Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Pippi Tất Dài (Astrid Lindgren)

Astrid Lindgren (1907-2002), tượng đài văn học của Thụy Điển trong thế kỷ XX, nổi tiếng nhất với các tác phẩm thiếu nhi được yêu thích khắp châu Âu và thế giới. Các tác phẩm của bà được dịch ra 85 thứ tiếng và xuất bản tại hơn 100 quốc gia.

Astrid Lindgren đã tạo nên một nhân vật độc đáo và đáng yêu, nhân vật đã truyền cảm hứng cho nhiều lớp trẻ con muốn trở thành Pippi. Hơn bất cứ điều gì, Pippi biến việc đọc trở thành niềm vui thích, chẳng đứa trẻ nào sẵn sàng đón nhận phần kết câu chuyện và nhiều đứa cứ đọc đi đọc lại Pippi Tất dài. Đơn giản bởi Pippi là điều không thể cưỡng lại.

- Amazon.com -

Pippi Tất dài là tên nhân vật chính, đồng thời là tên tác phẩm nổi tiếng viết cho thiếu nhi của nhà văn Thụy Điển Astrid Lindgren. Câu chuyện kể về cô bé kỳ lạ mặt đầy tàn nhang, chưa bao giờ đi học và khoẻ đến nỗi nhấc được cả một con ngựa này đã được xuất bản tại hơn 90 nước và bảy lần dựng thành phim tại các quốc gia khác nhau. Trở thành một trong những nhân vật kinh điển được yêu quý nhất của văn học thiếu nhi Châu Âu và thế giới.

Người ta thường hỏi Astrid Lindgren, bà đã đến với Pippi Tất dài như thế nào. Bà trả lời rằng: “Năm 1941, Karin, con gái bảy tuổi của tôi, mắc chứng viêm phổi. Mỗi buổi tối khi tôi ngồi bên giường, con bé đều nằn nì: ‘mẹ kể một câu chuyện đi mẹ,’ và rồi một buổi tối nọ, sau khi đã cạn sạch vốn, tôi hỏi lại Karin: ‘Mẹ kể gì bây giờ cho con nhỉ?’ và con bé liền bảo: ‘Kể về bạn Pippi Tất dài!’ Karin đã bật ra cái tên cô bé ngay tại đó, ngay lúc đó. Còn tôi, tôi đã không hỏi Pippi Tất dài là ai, tôi cứ thế bắt đầu câu chuyện, từ một cái tên lạ lùng để rồi trở thành một cô bé cũng thật lạ lùng. Karin, và sau đó là các bạn của con bé, đã trở nên mê tít Pippi, cho nên tôi cứ phải kể đi kể lại câu chuyện đó.” Tìm mua: Pippi Tất Dài TiKi Lazada Shopee

“Một ngày tháng Ba năm 1944, tôi bị ngã, bị bong gân mắt cá chân. Để giết thời gian trong khi bình phục, tôi bắt đầu ghi lại những câu chuyện về Pippi dưới dạng tốc ký. Hai tháng nữa sẽ là sinh nhật lần thứ mười của Karin, tôi định viết lại truyện Pippi và tặng con gái bản thảo làm quà sinh nhật… Và rồi tôi quyết định gửi câu chuyện tới một nhà xuất bản… Tôi vẫn nhớ mình đã kết lại bức thư gửi kèm như sau: ‘Tôi hy vọng quý nhà xuất bản không thông báo cho Uỷ ban Chăm sóc Trẻ em, bởi tôi cũng có hai đứa con và mẹ nào lại đi viết những cuốn sách như thế chứ!”

Nhà xuất bản đó đã từ chối bản thảo, nhưng hai năm sau, khi một nhà xuất bản khác tổ chức cuộc thi về sách dành cho các bé gái, Lindgren gửi Pippi Tất dài và giành Giải Nhất, cùng một bản hợp đồng.

Mặc dù Pippi Tất dài (nguyên văn tiếng Thụy Điển là Pippi Langstrump) ngay lập tức trở nên nổi tiếng tại Thụy Điển, tác phẩm đã gây ra nhiều tranh cãi. Các nhân vật nữ trong hầu hết truyện thiếu nhi đương thời đều dịu dàng, ngọt ngào và lịch lãm, còn Pippi, tất nhiên chẳng có điểm nào chung trong những nét tính cách ấy. Báo chí đã đặt câu hỏi về mỹ cảm của ban giám khảo khi trao giải cho một cuốn sách như thế. Một vài vị phụ huynh thậm chí còn viết thư cho ban biên tập để phàn nàn về lối ứng xử của Pippi.

Nhưng Pippi đã trở nên nổi tiếng đến mức thu hút cả sự chú ý của các nhà xuất bản nước ngoài. Tại Mỹ Pippi Tất dài được xuất bản lần đầu năm 1950 bởi The Viking Press, là điều khiến tác giả của Pippi bật cười, bởi nhà xuất bản này được đặt tên theo vùng Scandinavi xa xưa! Ở Mỹ, Pippi Tất dài khởi động khá chậm, từ năm 1951, và May Massee, biên tập viên người Mỹ của cuốn sách đã từng viết cho Lindgren rằng: “Không có vẻ gì chứng tỏ Pippi sẽ gặt được thành công vang dội tại đây như đã từng ở Thụy Điển.”

Vậy mà ai biết được rằng sau đó, Pippi sẽ chứng tỏ mình là một trong những nhân vật văn học thiếu nhi có được thành công lâu bền nhất, với ba bộ phim truyện, cũng như được dịch ra hơn năm mươi ngôn ngữ cùng hơn sáu triệu bản được bán riêng tại Mỹ.

Điều gì ở Pippi Tất dài khiến cô bé trở nên nổi tiếng như vậy? Pippi là một nữ nhân vật của văn học thiếu nhi không giống với bất kỳ ai khác. Cô bé sống đúng như điều một đứa trẻ có thể lựa chọn trong thế giới kỳ diệu do chính mình tưởng tượng ra. Chẳng có bố mẹ để ngăn cấm bất cứ điều gì ta thích làm, vì mẹ cô bé là một thiên thần đang trìu mến dõi theo Pippi từ trên thiên đàng, và bố Pippi là ông vua của một hòn đảo ở Biển Nam. Pippi có một vali đầy ắp những đồng tiền vàng và một tủ com-mốt tích trữ cả kho đồ chơi dường như vô tận. Cô bé luôn có thể hạ đo ván người lớn ngay trong những trò chơi của chính họ. Khi cô giáo hỏi: “Em có muốn khi lớn lên sẽ trở thành một quý bà thanh lịch không?” Pippi liền đáp: “Chị muốn nói một bà đeo chàng mạng trước mũi và cằm sệ ba ngấn ấy ạ?”

Dường như để nhấn mạnh một điều, rằng Pippi hiện thân cho tưởng tượng của trẻ thơ về một cuộc sống ao ước, Lindgren thường nói: “Đó chính là thời thơ ấu mà tôi khát khao trở lại… Và nếu mạo muội nhắc tới cảm hứng, tôi phải nói rằng chính ở đó, thời thơ ấu của tôi, là nơi tôi có được nhiều động lực sau này sẽ xuất hiện trong những câu chuyện của mình.”

Astrid Lindgren sinh năm 1907 trong một ngôi nhà cổ màu đỏ, bao quanh bởi những cây táo, trong một trang trại rộng lớn tên là Nas gần thành phố nhỏ Vimmerby, Thụy Điển. Bà kể: “Có một cây táo đặc biệt bên ngoài ngôi nhà của chúng tôi - chúng tôi thường dậy từ sớm và là những người đầu tiên ra ngoài để chén bất cứ quả táo nào rụng xuống từ cái cây trong đêm. Rồi còn có một “cây cú”, là nơi bọn cú làm tổ nhưng trở thành cái cây leo trèo của chúng tôi trong suốt cả ngày. Đó là một cây dại, giống như cái cây của Pippi, nhưng là cây đu chứ không phải cây sồi như trong truyện Pippi. Chúng tôi yêu quý cái cây ấy. Một lần anh tôi đặt quả trứng gà vào tổ cú, và cú ta ấp ra một chú gà con cho anh.” (Về sau, Lindgren để một nhân vật làm chuyện này trong cuốn Bọn trẻ của ngôi làng ầm ĩ). Cái cây của bà vẫn còn đó, dù giờ đây nó đã già cỗi và xác xơ.

Một tiểu sử ngắn ngủi không thể đủ soi sáng cuộc đời phong phú muôn màu của Lindgren. Sau khi học xong trường làng, bà chuyển tới Stockholm kiếm sống bằng nghề thư ký - mỗi cuốn sách của bà đều được viết ra trước tiên dưới dạng tốc ký. Làm vợ rồi làm mẹ của hai đứa con, Lars và Karin, đó cũng là quãng thời gian Lindgren đảm nhiệm công việc phân loại hồ sơ cho chính phủ Thụy Điển sau Thế chiến thứ II. Sau khi xuất bản một vài cuốn sách đầu tiên, bà trở thành độc giả và dịch giả cho nhà xuất bản của mình: Ab Rabén và Sjogren. Trong số nhiều tựa sách khác nhau, bà có công mangHoàng tử bồ câu của Robert McCloskey và Charlotte và Wilbur của E.B. White tới cho độc giả Thụy Điển.

Trở thành nhà văn thiếu nhi là con đường dễ hiểu với Lindgren, nhưng ngoài ra, bà còn là một nhà hoạt động vì sự tiến bộ xã hội ngay trên quê hương mình. Thời thơ ấu điền viên, cuộc sống tự do mà bà được hưởng cùng sợi dây gắn bó với tạo vật đã có ảnh hưởng sâu sắc tới quan điểm chính trị của bà. Năm 1976, bà viết một bài báo về tình trạng thuế má cao, trong đó có kể lại chi tiết câu chuyện một người đàn ông bần cùng vì thuế khoá phải đi ăn xin. Khi chính phủ thất bại trong cuộc bầu cử năm đó, Astrid Lindgren được ghi nhận đã góp phần vào sự sụp đổ ấy và giúp đem lại mức thuế thấp hơn cho người dân Thụy Điển. Có bao nhiêu phần của chính Lindgren trong cô bé Pippi Tất dài? Chúng ta còn nhớ những gì Pippi đã nói: “Người lớn chẳng bao giờ có được chút gì vui vẻ. Họ chỉ có vô khối những công việc tẻ nhạt, những bộ quần áo ngốc nghếch, những bắp ngô và cả đống thuế má của chính phủ.”

Vào dịp sinh nhật lần thứ tám mươi của mình, Astrid Lindgren được Thủ tướng Thụy Điển, Đại sứ Mỹ, Đại sứ Liên Xô tới thăm. Nhưng với bà, điều có ý nghĩa hơn mọi sự tôn vinh, đó là thông tin mà ngài Thủ tướng lúc đó mang tới: Chính phủ sẽ ban hành một đạo luật bảo vệ động vật mới của Thụy Điển, đạo luật được biết đến rộng rãi với cái tên “Lex Lindgren” (Luật của Lindgren). Luật đó viết rằng: “Gà phải được thả khỏi những lồng cũi chật hẹp, bò phải được ra bãi cỏ và lợn nái không bị nhốt lại.”

Chiến dịch này được dấy lên từ một bài báo Lindgren từng viết về một con bò cái phải chạy hơn sáu dặm để tìm bò đực. Sau đó, Lindgren trở thành người cộng tác trong loạt bài về hiện tượng ngược đãi vật nuôi, và sự phản ứng dữ dội của công luận đã khiến Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Thụy Điển phải nhượng bộ. Như Lindgren từng nói: “Trong cuộc sống có đôi điều người ta không thể mua được bằng tiền, đó là niềm kính ngưỡng sự sống.”

Niềm kính ngưỡng dành cho sự sống, thiên nhiên, thơ ấu và tự do quý giá đã làm nên nền tảng cho các tác phẩm của bà. Bà đã từng nói: “Tôi đâu có viết sách cho thiếu nhi. Tôi viết cho chính đứa trẻ trong tôi. Tôi viết về những gì thân thương đối với tôi: cây cối, nhà cửa, thiên nhiên, chỉ để làm vui lòng chính tôi mà thôi.”

Một lần, khi một người phỏng vấn bà bình luận rằng dường như cô bé Pippi Tất dài có ở khắp mọi nơi, Astrid Lindgren đã đáp lại rằng: “Có thể, cô bé đang đợi ai đó tình cờ bắt gặp và cất bút về mình mà thôi.”

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Pippi Tất Dài PDF của tác giả Astrid Lindgren nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Gỗ Mun (Ryszard Kapuściński)
Trước hết là cái nhìn: Ryszard Kapuściński. Đó là một cái nhìn luôn luôn độc đáo và thấu suốt, cho dù đối tượng sự quan sát của ông có là gì, và cho dù không mấy khi ông thích phân tích dài dòng. Nhất là khi đối tượng ấy là châu Phi, một lục địa dường như rất hợp với tâm tính ông, thì Kapuściński nhìn thấy cả những gì sâu xa, nhỏ bé nhất của nơi đây. Và sau đó là cách chạm vào châu Phi: thông qua sự mô tả cuộc đối đầu nghẹt thở với một con rắn, Kapuściński làm sống lại sự rung động của tâm hồn cả một châu lục, trong đó có sự mãnh liệt và có hiểm nguy tàn khốc. Rồi tất nhiên ta phải nói đến một tài năng văn chương hiếm thấy, hiện ra tràn ngập những trang viết của thông tín viên Ba Lan kiệt xuất này. Tất cả cộng lại để tạo nên một Gỗ Mun như tác phẩm không thể không nhắc tới về châu Phi thế kỷ XX.***Lời khen tặng dành cho Gỗ Mun: “Giống như Gabriel García Márquez là ông hoàng đen vĩ đại của tiểu thuyết hiện đại, Kapuściński là vị phù thủy kiệt xuất của phóng sự.”- John Le Carré “Ryszard Kapuściński là một ví dụ hiếm hoi trong nền văn hóa của chúng ta về một nhà văn người-Ba-Lan-toàn-cầu. Ông, một công dân thế giới, luôn luôn chống lại việc dựng lên các rào ngăn đối với Người Khác, đóng sập cửa trước mặt họ. Dường như ông muốn nói: bài ngoại là căn bệnh của những kẻ khiếp nhược, bị mặc cảm về sự thấp hèn hành hạ, sợ hãi ý nghĩ đến lượt họ sẽ phải soi mình trong văn hóa của Người Khác.”- Adam Michnik Tìm mua: Gỗ Mun TiKi Lazada Shopee “Chúng ta đang sống trong một thế kỷ nhiều thách đố nhất trong lịch sử thế giới, bản chất thực của nó còn là một bí ẩn tối tăm. Chúng ta rất cần những nhà giải mã như Ryszard Kapuściński.”- Salman Rushdie “Tôi nghĩ đến những cuốn sách ông đã viết với lòng biết ơn sâu sắc, và nghĩ đến những cuốn sách ông còn chưa kịp viết với nỗi buồn sâu sắc. Một nhà văn lớn, một con người cao quý, một người lữ hành không mệt mỏi qua thế giới đầy quyến rũ nhưng mãi luôn luôn bất an của chúng ta.- Wisława Szymborska “Tôi không biết bất cứ ai có viết với sự thấu cảm đến thế về Thế giới Thứ ba. Mỗi lần được tin giải Nobel được trao cho một người khác, tôi lại cảm thấy thất vọng. Tôi luôn luôn chắc chắn rằng Kapuściński sẽ nhận được giải thưởng này.”- Tomas Venclova “Ryszard Kapuściński đã viết một tác phẩm để đời: cuốn sách về châu Phi với nhan đề Gỗ Mun. Cuốn sách của Kapuściński đặt chúng ta trước nhiều câu hỏi. Đó là những câu hỏi cốt yếu. Cuộc sống là gì, ý nghĩa của nó, đạo đức, tội ác, lòng kiêu hãnh và khiêm nhường, sự phản kháng hay chấp nhận số phận? Chúng ta vẫn luôn đặt ra những câu hỏi ấy trong văn hóa của mình, nhưng những lời giải đáp và phản ứng của chúng ta lại hoàn toàn khác.”- Helena Zaworska “Không trực tiếp, nhưng rất rõ ràng, Kapuściński luận chiến với hai lối nghĩ dĩ Âu vi trung rập khuôn về châu Phi: với khuôn mẫu khiến người ta nhìn châu Phi như một châu lục của những người man rợ thấp kém hơn về văn hóa, khó hiểu (vì chẳng đáng được hiểu); và với huyền thoại hậu thực dân đầy cảm tính (dù chỉ như trong Xa mãi Phi châu của Karen Blixen) nhìn thấy ở châu Phi thiên đường đã mất.”- Piotr Bratkowski***Trước hết là ánh sáng đập vào mắt. Khắp nơi là ánh sáng. Khắp nơi chói lòa. Khắp nơi là nắng. Mới ngày hôm qua, London mùa thu lướt thướt nước mưa. Máy bay lướt thướt nước mưa. Gió lạnh và âm u. Còn ở đây, từ sáng sớm cả sân bay ngập trong nắng, tất cả chúng tôi ngập trong nắng. Thời trước, khi người ta đi bộ du hành qua thế giới, cưỡi ngựa hay đi thuyền, cuộc hành trình làm họ thích nghi dần với các thay đổi. Các hình ảnh của trái đất từ từ trôi qua trước mắt họ, sân khấu của thế giới quay chầm chậm từng chút một. Hành trình kéo dài hàng tuần, hàng tháng. Con người có thời gian để thích nghi với môi trường khác, với quang cảnh mới. Khí hậu cũng thay đổi từng bước, qua các giai đoạn. Trước khi một người du hành từ châu Âu lạnh lẽo đến được xích đạo nóng bỏng, anh ta đã trải qua cái ấm áp dễ chịu của Las Palmas, cái nóng nực của Al-Mahara và địa ngục Quần đảo Cape Verde. Ngày nay, những giai đoạn ấy chẳng còn lại chút gì. Máy bay đột ngột bứt chúng ta ra khỏi tuyết và băng giá rồi ngay ngày hôm đó ném ta vào vạc dầu nhiệt đới nóng rực. Đột nhiên, chỉ vừa mới dụi mắt là ta đã ở trong địa ngục ẩm ướt. Ta bắt đầu đổ mồ hôi ngay. Nếu bay đến từ châu Âu mùa đông, ta quăng bỏ áo choàng, cởi áo len. Đó là hành động đầu tiên của chúng ta, người phương Bắc, khi đến châu Phi. Người phương Bắc. Có bao giờ ta từng nghĩ rằng người phương Bắc chỉ chiếm một phần rất nhỏ trên hành tinh này? Người Canada và Ba Lan, người Litva và bán đảo Scandinavia, một bộ phận người Mỹ và Đức, người Nga và Scotland, người Sami[1] và Eskimo, người Evenki và Yakut, danh sách cũng không dài lắm. Tôi không rõ tổng cộng nó có nhiều hơn năm trăm triệu người - chưa đến 10% cư dân trái đất - hay không. Ngược lại, một phần rất lớn sống trong ấm áp, cả đời được sưởi nắng. Vả lại, con người được sinh ra trong ánh nắng, những dấu vết cổ xưa nhất của con người được tìm thấy ở các xứ sở ấm áp. Thiên đường trong Kinh Thánh có khí hậu thế nào? Ở đó ấm áp vĩnh cửu, nóng nực là đằng khác, đến nỗi Eva và Adam có thể trần truồng và không cảm thấy lạnh ngay cả trong bóng cây. Ngay ở cầu thang máy bay ta đã gặp một điều mới mẻ khác: mùi nhiệt đới. Điều mới mẻ? Nhưng đó chính là mùi hương ngập tràn trong cửa tiệm nhỏ của ông Kanzman “Hàng hóa từ thuộc địa và các loại khác” trên phố Pereca ở Pinsk[2] đấy mà! Quả hạnh, đinh hương, chà là, ca cao. Va ni, lá nguyệt quế; cam và chuối bán quả, bạch đậu khấu và nghệ bán cân. Còn Drohobych thì sao? Những cửa hàng quế của Schulz[3] thì sao? Chính là “những đồ vật sẫm màu và trang trọng được chiếu sáng lờ mờ, thơm nồng mùi của màu, sơn, nhang, đẫm hương của các xứ sở xa xôi và những chất liệu quý hiếm”! Tuy vậy, mùi nhiệt đới có khác một chút. Ta nhanh chóng nhận ra sức nặng của nó, sự nhớp nháp của nó. Thứ mùi này cho ta biết ngay rằng ta đang ở một điểm trên trái đất nơi giới thực vật rậm rạp và không mệt mỏi luôn liên tục hoạt động, sinh sôi, lan tràn và nở hoa, song đồng thời cũng đang tật bệnh, bị đốn ngã, sâu ruỗng và héo rụi. Đó là mùi của những tấm thân được sưởi nóng và cá khô, của thịt ôi và sắn nướng, của hoa tươi và tảo rữa, tóm lại là mùi của tất cả những thứ đồng thời vừa dễ chịu vừa khó chịu, vừa lôi cuốn vừa đáng ghét, những thứ cám dỗ hoặc làm người ta ghê tởm. Thứ mùi này bay đến với chúng ta từ những rừng cọ không xa, thoát ra từ mặt đất nóng ran, bốc lên trên những rãnh nước mốc meo của thành phố. Nó không rời chúng ta, nó là một phần của miền nhiệt đới. Và cuối cùng là khám phá quan trọng nhất - con người. Những người ở đây, dân bản xứ. Họ mới hợp với phong cảnh, ánh sáng và thứ mùi này làm sao! Dường như họ tạo thành một tổng thể. Dường như con người và cảnh vật không tách rời nhau, bổ sung cho nhau, là một bản sắc, một cộng đồng hài hòa. Dường như mỗi sắc dân được đặt vào phong cảnh của riêng mình, khí hậu của mình! Chúng ta tạo ra phong cảnh của mình, còn phong cảnh nặn thành hình các đường nét trên gương mặt chúng ta. Người da trắng ở giữa những cây cọ và đám dây leo này, trong các bụi cây và rừng rậm này là một điều gì đó lạc lõng thừa thãi. Nhợt nhạt, yếu ớt, áo đẫm mồ hôi, tóc dính bết, anh ta luôn bị cái khát, cảm giác bất lực và chán nản hành hạ. Anh ta luôn luôn sợ hãi, sợ muỗi, a míp, bọ cạp, rắn - tất cả những gì cử động đều làm anh ta tràn ngập lo sợ, khiếp hãi, hoảng loạn.Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Gỗ Mun PDF của tác giả Ryszard Kapuściński nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Quán Tai Heo (Bình Nguyên Lộc)
Tiểu thuyết này đăng báo “Tiểu Thuyết Thứ 7” năm 1960 nhưng câu chuyện xảy ra năm 1959. Nhạc phụ bản do Phạm Duy sáng tác năm 1963. Theo lời giải thích ở đầu truyện, Quán Tai Heo đã được in trên “Tiểu Thuyết Thứ 7” vào năm 1960, sau đó Bình-nguyên Lộc có nhắc tới truyện Quán Tai Heo khi trả lời phỏng vấn của Lê Phương Chi (Tin Sách số 2-1965) rằng truyện này cũng có trong tập truyện Quán Bên Đường. Như vậy bản in của Vạn Xương là bản in lần thứ ba. Bản in trong “Tiểu Thuyết Thứ 7” chắc chắn có chỗ khác với bản này vì lúc bấy giờ (1960), Phạm Duy chưa phổ nhạc bài thơ của Minh Phẩm (1963) và điểm chú thích số 1 sẽ không có lời hát của bản nhạc “Khoai Ngọt Bánh Đắng”. Chúng tôi chưa tìm ra được tung tích nào của tập truyện Quán Bên Đường, trong đó có truyện Quán Tai Heo như lời Bình-nguyên Lộc trả lời phỏng vấn của Lê Phương Chi. Vậy quí vị độc giả nào còn giữ tập truyện Quán Bên Đường, kính xin vui lòng giúp chúng tôi có được phiên bản Quán Tai Heo trong tập ấy, để tài liệu được đầy đủ hơn cho những độc giả nghiên cứu. Tìm mua: Quán Tai Heo TiKi Lazada Shopee Bài thơ có chú thích số 1 chắc chắn là của Minh Phẩm, với nhan “Cuộc Đời”, và bản nhạc được Phạm Duy sáng tác năm 1963 với tựa là “Khoai Ngọt Bánh Đắng” và nếu so sánh lời của bản nhạc trong chú thích số 1 với lời của bản nhạc “Quán Bên Đường” cũng của Phạm Duy, ta không thấy sai biệt nào ngoài những dấu câu mà gốc vẫn là bài thơ “Cuộc Đời”. Như vậy lời nhạc Quán Bên Đường là của Minh Phẩm. Trên trang nhà của Phạm Duy (đã ngưng hoạt động) và một số trang web cho rằng lời nhạc là của Bình-nguyên Lộc. Điều này không đúng.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Bình Nguyên Lộc":Cõi Âm Nơi Quán Cây DươngĐò DọcGieo Gió Gặt BãoQuán Tai HeoLữ Đoàn Mông ĐenNguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt NamNửa Đêm Trảng SụpTỳ Vết Tâm LinhSau Đêm Bố RápThầm LặngTruyện Ngắn - Bình Nguyên LộcĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Quán Tai Heo PDF của tác giả Bình Nguyên Lộc nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Quán Tai Heo (Bình Nguyên Lộc)
Tiểu thuyết này đăng báo “Tiểu Thuyết Thứ 7” năm 1960 nhưng câu chuyện xảy ra năm 1959. Nhạc phụ bản do Phạm Duy sáng tác năm 1963. Theo lời giải thích ở đầu truyện, Quán Tai Heo đã được in trên “Tiểu Thuyết Thứ 7” vào năm 1960, sau đó Bình-nguyên Lộc có nhắc tới truyện Quán Tai Heo khi trả lời phỏng vấn của Lê Phương Chi (Tin Sách số 2-1965) rằng truyện này cũng có trong tập truyện Quán Bên Đường. Như vậy bản in của Vạn Xương là bản in lần thứ ba. Bản in trong “Tiểu Thuyết Thứ 7” chắc chắn có chỗ khác với bản này vì lúc bấy giờ (1960), Phạm Duy chưa phổ nhạc bài thơ của Minh Phẩm (1963) và điểm chú thích số 1 sẽ không có lời hát của bản nhạc “Khoai Ngọt Bánh Đắng”. Chúng tôi chưa tìm ra được tung tích nào của tập truyện Quán Bên Đường, trong đó có truyện Quán Tai Heo như lời Bình-nguyên Lộc trả lời phỏng vấn của Lê Phương Chi. Vậy quí vị độc giả nào còn giữ tập truyện Quán Bên Đường, kính xin vui lòng giúp chúng tôi có được phiên bản Quán Tai Heo trong tập ấy, để tài liệu được đầy đủ hơn cho những độc giả nghiên cứu. Tìm mua: Quán Tai Heo TiKi Lazada Shopee Bài thơ có chú thích số 1 chắc chắn là của Minh Phẩm, với nhan “Cuộc Đời”, và bản nhạc được Phạm Duy sáng tác năm 1963 với tựa là “Khoai Ngọt Bánh Đắng” và nếu so sánh lời của bản nhạc trong chú thích số 1 với lời của bản nhạc “Quán Bên Đường” cũng của Phạm Duy, ta không thấy sai biệt nào ngoài những dấu câu mà gốc vẫn là bài thơ “Cuộc Đời”. Như vậy lời nhạc Quán Bên Đường là của Minh Phẩm. Trên trang nhà của Phạm Duy (đã ngưng hoạt động) và một số trang web cho rằng lời nhạc là của Bình-nguyên Lộc. Điều này không đúng.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Bình Nguyên Lộc":Cõi Âm Nơi Quán Cây DươngĐò DọcGieo Gió Gặt BãoQuán Tai HeoLữ Đoàn Mông ĐenNguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt NamNửa Đêm Trảng SụpTỳ Vết Tâm LinhSau Đêm Bố RápThầm LặngTruyện Ngắn - Bình Nguyên LộcĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Quán Tai Heo PDF của tác giả Bình Nguyên Lộc nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Gò Công - Xưa Và Nay (Huỳnh Minh)
Tiếp nối công trình tự vạch quyết ghi lại và điểm tô thêm những nét đẹp của non sông cẩm tú, vạch bóng thời gian tìm lại sự nghiệp những người hùng của một dân tộc kiêu hùng, chúng tôi đã lần lượt cống hiến đồng bào những cuốn sách sưu khảo riêng về mỗi tỉnh miền Nam. Sau những tỉnh Bến-tre, Bạc-liêu, Cần-thơ, và Vĩnh-long, hôm nay chúng tôi rất hân hạnh trình bày trước mắt quí vị những đặc điểm của tỉnh Gò-công yêu mến. Trong mười mấy hòn ngọc quí hiệp thành kim miện của nữ-hoàng Nam-Việt, Gò-công là một trong những hòn sáng chói đáng yêu. Người dân hiền lành chất phác, có tinh thần hiếu học, lịch sử oai hùng, mỗi thời đại mỗi đóng góp cho quốc gia những nhân tài cũng như vật lực dồi dào trong lúc đấu tranh cũng như xây dựng. Đầm Vạn-thắng muôn thuở ghi danh những chiến công Võ-Tánh, giồng Sơn-qui còn giữ lăng họ Phạm để nhắc lại công dung ngôn hạnh bà Từ-Dũ, người hiền mẫu của Nam-triều. Mộ Trương-Công-Định kiêu-hùng sừng sựng giữa trời mây làm giặc Pháp kiêng oai, bia đội Tấn mấy phen sụp đổ bởi nhơn dân oán ghét. Xứ Gò-công hai phen kháng-chiến, từ Đám lá tối trời tới lũy tre xanh ở Giồng-nâu, bao nhiêu anh hùng noi gương Trương-công-Định đã mài dũa gươm linh, tinh-thần bất khuất của dân-tộc tồn tại mãi trên đồi cây ngọn cỏ. Bao nhiêu di tích lịch-sử còn sờ sờ ra đó, khiến khách nhàn du về viếng Gò-công mỗi bước đi mỗi luống ngậm ngùi. Ngắm cảnh vật, nhớ người xưa lòng quyến luyến. Tôi đã viết quyển sách này với tất cả tấm lòng. Gò-công kháng-chiến anh-dũng! Tìm mua: Gò Công - Xưa Và Nay TiKi Lazada Shopee Gò-công văn-nghệ tinh anh! Gò-công kinh tế dồi dào! Gò-công xưa cũng như nay đã cống hiến cho quốc gia lắm nhơn tài đáng kể. Đọc « Gò-công Xưa và Nay » quý vị sẽ được dịp ôn lại những trang lịch-sử vẻ vang của nòi giống, sẽ được viếng thăm những di-tích lịch sử, những cảnh đẹp non sông, sẽ làm quen với những nhà văn cận đại và hiện đại của nước nhà, sẽ nhận thức hiện tình chánh trị, kinh-tế, văn-hóa, mỹ-nghệ của một tỉnh đã và đang vươn mình tiến bộ. Chúng tôi không dám tự phụ đã sưu-tầm đầy đủ, không bỏ sót một khía cạnh nào. Nhưng với tất cả cố gắng của chúng tôi, cuốn sách này ít nữa cũng sẽ giúp cho quý vị có một quan-niệm tổng-quát về tỉnh Gò-công trong dĩ-vãng và hiện-tại. Với sức mọn tài hèn, phương-tiện eo hẹp, hơn nữa, chúng tôi chỉ làm hết sức mình với tinh-thần thiện chí. Chỉ mong nơi sự tán trợ của quý độc-giả trong nước cũng như ngoài nước ủng hộ chúng tôi để tiếp tục con đường đã vạch sẵn. Mục-đích của chúng tôi là phụng-sự văn-hóa, góp công tô-điểm quê-hương, bảo tồn di tích lịch-sử nước non nhà. Nêu các gương trung-dũng ái-quốc của các bậc danh nhân chí sĩ, làm sống lại hùng khí của người xưa, bảo-vệ dân-tộc tính, đó là lý-tưởng duy nhứt của chúng tôi vậy.Sàigon, ngày 01-01-1969 HUỲNH-MINHDưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Huỳnh Minh":Bạc Liêu XưaCần Thơ Xưa Và NayĐịnh Tường - Xưa Và NayGò Công - Xưa Và NayTây Ninh XưaĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Gò Công - Xưa Và Nay PDF của tác giả Huỳnh Minh nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.