “Cô đến chỗ này làm gì?” “Tôi, tôi, tôi đến tìm người.” Cô gái cúi thấp đầu xuống, bất giác chạm tay mình vào bên eo. “Tìm người ư? Vậy sao cô không nói sớm, để bị mưa làm ướt vậy làm gì chứ.” Người cảnh sát trẻ tuổi đưa chiếc ô đen trong tay về phía tay cô gái. Cô gái không nhận, cậu dứt khoát ấn chiếc ô vào tay cô, rồi sau đó nhanh chóng đứng nép vào bên dưới chiếc ô của người cảnh sát lớn tuổi. “Cô tìm ai vậy?” Giọng điệu cảnh giác của người cảnh sát lớn tuổi đã giảm bớt phần nào. “Đỗ Xá.” Cô gái trả lời vẫn với giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng của một con muỗi. “Đỗ Xá? Chỗ chúng tôi không có người này đâu.” Người cảnh sát trẻ tuổi nói. Người cảnh sát lớn tuổi xua xua tay, nói: “Cô có giấy tờ không? Thăm phạm nhân cần phải có giấy tờ.” “Ồ, Đỗ Xá là phạm nhân ư.” Người cảnh sát trẻ tuổi bất chợt hiểu ra. “Tôi là người nhà anh ta, tôi chỉ muốn gặp anh ta chút thôi, nói một câu rồi đi.” Cô gái lại chạm tay vào bên eo mình một cách vô thức. “Người nhà? Tôi lại nghe nói anh ta không có ai thân thích cả.” Anh mắt người cảnh sát lớn tuổi một lần nữa ánh lên vẻ cảnh giác, “Hơn nữa, cho dù có phải là người nhà hay không, đều phải tiến hành theo trình tự là có giấy tờ.” “Nhưng mà, tôi chỉ muốn nhìn anh ta một cái, nhìn một cái thôi cũng không thể được sao?” Giọng cô gái đã trở nên to hơn, trong giọng nói đầy vẻ cầu khẩn. “Đây là trình tự pháp luật, chứ không phải trò chơi trẻ con.” Người cảnh sát lớn tuổi nói. “Thật đấy, tôi chỉ muốn nhìn anh ta thôi, không nói gì cả, nhìn một cái xong tôi sẽ đi!” Cô gái không đừng được gào lên. “Cô gái, thật sự là không thể.” Người cảnh sát lớn tuổi đưa chiếc ô cho người cảnh sát trẻ tuổi, giơ cổ tay lên nhìn đồng hồ đeo tay, nói: “Cô đứng ở đây lâu như vậy rồi, cần phải rời khỏi đây thôi.” “Không! Tôi không đi! Ông không cho tôi gặp anh ta, tôi sẽ không đi!” Cô gái vung tay một cái vứt chiếc ô che mưa trong tay xuống đất. “Chúng tôi là muốn tốt cho cô thôi, cô không đi cũng không gặp được đâu.” Người cảnh sát trẻ tuổi nhặt chiếc ô lên, đưa lại cho cô gái, nhưng cô gái không cầm. Thế nên cậu đành phải cùng với cô gái đứng dưới một chiếc ô. Mời các bạn mượn đọc sách Người Gác Đêm Tập 3 của tác giả Tần Minh & Nguyễn Quỳnh Trang (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bọn Làm Bạc Giả
Paris, những năm đầu thế kỷ 20, định mệnh đã mang tên thiếu niên ngông cuồng bỏ nhà đi, chàng nhà văn lãng tử mê phiêu bạt, gã tú tài nuôi mộng thi thư, quý phu nhân bạc nhược vì tình, tay sinh viên trường y bội bạc và cậu học sinh sa đọa bởi cám dỗ đến với nhau, rồi từng người họ lại nối kết với những người khác, tạo nên một mạng lưới quan hệ chằng chịt… Không có một cốt truyện rõ ràng, không có một đường dây xuyên suốt, từ đầu đến cuối Bọn làm bạc giả là dòng chảy tùy hứng của số phận mà qua đó, bằng ngòi bút tài tình André Gide đã tạo nên một thế giới nhân sinh sâu thẳm, đi tới tận cùng vùng tăm tối trong bản thể con người. Được xem là tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của Gide, cuốn sách này hàm ẩn cái chân lý văn chương trác tuyệt của ông và nhờ vậy mà trở nên bất tử. Nhận định "Bọn làm bạc giả là một cuốn bách khoa hiếm hoi về sự hỗn hoạn, nhu nhược và tuyệt vọng của nhân loại." - Nhà xuất bản Penguin Books "Tiểu thuyết của Gide mải mê chiêu đãi chúng ta một bữa tiệc đầy ắp những nốt nhạc và thanh âm, một mạng lưới chồng chéo những âm mưu và định mệnh. Nhưng sự hòa trộn đó không tạo nên một bản tạp âm chối tai mà là một phức điệu đích thực, một sự hỗn độn trong trật tự, hệt như một khúc fugue đầy biến động và vô phương hướng của Bach." - Giáo sư Robert Wexelblatt *** “Hình như họ muốn làm chúng ta tưởng rằng con người không có lối thoát nào khác ra khỏi tính ích kỷ, ngoài một lòng vị tha còn gớm ghiếc hơn! Tôi cho rằng nếu có cái gì đấy bỉ ổi hơn con người, và đê hèn hơn, thì đấy là số đông người. Chẳng có lí lẽ nào có thể thuyết phục được tôi là đem cộng những cá thể nhớp nhúa lại sẽ cho ra được một tổng thể tuyệt vời. Chẳng lần nào bước chân lên xe điện hoặc xe lửa mà tôi không ao ước xảy ra một tai nạn khủng khiếp biến cái đám người rác rưởi đó thành một đống nhão nhoét; ồ, kể cả tôi, tất nhiên…” ------------------- “Bọn làm bạc giả” là cuốn tiểu thuyết được coi như dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của André Gide. Chính bản thân tác giả cho rằng, đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong sự nghiệp của ông, bất chấp cả việc nó được viết  khi A. Gide đã 60 tuổi và có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ trước đó. “Bọn làm bạc giả” có nhiều tầng hình ảnh được đan lồng với nhau: những thiếu niên bị sa đà vào cuộc hoan vui; sự lưu hành tiền giả khiến người ta phải đặt ra câu hỏi: tiền giả chỉ đơn giản là tiền hay là sự phơi bày cảm xúc dối trá của con người; chuyện ngoại tình của các ông bố bà mẹ; chuyện sáng tác văn chương, chữa bệnh tâm thần bằng phương pháp tâm lí,…những vấn đề mang tính chất thời sự nóng hổi lúc bấy giờ. Cuốn tiểu thuyết mở ra từng dòng tự sự về thiếu niên ngông cuồng bỏ nhà đi, chàng nhà văn lãng tử mê phiêu bạt, gã tú tài nuôi mộng thi thư, quý phu nhân bạc nhược vì tình, tay sinh viên trường y bội bạc và cậu học sinh sa đọa bởi cám dỗ đến với nhau, rồi từng người họ lại nối kết với những người khác, tạo nên một mạng lưới quan hệ chằng chịt…Các nhân vật được xây dựng rất phức tạp với nhiều lớp lang về xuất thân, tư tưởng, hành động, tái hiện một bức tranh toàn cảnh đời sống tầng lớp thị dân Pháp cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.  “Bọn làm bạc giả” không được sắp xếp theo trình tự thời gian nhất định mà bị phá vỡ khi A.Gide đã đưa vào tác phẩm những trang nhật ký của nhân vật nhà văn Édouard. Ông đã viết rất nhiều tác phẩm và tác phẩm tiếp theo đây cũng có cái tên “Bọn làm bạc giả”, nói cách khác, cuốn sách của A.Gide là tiểu thuyết bên trong tiểu thuyết .  *** Bernard tự nhủ: - Bây giờ nghe như có tiếng bước chân ngoài hành lang thì phải. Hắn ngẩng đầu nghe ngóng. Không phải: cha và anh hắn ở lại tòa án, mẹ hắn bận đi thăm viếng, chị gái đi dự hòa nhạc; còn thằng út, thằng Caloub, thì trường học đã cầm chân hắn mỗi ngày sau khi bãi trường. Bernard Profitendieu ở nhà hì hục học thi tú tài, còn ba tuần lễ trước mặt hắn nữa thôi. Gia đình tôn trọng sự tịch mịch của hắn, ngạ quỷ thì không. Bernard đã cởi áo veston mặc ngoài mà vẫn khó thở. Từ khung cửa sổ mở ra đường, chỉ có sức nóng ùa vào. Trán hắn nhễ nhại. Một giọt mồ hôi chảy xuống sống mũi, và rơi xuống lá thư hắn đang cầm nơi tay. Hắn nghĩ: “Diễn trò nước mắt rồi đây. Nhưng thà chảy mồ hôi còn hơn là chảy nước mắt.” Phải, ngày tháng đã rành rành. Không nghi ngờ vào đâu được: thư liên quan đến Bernard, chính hắn. Thư gửi cho mẹ hắn, một lá thư tình mười bảy năm xưa, không kí tên. - Chữ cái này là nghĩa gì? Chữ V, cũng có thể là N lắm chứ... Có nên hỏi mẹ không?... Mình hằng tin tưởng ở sự biết điều của mẹ. Mình tự do tưởng tượng một ông hoàng nào đó. Còn hơn nếu vỡ lẽ mình là con của một tên ma cô nào thì sao? Không biết cha đẻ là ai, mình mới đỡ sợ phải giống ông ta. Mọi cuộc điều tra đều sinh trói buộc. Đáng kể chăng là sự nhẹ nhõm. Đừng đào sâu. Hôm nay thế cũng đủ cho ta rồi. Bernard gấp thư lại. Thư cùng một khổ giấy với mười hai lá thư khác trong gói. Một dải màu hồng buộc lại tất cả mà hắn không cần phải tháo ra, hắn chuồi thư vào đó để thắt cả xấp lại như cũ. Hắn đặt xấp thư vào chiếc hộp nhỏ rồi đặt chiếc hộp vào ngăn kéo bàn. Ngăn kéo không phải mở ra, nó đã tiết lộ bí mật bằng ngỏ trên. Bernard chắp nối những miếng rời của mặt gỗ đỡ tấm mã não phủ lên. Hắn nhẹ tay thận trọng, sập tấm mã não xuống, đặt lại lên trên đó hai giá đèn bằng pha lê cùng với chiếc đồng hồ kềnh càng mà hắn vừa mới đem ra sửa chơi. Đồng hồ gõ bốn tiếng. Hắn vặn lại cho đúng giờ. - Hai cha con ông dự thẩm và ông luật sư không về trước sáu giờ đâu. Ta đủ thì giờ. Thế nào cũng phải cho ông dự thẩm về thấy trên bàn tờ thư đẹp đẽ trong đó ta sẽ nói ý nghĩa sự ra đi của ta. Nhưng trước khi viết, mình thấy rất cần giải thông tư tưởng một chút đã và đi tìm gặp thằng bạn Olivier để cầm chắc một chỗ đậu, ít nữa là tạm thời. Olivier bạn thiết của ta ơi, đã đến lúc ta thử lửa tính chiều lòng của cậu và để cho cậu chứng tỏ giá trị của cậu với ta. Cái đẹp trong tình bạn của hai đứa chính là từ trước tới nay chúng ta chưa hề lợi dụng nhau. Nào! Yêu cầu giúp đỡ một việc ngộ nghĩnh chắc không đến nỗi tẻ nhạt. Phiền nỗi Olivier không ở một mình. Mặc, ta sẽ tìm cách tách riêng hắn ra. Ta muốn cho hắn hoảng kinh vì sự trầm tĩnh của ta. Chính trong cõi bất thường mình mới cảm thấy mình tự nhiên hơn hết. Con đường T..., nơi Bernard Profitendieu sống cho tới hôm nay ở gần sát vườn Luxembourg. Tại đây, cạnh hồ nước Médicis, trên lối đi nhìn xuống hồ nước, mấy đứa bạn hắn có thói quen hẹn nhau mỗi ngày thứ tư từ bốn đến sáu giờ, chuyện trò về nghệ thuật, triết học, thể thao, chính trị và văn học, Bernard bước đi rất nhanh, nhưng khi qua khỏi cổng vườn, hắn nhác thấy Olivier Molinier và lập tức chậm chân lại. Cuộc hội họp hôm đó đông đảo hơn lệ thường, có lẽ vì đẹp trời. Có vài đứa nhập bọn mà Bernard chưa quen. Mỗi đứa trong bọn trẻ này, hễ đứng trước cả bọn, là đóng một vai trò và hầu như mất hết tự nhiên. Olivier bừng đỏ mặt khi thấy Bernard đi tới và, khá đột ngột, hắn bỏ người thiếu nữ đang chuyện trò, lảng ra xa. Bernard là bạn thân thiết nhất của hắn, vì thế Olivier vô cùng thận trọng không làm ra vẻ gì là kiếm tìm hắn; đôi khi hắn còn vờ vĩnh không trông thấy Bernard nữa là khác. Trước khi tới với Olivier, Bernard phải đối đầu với nhiều nhóm, và chính vì cũng giả vờ không tìm kiếm Olivier nên Bernard còn chần chờ. Bốn đứa bạn trong bọn đang đứng quanh một đứa nhỏ người để râu đeo kính xấp xỉ lớn tuổi hơn mấy đứa kia, đang cầm cuốn sách. Hắn tên Dhurmer. Dhurmer ngỏ lời với một đứa trong bọn một cách đặc biệt hơn, nhưng lấy làm sung sướng rõ rệt vì được cả bọn lắng nghe. Dhurmer nói: - Mày nghĩ coi. Tao gắng tới trang ba mươi vẫn không thấy màu sắc gì hết, một chữ để mô tả cũng không. Chàng ta nói về một người đàn bà, áo đỏ hay xanh tao cũng chẳng hay chứ đừng nói gì. Tao, hễ không có màu sắc thì giản dị lắm, tao chẳng nom thấy gì. Và vì cần đại ngôn, nhất là vì hắn cảm thấy mình bị coi như mất bớt vẻ chững chạc, hắn nhấn mạnh: - Tuyệt đối không thấy gì hết. Bernard không để tai tới thằng khoa ngôn nữa, hắn xét thấy không nên bỏ đi quá vội, nhưng hắn đã bắt đầu nghe bọn kia cãi cọ ở sau lưng và Olivier trở lại nhập bọn sau khi bỏ rơi người thiếu nữ; một đứa ngồi trên chiếc ghế dài đọc báo Action Française. Olivier Molinier, giữa bọn chúng, sao trông trịnh trọng thế! Hắn vẫn là một trong mấy đứa nhỏ tuổi nhất. Khuôn mặt còn trẻ thơ và ánh mắt của hắn biểu lộ sự sơ khai của tư tưởng. Hắn dễ đỏ mặt. Tính tình đằm thắm. Dù hắn tỏ ra hòa nhã đối với mọi người, không hiểu một sự dè dặt khó hiểu nào đó, một sự e ấp nào đó vẫn ngăn cách hắn với bạn bè. Hắn khổ tâm vì điều đó. Không có Bernard thì hắn đã khổ hơn. Giống như Bernard lúc này, Molinier ghé vào từng nhóm một lát vì nể bạn, nhưng những điều hắn nghe, không có gì khiến hắn lưu tâm. Hắn nhòm qua vai thằng đọc báo. Bernard, không quay lại, nghe Olivier nói: - Mày không nên đọc báo, nó làm mày ứ huyết. Và tên kia đáp trả lại chanh chua: - Còn mày, hễ ai nói tới Maurras(1) là mày xanh mặt. Tiếp theo, một tên thứ ba, giọng giễu, hỏi: - Bộ mày thích những bài của Maurras sao? Và tên thứ nhất đáp: - Chán ngấy, nhưng tao thấy Maurras có lí. Kế đó, một tên thứ tư mà Bernard không nhận ra giọng: - Còn cái gì không làm mày ngấy, mày đều tưởng là thiếu bề sâu? Tên thứ nhất cãi lại: - Mày tưởng chỉ cần ngốc là chọc cười được ư? - Lại đây! - Bernard vừa nói nhỏ giọng, vừa đột ngột nắm lấy tay Olivier. Hắn kéo Olivier đi ra xa mấy bước. - Trả lời mau, mình có chuyện gấp. Cậu có nói với mình là cậu không ngủ cùng một tầng lầu với hai ông bà, đúng không? - Mình đã chỉ cửa phòng mình cho cậu rồi, cửa phòng mở ra ngay cầu thang, đi một nửa tầng lầu là lên nhà chính. - Cậu có nói em cậu ngủ chung với cậu? - Phải, thằng Georges. - Cậu và Georges không thôi? - Ừ. - Thằng nhỏ biết kín miệng không? - Nếu cần. Tại sao thế? - Là thế này. Mình đã bỏ nhà, hay nói đúng hơn, tối hôm nay mình sẽ bỏ nhà. Mình chưa biết đi đâu. Cậu có thể chứa mình một đêm không? Olivier mặt tái bệch hẳn ra. Chấn động quá mãnh liệt, hắn không đủ sức nhìn Bernard. Olivier bảo: - Được, nhưng đừng đến trước mười một giờ. Mỗi đêm má xuống thăm hỏi trước khi đi ngủ rồi khóa cửa. - Thế thì làm sao... Olivier cười: - Mình có chìa khóa khác. Cậu sẽ gõ cửa khe khẽ để khỏi đánh thức Georges nếu hắn ngủ. - Liệu bác gác cổng có để mình vào không? - Mình sẽ báo cho bác biết. Yên trí! Mình với bác ăn ý nhau lắm. Chính bác cho mình cái chìa khóa kia đấy. Hẹn gặp lại. Hai người từ giã không bắt tay nhau. Và trong khi Bernard bỏ đi, nghiền ngẫm lá thư muốn viết mà ông dự thẩm sẽ phải bắt gặp khi trở về, thì Olivier, vốn không muốn người ta bắt gặp mình đứng riêng với Bernard, nên tìm tới Lucien Bercail mà bọn kia để cho đứng hơi riêng rời. Nếu không yêu Bernard nhất thì Olivier đã yêu thích Lucien lắm đấy. Bernard bạo gan bao nhiêu thì Lucien rụt rè bấy nhiêu. Ai nấy cảm thấy Lucien yếu ớt, dường như hắn chỉ sống bằng trái tim và trí tuệ. Hắn ít khi có can đảm sấn sổ tới, nhưng hắn đã mừng ra mặt ngay khi thấy Oilivier lại gần. Lucien có làm thơ chăng, mọi người đều nghi hoặc; tuy nhiên thiết tưởng Olivier là kẻ độc nhất được Lucien thổ lộ dự định. Cả hai lần ra mé khuôn viên. Lucien bảo: - Tôi muốn làm sao thuật lại, không phải chuyện một nhân vật, nhưng câu chuyện về một địa điểm, - đấy, chẳng hạn câu chuyện một lối đi công viên, như lối đi này, thuật lại những gì xảy ra - từ sáng tới chiều. Trước tiên bọn giữ em đến, rồi bọn vú em đeo những tấm dải... Không, không hẳn... trước tiên là người toàn màu xám tất cả, không phân biệt đàn ông đàn bà tuổi tác, để quét dọn lối đi, tưới cỏ, thay hoa, tóm lại để sửa soạn sân khấu và trang trí trước khi cổng mở, anh hiểu chứ? Bấy giờ bọn vú em vào. Bọn bé con vọc cát cãi cọ, bọn giữ em tát bọn nhỏ. Kế đó là các lớp học nhỏ bãi ra... thêm bọn đàn bà thợ thuyền nữa. Có những kẻ nghèo khó đến ngồi ăn trên ghế. Sau đó là bọn thanh niên kiếm tìm nhau, bọn khác trốn tránh nhau, bọn nữa đứng ngồi riêng, tư lự. Và kế đó là dân chúng, vào lúc nhạc trỗi lên và lúc các nhà hàng đóng cửa. Bọn học sinh, sinh viên như hiện giờ. Buổi chiều, bọn tình nhân hôn nhau, có những kẻ chia tay khóc lóc. Cuối cùng, hết ngày, một cặp người già... Và thình lình, một hồi trống khua: đóng cổng. Mọi người đi ra. Kịch chấm dứt. Anh hiểu chứ: một cái gì đó cho mình cái cảm giác thôi hết rồi của mọi thứ, cái cảm giác của sự chết... nhưng vẫn không nói tới cái chết, cố nhiên. - Phải, tôi hiểu lắm, - Olivier đáp, hắn đang nghĩ tới Bernard chứ có nghe lọt chữ nào đâu. Lucien hăng say nói tiếp: - Chưa hết, chưa hết! Tôi muốn, trong phần coi như màn vĩ thanh, chứng minh chính cái lối đi này đây, ban đêm, sau khi mọi người bỏ đi hết rồi, thì thanh vắng, đẹp hơn ban ngày nhiều; trong cảnh im lặng mênh mông, mọi tiếng động trong thiên nhiên xuất thần: tiếng vòi nước, tiếng gió trong lá, và tiếng lảnh lót của con chim đêm. Ban đầu tôi nghĩ tới chuyện thêm vào đó những bóng tối, có lẽ thêm những bức tượng... nhưng tôi cho rằng như thế lại nhạt nhẽo hơn; cậu nghĩ sao? Mời các bạn đón đọc Bọn Làm Bạc Giả của tác giả André Gide.
Án Mạng Ở Công Viên Gorky
Ba vụ án mạng xảy ra tại trung tâm vui chơi giải trí Moscow : ba xác chết được tìm thấy đóng băng trong tuyết, tất cả các khuôn mặt và các ngón tay đều biến mất. Chánh thanh tra tổ án mạng Arkady Renho là một con người tài giỏi, nhạy cảm, trung thực và hoài nghi tất cả mọi thứ về nghề nghiệp của mình. Để xác minh danh tính của các nạn nhân và hé mở sự thật, anh phải chiến đấu với lực lượng cảnh sát của KGB, FBI và cả New York, giống như thực hiện một nhiệm vụ bất khả thi - và anh phải cố gắng sống sót để làm điều đó. Bộ sách Arkady Renko gồm có: Án Mạng Ở Công Viên Gorky (#1) Chó Sói Cắn Chó Nhà (#5) ... *** Martin Cruz Smith, tên khai sinh là Martin William Smith, sinh ngày 3 tháng 11 năm 1942, tại Reading, Pennsylvania, Mỹ. Ông tốt nghiệp trường Đại học Pennsylvania, Philadelphia năm 1964. Hiện tại, ông đang sống cùng gia đình ở San Rafael, California. Từ năm 1965 đến 1969, Martin trở thành phóng viên và chỉ bắt đầu viết tiểu thuyết hư cấu từ thập niên 70 với tác phẩm đầu tay, The Indians Won. Canto for a Gypsy, cuốn tiểu thuyết thứ ba trong sự nghiệp của ông và là cuốn thứ hai viết về nhân vật Roman Grey, một nhà môi giới nghệ thuật người Gypsy, đã được đề cử giải Edgar. Một tác phẩm khác cũng từng được đề cử giải Edgar, Nightwing (1977), được coi là tiểu thuyết đột phá của Martin và được chuyển thể thành bộ phim cùng tên vào năm 1979. Martin Cruz Smith nổi tiếng với series tiểu thuyết xoay quanh nhân vật trung tâm là chuyên gia điều tra người Nga, Arkady Renko, xuất hiện lần đầu trong tác phẩm Án mạng ở công viên Gorky (Gorky Park). Renko được biết đến như một điều tra viên cao cấp chuyên gắn liền với các vụ án giết người và luôn sẵn sàng phơi bày bản chất tham nhũng, bất lương trong bộ phận những nhân vật chủ chốt có tầm ảnh hưởng lớn cũng như được bảo vệ chặt chẽ của thời “Cải tổ”. Án mạng ở công viên Gorky đã được tạp chí New York Times đánh giá là “cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên của thập niên 80”, đồng thời trở thành cuốn sách bán chạy nhất và được Hiệp hội Nhà văn Trinh thám trao giải Gold Dagger. Trong suốt thập niên 90, Martin Cruz Smith đã hai lần được Hiệp hội các nhà văn viết truyện trinh thám quốc tế nhánh Bắc Mỹ trao tặng giải thưởng Dashiell Hammett, lần đầu vào năm 1996 với tác phẩm Rose và lần thứ hai với Havana Bay năm 1999. Năm 2004, Martin Cruz Smith xuất bản tác phẩm Wolves Eat Dogs, cuốn tiểu thuyết thứ năm trong series tám quyển về Arkady Renko. Tác phẩm đã được Bách Việt xuất bản vào quý III năm 2015, với tựa đề Chó sói cắn chó nhà. Tháng 9 năm 2010, sự trở lại của Martin và Arkady Renko đã đưa tác phẩm thứ bảy, Three Stations, lên vị trí đầu bảng trong danh sách tiểu thuyết bán chạy nhất của tạp chí New York Times. Bachviet Books *** Martin Cruz Smith sinh ngày 3 tháng 11 năm 1942 tại hoa Kỳ. Martin Cruz Smith xếp hạng nổi tiếng thứ 36200 trên thế giới và thứ 269 trong danh sách Tiểu thuyết gia nổi tiếng. Ông theo học tại Đại học Pennsylvania vào đầu những năm 1960, tốt nghiệp với bằng văn bản sáng tạo. Vào giữa những năm 1960, ông bắt đầu làm việc như một nhà báo; ông xuất bản tác phẩm văn học đầu tiên của mình, Người Ấn Độ Won, vào năm 1970. *** Matxcova chìm đắm trong sắc màu. Những ngọn đèn pha lờ mờ ở Quảng trường Đỏ hòa lẫn ánh đèn neon từ các sòng bạc trong Quảng trường Cách mạng. Ánh sáng len lỏi chui lên từ trung tâm thương mại dưới lòng đất ở Manezh. Ánh đèn rực rỡ bao quanh các tòa tháp bằng kính và đá hoa cương bóng loáng, trên đỉnh mỗi tòa là tháp hình chóp nhọn. Thị trưởng thành phố yêu thích những ngọn tháp. Dẫu những mái vòm mạ vàng vẫn thấp thoáng quanh Vành đai Garden*, nhưng hằng đêm máy xúc lại xé toạc thành phố già nua và đào những cái hố ngập tràn ánh sáng ngày càng rộng hơn để nhào nặn nên một Matxcova hiện đại, cao vút như Houston hay Dubai. Đó chính là Matxcova mà Pasha Ivanov đã góp phần xây dựng, một khung cảnh đang chuyển dịch của các mảng kiến tạo, dòng dung nham nóng rực và những sai lầm chết người. Điều tra viên cấp cao Arkady Renko ngó ra ngoài từ cửa sổ tầng mười nhìn xuống thi thể Pasha Ivanov đang nằm trên vỉa hè. Ivanov đã chết nhưng không quá đẫm máu, tay và chân gập lại trong tư thế quái dị. Hai chiếc Mercedes màu đen đỗ ở lề đường, một của Ivanov, và chiếc SUV còn lại dành cho các vệ sĩ của ông ta. Đôi khi Arkady nhận thấy, điểm chung của các doanh nhân thành đạt lẫn những ông trùm mafia ở Matxcova là đều sở hữu hai con Mercedes dòng SS-black của Đức. Ngoài các vệ sĩ từ chiếc xe hộ tống của Ivanov, thì lễ tân và nhân viên điều hành thang máy của tòa nhà cũng được trang bị vũ khí. Hành lang, thang máy dành cho khách, lối đi cho người phục vụ và mặt trước tòa nhà đều gắn máy quay. Pasha đã đến đây lúc 9:28 tối, lên thẳng căn hộ an toàn nhất Matxcova và vào lúc 9:48 thì lao thẳng xuống đường phố. Arkady đã đo khoảng cách từ điểm Ivanov chạm đất tới chân tòa nhà. Nếu là một vụ giết người thì khoảng cách đó thường gần hơn vì nạn nhân sẽ cố gắng vùng vẫy để không bị rơi. Còn nếu là tự tử thì điểm rơi sẽ có một đích đến duy nhất và cách xa hơn. Ivanov gần như đã chạm tới lòng đường. ... Mời các bạn đón đọc Án Mạng Ở Công Viên Gorky của tác giả Martin Cruz Smith.
Trái Tim Của Brutus
Trái tim của Brutus được nhà xuất bản Kobunsha xuất bản lần đầu năm 1989, và năm 2011 được chuyển thể thành phim truyền hình do diễn viên Fujiwara Tatsuya thủ vai chính. GIỚI THIỆU SÁCH: Suenaga Takuya đảm trách phát triển robot sử dụng trí thông minh nhân tạo ở công ty Công nghiệp nặng MM. Là một gã trai sáng giá, đầy hứa hẹn tương lai, y trở thành “ứng cử viên” chức hôn phu của Hoshiko – con gái út ông chủ. Vì thế, khi người tình Yasuko bắt đầu thai nghén đứa con của gã, Takuya hoang mang. Cùng với Naoki – anh trai cùng cha khác mẹ của Hoshiko, và Hashimoto – đồng nghiệp ở công ty, y quyết định vạch ra một kế hoạch giết người… Một cuộc “chạy tiếp sức” cho án mạng được bắt đầu hoàn hảo, nhưng cái kết lại nằm ngoài sức tưởng tượng của bất cứ ai. *** Suenaga Takuya là một kĩ sư triển vọng trong lĩnh vực phát triển người máy thông minh cho một doanh nghiệp sản xuất thiết bị công nghiệp cực thịnh. Hắn là một kẻ tham vọng, luôn tìm mọi cách để leo lên và đang nhắm tới vị thế con rể của Phó giám đốc công ty. Ai dè, mọi tính toán của hắn trật lất khi cô nhân tình mang thai và khăng khăng không định bỏ đứa trẻ. Takuya bị dồn vào thế bí, thận trọng suy tính và quyết định bày ra một kế hoạch giết người… Brutus là tên một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử La Mã. Ban đầu, ông ta thuộc phe đối địch với Julius Caesar nhưng về sau đã quy hàng và được Caesar trọng dụng. Có điều, cuối cùng ông lại chính là kẻ đã ám sát thành công Ceasar dẫn đến sự sụp đổ của Đế chế La Mã. Vậy trong câu truyện về trái tim kẻ phản bội này, Higashino Keigo muốn truyền thông điệp gì tới người đọc? *** Về tác giả: Higashino Keigo sinh năm 1958 tại Osaka, là nhà văn trinh thám hàng đầu hiện nay tại Nhật Bản. Năm 1985, Higashino Keigo giành được giải Edogawa Rampo lần thứ 31 cho tác phẩm trinh thám hay nhất với tiểu thuyết Giờ tan học. Các năm sau đó, Higashino Keigo liên tục được đề cử vô số giải thưởng văn học lớn. Năm 1999, ông đoạt giải Mystery Writers of Japan Inc với tiểu thuyết Bí mật của Naoko, và năm 2006, là giải Naoki lần thứ 134 cho Phía sau nghi can X. Các tác phẩm khác của Higashino Keigo đã được Nhã Nam phát hành: - Phía sau nghi can X - Bí mật của Naoko - Bạch dạ hành - Điều kỳ diệu ở tiệm tạp hóa Namiya - Hoa mộng ảo - Ảo dạ - Ma nữ của Laplace - Phương trình hạ chí - Sự cứu rỗi của Thánh nữ - Ma thuật bị cấm - Án mạng mười một chữ - Vụ án mạng ở lữ quán Kairotei *** Mở đầu Lúc băng ngang Naomi, không hiểu sao Takashima Yuuji cảm thấy có cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Anh đứng lại, ngước nhìn Naomi. Cô vẫn vô cảm như mọi khi, tiếp tục cử động cánh tay thon dài nhịp nhàng và chính xác đến ngỡ ngàng. Anh không nhận ra chút bất thường nào trong thao tác ấy. Tất cả đều như mọi ngày. Yuuji đưa mắt nhìn sang Haruko đứng cạnh Naomi. Haruko đảm nhiệm công đoạn trước Naomi, lắp ghép và hàn các chi tiết. Còn Naomi thực hiện lắp ghép hoàn thiện. Rời khỏi vị trí của Naomi và Haruko, Yuuji trở lại lối đi, bắt đầu tiến trình thường nhật. Bên trong xưởng tối âm u. Nhưng thực ra có tối cũng chẳng sao. Không ảnh hưởng gì đến công việc của các cô gái cả. Như đêm nay, bởi anh ở đây nên mới có chút ánh đèn le lói. Vì Yuuji sẽ chẳng thể đi lại nếu không có đèn. Anh tiến vài mét rồi dừng bước, kiểm tra công việc của các đồng nghiệp luôn im lặng dọc hai bên lối đi. Lúc này là 3 giờ sáng. Tại xưởng lắp ráp số 3 này, 30 con rôbốt đang hoạt động. Chúng không cần nghỉ ngơi hay ăn uống gì mà vẫn có thể làm việc suốt 24 giờ. Tính cả Yuuji thì chỉ có hai con người làm việc ở xưởng này. Thế nhưng anh không hề gặp cộng sự của mình trong giờ làm. Bởi nếu người này làm ca ngày, người còn lại sẽ làm ca đêm. Do vậy, thẻ chấm công của cả hai hầu như không có con số nào trùng lặp. Yuuji phải trải qua đêm dài chỉ có 30 con rôbốt vô cảm bầu bạn. Khi trời sáng, anh sẽ thay ca với cộng sự còn lại. Hai người chỉ gặp nhau tại thời điểm đó. Nhưng thật ra họ cũng không giáp mặt nhau nhiều. Bởi lẽ, khi giao ca cũng chỉ cần nhập liệu vào máy tính là được rồi. Sau khi kết thúc công việc, Yuuji sẽ thay đồ rồi về ký túc xá dành cho nhân viên độc thân, ăn một suất ăn dở tệ ở căng tin dành cho người làm ca đêm, chui vào bồn tắm, xem cuộn băng đã hẹn giờ ghi hình rồi đi ngủ. Đến khi tỉnh dậy thì trời đã xế chiều. Sau đấy lại là một bữa ăn dở tệ và ca trực khác. Trong xưởng, 30 con rôbốt sẽ vẫn vận hành theo đúng nhịp điệu mọi ngày, thực hiện công việc y hệt đêm trước. Anh sẽ tiếp tục giám sát chúng, sửa chữa hỏng hóc và cung cấp linh kiện. Điều này sẽ tiếp diễn trong hai tuần. Sau đó, anh sẽ làm ca ngày hai tuần rồi lại phải đổi sang ca đêm. Yuuji đã sống như vậy hơn một năm nay. Mình chịu hết nổi rồi! Yuuji ngước nhìn con rôbốt hàn cỡ lớn, thì thầm. Tính tới đêm nay, anh đã làm ca đêm được mười ngày rồi. Anh muốn nói chuyện với ai đó, muốn được tiếp xúc với con người. Yuuji lại nhớ tới bạn gái mình. Cô có mái tóc dài, khuôn mặt làm người ta liên tưởng tới mấy con búp bê Nhật. Hầu như Chủ nhật nào hai người cũng hẹn hò. Bản thân anh tương đối ít nói, và bạn gái anh cũng thuộc diện kiệm lời so với những cô gái trẻ khác. Dẫu vậy, những lúc ở cạnh cô, anh thấy tinh thần mình hồi phục. Tình cảm ấy tiếp thêm động lực để anh tiếp tục cố gắng một tuần nữa. Tuy nhiên, mấy Chủ nhật gần đây hai người không thể gặp nhau. Bạn gái anh luôn có việc bận không tránh được. Chẳng biết làm gì khác, anh dạo phố một mình, mua sắm linh tinh rồi quay về. Điều này cũng làm tâm trí thảnh thơi đôi chút, nhưng không sánh bằng việc hẹn hò với bạn gái. Đã hai tuần chưa gặp cô, Yuuji thấy bồn chồn không yên. Anh đang phải làm ca đêm nên cũng không gọi điện được. Yuuji tự nhủ, sau khi kết hôn sẽ xin chuyển sang bộ phận khác bằng bất cứ giá nào. Anh vẫn chưa giới thiệu bạn gái với cha mẹ, nhưng đã quyết định cưới cô. Như vậy hai người sẽ được bên nhau hằng ngày. Nhưng nếu cứ làm công việc hiện tại thì mong ước đó khó thành hiện thực. Cả hai đều định đi làm, nếu cứ thế này, mỗi hai tuần sinh hoạt của họ sẽ bị lệch. Nhưng dù có chuyển sang bộ phận khác đi nữa, công việc của Yuuji thường phải làm theo ca, nên có lẽ sẽ không tránh được những buổi làm đêm. Nhưng vậy cũng tốt hơn hiện giờ. Ít ra anh còn được làm chung với những con người bằng xương bằng thịt. Đối với Yuuji, thế đã đủ hấp dẫn lắm rồi. Thu nhập có giảm một chút cũng được. “Không rõ nhân tài nào đã bày ra trò này, nhưng cũng phải nghĩ đến hoàn cảnh của tôi chứ!” Đứng nhìn hàng dài rôbốt đang làm việc, Yuuji tặc lưỡi. Đúng lúc đó, Yuuji nghe thấy tiếng còi báo động vang lên từ hướng anh vừa đi qua. Không cần nhìn đèn nhấp nháy, anh đã cất bước về phía rôbốt phát ra tín hiệu. Chỉ cần chút khác biệt trong âm thanh, Yuuji có thể biết ngay là con rôbốt nào. Hơn nữa, chi có vài đối tượng quen thuộc là hay gặp sự cố như vậy. “Quả đúng là mày à.” Anh nhìn Haruko, càu nhàu. Haruko đã dừng hoạt động trong khi rút linh kiện từ thiết bị cung cấp. Tuy nhiên, lỗi không nằm ở rôbốt Haruko mà ở thiết bị cung cấp linh kiện. Do phương thức sản xuất đa dạng sản phẩm với số lượng nhỏ1, thiết bị này nhả ra nhiều linh kiện có kích cỡ khác nhau. Vì vậy máy cũng hay bị nghẹt như thế. Thiết bị cung cấp linh kiện nằm giữa Haruko và Naomi. Yuuji nhòm vào kiểm tra, quả nhiên là linh kiện bị lệch làm máy nghẹt. Anh cố gỡ ra, nhưng mãi không được. “Khỉ thật!” Yuuji ngẩng lên, nhìn sang Haruko và thì thầm. Đúng lúc đó, Yuuji thấy cái bóng của Naomi đang bắt đầu cử động, hắt xuống thân máy của Haruko. Anh không kịp ngoái đầu lại hay hét lên. Khi anh định chạy trốn, cánh tay bằng thép thon dài của Naomi đập mạnh vào đầu anh, vốn chỉ đang đội mũ đồng phục. Yuuji mất ý thức trong giây lát, gục xuống mặt bàn trước con robot. Naomi đổ sập xuống cơ thể anh. Yuuji rên rỉ yếu ớt, sau đó tiếng rên tắt đi. Vài giây sau, Naomi bắt đầu phát còi báo động. Tuy nhiên không có ai lao đến. Sự việc xảy ra vào 3 giờ khuya. Ngoài Naomi và Haruko, những con rôbốt khác vẫn làm việc miệt mài. Phải một lúc sau, những cỗ máy đã mất người quản lý ấy mới báo còi ầm ĩ vì đủ loại hỏng hóc. Mời bạn đón đọc Trái Tim Của Brutus của tác giả Higashino Keigo & Nguyễn Quang Phương (dịch).
X.30 Phá Lưới
Trong các tác phẩm của nhà văn Đặng Thanh, nổi bật nhất là tiểu thuyết “X 30 phá lưới”. Tác phẩm này được viết ở miền Bắc nhưng năm 1975 mới in trên Báo Sài Gòn Giải Phóng, sau in thành sách. Lúc đó nhà văn Đặng Thanh đang làm bên Tòa án nhân dân TP HCM. Vào thời đó, đất nước mới giải phóng, trên thế giới vẫn còn hai phe Xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô và Tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mỹ, những tác phẩm văn học còn ít, đặc biệt truyện tình báo, phản gián rất thiếu. Từ đó, truyện này  khi xuất bản trong nước đã gây sốt trên văn đàn. Sau đó, tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng và nhiều nước xuất bản: Nga, Bungari, Nhật, Mỹ… Khi biết tin một nhà xuất bản ở Nhật in tác phẩm này, một người quen của nhà văn Đặng Thanh đã kiện ông, đòi quyền tác giả và nhuận bút. Theo lời kể của ông Tuấn Phương và vợ chồng ông Tuấn Dũng, lai lịch của chuyện này như sau: Khi bắt đầu viết “X 30 phá lưới” thì gia đình ông Thanh còn ở miền Bắc, do bận rộn nên ông Thanh nhờ một người thầy giáo dạy Văn sửa giùm lỗi chính tả trong bản thảo. Vì cũng bận nên người thầy giáo này lại nhờ một đồng nghiệp cũng dạy Văn làm giùm. Khi truyện in trên báo thì không thấy người này lên tiếng đòi hỏi quyền lợi, nhưng khi nghe tin một nhà xuất bản ở Nhật in tác phẩm này, thì người thầy giáo sửa giùm bản thảo kia kiện ra tòa đòi tác quyền và nhuận bút. Tại tòa, ông này không trưng ra được bằng chứng gì chứng minh mình là tác giả. Ngược lại, nhà văn Đặng Thanh đã trưng ra nhiều bằng chứng thể hiện mình là tác giả. Đối chiếu các bằng chứng và xét lai lịch của hai người, tòa án kết luận ông Đặng Thanh là tác giả của “X 30 phá lưới” vì chỉ có những người làm trong ngành tình báo hoặc có tư liệu về nó mới am tường mà viết ra được những truyện về tình báo. Trong khi đó, ông thầy giáo kia chỉ là một giáo viên dạy Văn, không thể có tư liệu, vốn sống và sự hiểu biết, trải nghiệm như ông Đặng Thanh. Tuy nhiên, tòa cũng tuyên nhà văn Đặng Thanh phải viết lời cảm ơn cho người thầy giáo kia. “Chuyện đó thì không phải đến lúc tòa tuyên, bố tôi mới làm. Khi xuất bản, ngay trang đầu, ông đã viết lời cảm ơn nhiều người, trong đó có người thầy giáo kia”, ông Tuấn Phương chia sẻ. Mấy chục năm trôi qua, những tác phẩm của ông vẫn được tái bản, làm say mê hàng triệu độc giả. Đọc truyện của ông để hiểu thêm và tự hào về lịch sử, trí tuệ của dân tộc Việt Nam. *** Nhà văn Đặng Thanh nổi tiếng trên văn đàn thập niên 70 - 80 thế kỷ trước với những tiểu thuyết tình báo, phản gián, trong đó nổi bật nhất là cuốn “X 30 phá lưới” nói về nhà tình báo Phan Thúc Định. Tác phẩm này từng được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản tại: Nga, Mỹ, Nhật, Bungari... Cũng vì sự nổi tiếng đó mà ông dính vào chuyện kiện cáo lôi thôi. Những người sinh vào thập niên 70 trở về trước và sống ở miền Bắc, miền Trung hẳn không lạ gì với “X 30 phá lưới” của nhà văn Đặng Thanh. Trong trí nhớ của tôi, lúc đó còn là một đứa trẻ 9-10 tuổi sống ở miền quê nghèo Hà Tĩnh, những người trong xóm chuyền tay nhau đọc tác phẩm này đến quăn queo. Chúng tôi say mê theo nhân vật Phan Thúc Định với những tình tiết ly kỳ trong hành trình xâm nhập vào cơ quan đầu não của chính quyền họ Ngô. Ngưỡng mộ nhà văn và nhân vật của ông, không ngờ mấy chục năm sau, tôi lại có cơ duyên được “gặp lại” ông và nhân vật X 30. *** Tháng 8 năm 1945, Ngô Đình Diệm bị bắt tại Đức Phổ (Quảng Ngãi) khi hắn trên con đường chạy trốn. Vì có nhiều nợ máu đối với Cách mạng trong thời kỳ là tri phủ Tuy An, quản đạo Ninh Thuận và tuần vũ Khánh Hoà, Uỷ ban khởi nghĩa địa phương chuẩn bị đưa hắn ra xét xử trước Tòa án Nhân dân. Nhưng có lệnh giải hắn ra Bắc… Chính quyền nhân dân lúc bấy giờ mới thành lập. Với chính sách đại lượng khoan hồng, Hồ Chủ Tịch không những đã ban ơn tha tội chết cho hắn, lại còn cho phép hắn được ở thủ đô, đãi ngộ hắn như khách, cho hắn được tự do đi lại, rồi sau đó, được vào ở hẳn trong một nhà thờ Thiên chúa giáo ở phố Hàng Bột theo sự thỉnh cầu của hắn. Tuy biết hắn là một tên tráo trở, đã từng làm tay sai đắc lực cho Pháp, bị Phạm Quỳnh hất cẳng thì chạy theo liếm gót Nhật, đến khi Nhật đầu hàng đồng minh thì lại tìm cách quay về với chủ Pháp, Cách mạng vẫn mở rộng cửa với hắn, tạo điều kiện cho hắn trở về với con đường của dân tộc. Thế nhưng, sau khi được vào ở trong nhà thờ, Diệm đã thông qua một cha cố Pháp để bắt liên lạc với tướng Lơ-cờ-léc (Leclerc) chỉ huy quân đội Pháp, đóng ở trong thành. Tướng Leclerc đã lệnh cho Phòng Nhì Pháp giải thoát Diệm. Phòng Nhì Pháp đã giao việc thực hiện cho một người giúp việc bí mật của chúng là Phan Thúc Định – con của tuần vũ Phan Thúc Ngân, bạn thân của Diệm – đưa hắn vào thành, rồi bằng phương tiện của quân đội, Pháp bí mật đưa Diệm sang Hồng Kông. Từ đó, Diệm về Sài Gòn, sang Paris. Tuy ra tay cứu Diệm nhưng không tin Diệm bằng những tên tay sai khác, nên hắn không có vai vế gì trong chính phủ bù nhìn do Pháp dựng nên. “Sau bao năm từng lê gót nơi quê người”, như sau này hắn đã phô trương, Diệm tìm đường sang Tô-ky-ô (Tokyo), nói là đi thăm Kỳ - ngoại hầu Cường Để, nhưng thực ra, hắn chủ tâm đi tìm chủ mới. Tháng 2 năm 1950, một người Mỹ tên là Phi-sin (1) đến gặp hắn tại khách sạn Đại Đông Á, đưa cho Diệm bức thử của Hồng Y Giáo chủ Spen-man (2), mời Diệm sang Mỹ. Kèm theo bức thư, Phi-sin đã đưa cho Diệm một ngân phiếu mười vạn đôla lãnh tại ngân hàng Tô-ky-ô. Năm 1951, Diệm sang Mỹ được Hồng Y Giáo chủ Spen-man nhận làm con đỡ đầu và cho ở tại chủng viện Ma-ry Nôn (3). Hai năm sau, CIA đưa vào học trường đại học Michigan (Mi-sit-găng). Lúc này hắn vừa tròn 53 tuổi. Tại đây, câu chuyện bắt đầu…   Mời các bạn đón đọc X.30 Phá Lưới của tác giả Đặng Thanh.