Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tội Ác Dưới Ánh Mặt Trời

Arlena Marshall là một nữ diễn viên xinh đẹp, luôn liếc mắt đưa tình những người đàn ông hấp dẫn đối với cô. Cô đến Khách sạn Hải Tặc cùng chồng Kenneth Marshall, và con gái riêng của chồng, Linda Marshall, 16 tuổi. Linda rất ghét mẹ kế. Arlena đong đưa tán tỉnh anh chàng Patrick Redfern đẹp trai, trước sự giận dữ ra mặt của vợ anh ta, Christine, một cựu giáo viên. Cùng ngụ trong khách sạn này có Hercule Poirot; ông Horace Blatt khoác lác; thiếu tá Barry, sĩ quan người Anh gốc Ấn Độ về hưu hay kể chuyện lê thê; Rosamund Darnley, nhà tạo mẫu thời trang cao cấp, vốn là bạn thanh mai trúc mã với Kenneth; bà Carrie Gardener, một du khách người Mỹ lắm mồm, và ông chồng tên Odell; cha xứ Stephen Lane; và cô Emily Brewster, quý cô chưa chồng khỏe như vận động viên.  Arlena được phát hiện bị giết chết vào buổi sáng của một ngày đẹp trời. Các chứng cứ ngoại phạm bắt đầu được thu thập. Arlena chèo bè đến Vũng Tiên rõ ràng cho một cuộc hẹn hò. Nhưng cả Kenneth lẫn Patrick đều tìm cô. Cuối cùng Patrick xin cô Emily cho anh đi chèo thuyền cùng. Anh phát hiện một cái xác nằm sải tay, giấu mặt trong nón, những lọn tóc đỏ ló ra ngoài. Anh ở lại đó trong lúc Emily đi báo cảnh sát. Bác sĩ pháp y nhận định nạn nhân bị một đôi bàn tay rất khỏe mạnh siết cổ chết. Phải là đôi bàn tay của đàn ông. Hai người có động cơ giết Arlena rõ nhất là: ông chồng Kenneth, Christine – cô vợ của anh chàng nhân tình Patrick nọ. Nhưng Kenneth có chứng cớ ngoại phạm chắc nịch. Còn Christine là một phụ nữ tay chân đặc biệt nhỏ nhắn xinh xắn! Thế rồi cô con gái riêng Linda nổi lên thành kẻ tình nghi số một vì có đôi bàn tay to tướng khỏe mạnh như đàn ông lẫn ác cảm với mẹ kế… và chứng cớ ngoại phạm không vững!  Khi cảnh sát sở tại và Hercule Poirot phối hợp điều tra ráo riết, lần ra nhiều bí mật đen tối của các vị du khách. Ông Horace Blatt khoác lác có thể là một tay buôn lậu ma túy. Cha xứ Stephen Lane thù ghét đàn bà lẳng lơ đến phát bệnh thần kinh và từng phải vào bệnh viện tâm thần. Một lời khai bổ sung của nhà tạo mẫu thời trang Rosamund Darnley hóa ra là nói dối, hơn nữa mọi du khách cùng ở đó đều thấy rõ cô phải lòng Kenneth… Một mê hồn trận những động cơ gây án và nghi phạm!  Đùng một phát, Linda Marshall uống thuốc ngủ tự tử, để lại thư tuyệt mệnh thú nhận tội lỗi! Rất may cô hầu phòng phát hiện và Linda được đưa đi cứu chữa trong tình trạng thập tử nhất sinh. Phải chăng chỉ cần đợi cô bé sống lại là có thể làm rõ các bước gây án? Chỉ có Hercule Poirot mới trả lời được câu hỏi này. *** Khi thuyền trưởng Roger Angmering xây nhà vào năm 1782 trên hòn đảo trong Vịnh Leathercombe, người ta nghĩ căn nhà ấy biểu hiện tính lập dị tột đỉnh của ông. Một người con nhà khá giả như ông đáng lẽ phải có cơ ngơi đường hoàng tọa lạc giữa đồng cỏ rộng, với một dòng suối chảy qua và bãi cỏ ngon lành cho gia súc. Nhưng ông thuyền trưởng này chỉ có một tình yêu vĩ đại, tình yêu biển cả. Vì thế ông đã xây ngôi nhà của mình - còn là một ngôi nhà kiên cố vì cần phải như thể, trên một mũi đất nhỏ lộng gió nơi hải âu thường xuyên lui tới - cách biệt với đất liền mỗi khi thủy triều lên. Ông không lập gia đình, biển cả là hôn thê đầu tiên và cuối cùng của ông, và khi ông qua đời ngôi nhà và hòn đảo về tay một người em họ xa. Ông em họ đó và đàn con cháu ít nghĩ tới việc để lại một chúc thư. Đất đai của họ thu hẹp và những người thừa kế dần dần trở nên nghèo khó hơn. Vào năm 1922 khi cuối cùng thiên hạ bắt đầu đổ xô đi tắm biển vào dịp nghỉ hè, không còn nghĩ vùng bờ biển Devon và Cornwall quá nóng bức vào mưa hè nữa, Arthur Angmering nhận thấy ngôi nhà rộng mênh mông thiếu tiện nghi xây vào cuối thời vua George của mình không bán được, nhưng khu đất nhỏ xíu kỳ quặc do đại úy thuyền trưởng Roger tậu được đem lại một giá trị lớn lao. Ngôi nhà kiên cố đó được xây thêm và trang trí lại thật đẹp. Một con đường bằng bêtông bắt đầu được đắp cao trên bãi lầy nối đất liền ra đảo. Nhiều lối tản bộ và góc riêng tư được hình thành và xây dựng quanh đảo. Có hai sân quần vợt, những nền đất cao để phơi nắng dẫn xuống một vịnh nhỏ với những bè gỗ và ván nhào lặn tôn thêm vẻ đẹp của nó. Khách sạn Hải Tặc, Đảo Buôn Lậu, Vịnh Leathercombe ra đời, hân hoan đắc thắng. Và từ tháng 6 tới tháng 9 cùng với mùa Phục sinh ngắn ngủi, khách sạn đó thường đầy ắp khách đến tận tầng thượng. Nó được mở rộng và nâng cấp vào năm 1934, có thêm một quầy bar, một phòng ăn lớn hơn và một số buồng tắm phụ. Giá cả tăng lên. Người ta hỏi nhau: “Tới Vịnh Leathercombe chưa hả? Ở đó có một khách sạn hay cực kỳ, trên một chỗ như là hòn đảo. Rất tiện nghi thoải mái, chẳng có người dạo chơi hay xe buýt tham quan đâu. Nấu ăn ngon và tất cả đều tốt đẹp. Ông nên tới đó đi.” Và quả thật người ta đã tới. Có một nhân vật rất quan trọng lưu trú tại Khách sạn Hải Tặc (hay ít ra ông ấy tự đánh giá mình như vậy). Hercule Poirot rực rỡ trong bộ comlê bằng vải dày màu trắng, với cái mũ panama nghiêng nghiêng trên đôi mắt, hàng ria mép xoắn lại thật đẹp. Ông nằm dựa ngửa trên ghế bố kiểu cải tiến quan sát bãi tắm. Một dãy nền đất cao từ khách sạn dẫn xuống đó. Trên bãi biển còn có các phao tấm, phao nằm, thuyền hơi và vải bạt, những quả bóng và đồ chơi bằng cao su. Có một tấm ván nhún dài và ba bè gỗ ở những khoảng cách khác nhau từ bờ biển. Về phần những người tắm biển, một số đang ở dưới nước, một số nằm duỗi dài trên bãi phơi nắng, số khác thì đang bôi díu lên người thật kỹ lưỡng. Ở trảng đất cao bên trên, những người không xuống tắm thì chọn cách ngồi bình luận về thời tiết, phong cảnh trước mặt, tin tức trên báo buổi sáng hay bất cứ đề tài nào khác lôi cuốn họ. Về phía bên trái của Poirot những câu nói dông dài, dịu dàng đơn điệu không ngừng tuôn ra từ miệng bà Gardener, trong khi hai tay bà vẫn thoăn thoắt đan len, khiến hai que đan cứ chạm vào nhau kêu lách cách. Ở phía bên kia là chồng bà, ông Odell C. Gardener nằm trên ghế võng, cái mũ sụp xuống tận mũi. Thỉnh thoảng ông chỉ góp vài lời ngắn gọn khi được yêu cầu nói. Về phía bên phải của Poirot, cô Emily Brewster, một phụ nữ mạnh mẽ rắn rỏi có mái tóc hoa râm và khuôn mặt dạn dày sương gió vui vẻ dễ ưa, đưa ra một lời bình luận cộc lốc. Nghe gần như tiếng sủa ngắn, thật to và mạnh mẽ của một con chó chăn cừu làm gián đoạn tiếng kêu ăng ẳng không ngớt của một con chó dòng Pomerania. Bà Gardener đang nói: “Và thế là tôi nói với ông nhà tôi, à, tôi đã nói là các chuyến tham quan đều rất tốt, và quả là tôi thường đi tham quan suốt. Chúng tôi đã đi khá nhiều nơi khắp xứ Anh này rồi, nên bây giờ tôi chỉ muốn đến một nơi yên tĩnh ở miền biển và chỉ để thư giãn mà thôi. Em đã nói thế, đúng không Odell? Chỉ thư giãn thôi. Tôi cảm thấy mình phải thư giãn. Đúng như thể, phải vậy không Odell?” Từ sau cái mũ ông chồng khẽ đáp: “Phải, em yêu à.” Bà vợ tiếp tục theo đuổi đề tài của mình: “Và thế là khi tôi đề cập chuyện ấy với ông Kelso ở công ty du lịch Cook - ông ấy đã thu xếp cả lộ trình cho chúng tôi, hết sức hữu ích về mọi mặt. Thật tình tôi chẳng biết chúng tôi phải làm gì nếu không có ông ấy! - À, như tôi nói đó, khi tôi đề cập chuyện ấy, ông Kelso nói tốt hơn hết chúng tôi nên tới đây. Một địa điểm đẹp như tranh vẽ, hoàn toàn cách biệt, mà vẫn rất tiện nghi thoải mái và riêng tư. Tất nhiên ông nhà tôi đã xen vào ngay vào hỏi vệ sinh thì thu xếp ra sao? Bởi vì nếu ông chịu tin lời tôi, ông Poirot à, một cô em gái của ông Gardener có lần từng tới trọ ở một nhà khách mà họ bảo là rất riêng biệt giữa một bãi đất hoang, nhưng ông có tin không, chẳng có gì ngoài nhà xí lấy đất phủ lên phân. Vì thế lẽ tất nhiên chuyện ấy khiến ông nhà tôi nghi ngờ những nơi cách biệt với thế giới bên ngoài, có phải vậy không Odell?” “Ờ phải, em yêu à,” ông chồng đáp. “Nhưng ông Kelso lập tức cam đoan với chúng tôi một lần nữa. Ông ấy bảo chuyện vệ sinh tuyệt đối không cần phải bàn thêm gì, và nấu ăn thật xuất sắc. Tôi chắc chắn thế đó. Và điều khiến tôi rất thích là đúng giờ đúng giấc, chắc ông hiểu tôi muốn nói gì rồi. Là một nơi nhỏ bé nên tất cả chúng ta trò chuyện với nhau và ai nấy đều biết nhau. Người Anh nếu có một lỗi thì đó là họ hơi xa cách một chút xíu cho tới khi đã quen nhau chừng vài năm. Sau đó chẳng ai có thể tử tế hơn họ. Ông Kelso bảo những con người thú vị thường hay tới đây, và tôi thấy ông ấy nói đúng. Có các vị đây, ông Poirot và cô Darnley. Ôi! Đúng là tôi đã thích đến chết đi được khi khám phá ra các vị là ai, có phải vậy không Odell?” “Phải, em yêu à.” “Hà!” cô Brewster hùng hổ ngắt ngang câu chuyện. “Thật rộn ràng vui sướng quá, hử, ông Poirot?” Poirot giơ hai tay lên có vẻ không đồng tình. Nhưng đó chỉ là một cử chỉ lịch sự không hơn không kém. Bà Gardener nói tiếp như một dòng nước đang lững lờ trôi: “Xin hiểu cho, thưa ông Poirot, tôi từng nghe Cornelia Robson kể rất nhiều chuyện về ông đó. Tháng 5 vừa rồi, vợ chồng tôi đã tới Badenhoi Và tất nhiên Cornelia đã kể hết cho chúng tôi nghe vể vụ Linnet Ridgeway bị giết chết ờ Ai Cập. Bà ấy bảo ông thật tuyệt vời, và lâu nay tôi đã muốn gặp ông hết sức, có phải vậy không, Odell?” “Phải, em yêu à.” “Rồi sau đó còn cô Darnley nữa. Tôi mua rất nhiều đồ hiệu Rose Mond, và tất nhiên cô ấy là Rose Mond, đúng không? Cô ấy thiết kế trang phục quá thông minh. Một mặt hàng tuyệt diệu quá đỗi. Cái đầm tôi mặc đêm hôm qua là của cô ấy đó. Quả đúng là một phụ nữ đáng yêu về mọi mặt.” Từ phía bên kia cô Brewster, thiếu tá Barry nãy giờ vẫn ngồi dán cặp mắt ốc nhồi vào những người đang tắm, lẩm bẩm: “Cô nàng trông ngon lành đáo để!” Bà Gardener khua que đan lách cách: “Tôi phải thú nhận một điều thôi, ông Poirot à. Gặp ông ở đây khiến tôi bị điếng người kiểu nào đó - chẳng phải tôi không phấn khích khi gặp ông đâu, phấn khích quá đi chứ. Ông nhà tôi biết điều ấy. Nhưng tôi vừa nghĩ đến chuyện có thể ông tới đây - à, là để hành nghề. Ông biết tôi muốn nói gì chứ? À, tôi vốn cực kỳ nhạy cảm, như ông Gardener sẽ nói cho ông biết, và quả tôi chẳng thể chịu nổi nếu phải dính líu vảo bất cử kiểu tội ác nào. Xin ông hiểu cho.” Chồng bà ta đằng hắng rồi nói: “Xin ông hiểu cho, ông Poirot à, bà nhà tôi nhạy cảm lắm.” Hai tay thám tử Poirot giơ thẳng lên trời thật nhanh: “Xin cam đoan với bà, Madame, tôi tới đây cũng y như bà vậy thôi - để vui hưởng - để nghỉ hè thôi. Thậm chí tôi chẳng hề nghĩ tới tội ác.” Cô Brewster lại nói như tiếng chó sủa ngắn cộc cằn: “Chẳng có cái xác nào trên Đảo Buôn Lậu đâu.” “A!” Hercule Poirot nói. “Nói thế cũng không hoàn toàn đúng.” Ông chỉ tay xuống phía dưới. “Bà nhìn họ đang nằm dài ra đó từng hàng đi! Họ là gì vậy hả? Không phải đàn ông hay đàn bà. Chẳng có đặc điểm cá nhân nào cả. Họ chỉ là - những thân xác.” Thiếu tá Barry tán thành: “Một đám ngớ ngẩn trông cũng được mắt đó, vài người trong bọn họ. Mảnh khảnh, có lẽ vậy.” “Phải đó,” Poirot kêu lên, “nhưng có gì hấp dẫn? Có gì bí ẩn? Tôi già mất rồi, thuộc trường phái cũ xưa, hồi tôi còn trẻ người ta hiếm khi trông thấy mắt cá chân. Thoáng thấy một cái váy lót xốp cũng làm mình mê mẩn xiết bao! Một bắp chân căng tròn mém mại - một đẩu gối - ghim nịt vớ…” “Hư đốn, hư đốn!” thiếu tá Barry nói với giọng khàn khàn. “Đồ ta mặc ngày nay gợi cảm hơn nhiều,” cô Brewster nhận xét. “À phải đó, ông Poirot à. Bọn con trai con gái đời nay sống tự nhiên khỏe mạnh hơn nhiều. Chúng chỉ nô đùa đây đó với nhau rổi chúng - à, chúng nó…” bà Gardener hơi đỏ mặt vì đầu óc bà vốn rất tinh tế - “chúng chẳng nghĩ gì về chuyện ấy, ông hiểu ý tôi chứ?” “Tôi hiểu rồi,” Poirot đáp. “Thật đáng trách!” “Đáng trách sao?” bà Gardener rít lên. “Xóa bỏ hết tình cảm lãng mạn - hết còn bí ẩn! Ngày nay mọi thứ đều bị tiêu chuẩn hóa.” Ông thám tử phẩy tay về phía những hình hài nằm sấp nằm ngửa. “Cái cảnh đó nhắc tôi nhớ rất nhiều tới Nhà xác ở Paris.” “Ông Poirot!” bà Gardener cảm thấy bị xúc phạm. “Những cái xác - xếp trên những phiến dày và rộng - y hệt thịt ở cửa hàng bán thịt!” “Ông Poirot à, nói vậy chẳng phải là quá cường điệu sao?” Hercule Poirot thừa nhận: “Có lẽ thế, đúng vậy.” “Dù sao đi nữa,” bà Gardener đan len thật hăng, “tôi vẫn có thể đồng ý với ông về một điểm. Những cô gái đang nằm dài phơi nắng như thể kia sẽ bị mọc lông tay lông chân đó. Tôi từng bảo Irene - con gái tôi, ông Poirot à, - tôi bảo nó nếu cứ nằm dài phơi nắng như thế, con sẽ mọc lông khắp mình khắp mẩy, lông tay lông chân và lông ngực, khi ấy trông con sẽ như thể nào hở? Em đã nói với con bé, phải vậy không Odell?” “Phải, em yêu à,” chồng bà đáp. Mọi người im lặng, có lẽ đang mường tượng trong đầu hình ảnh của Irene khi tình huống xấu nhất đã xảy ra. Bà Gardener cuốn đồ đan len lại rổi nói: “Bây giở tôi tự hỏi..” Ông chồng hỏi: “Gì thế, em yêu?” Ông gượng đứng lên rời khỏi cái ghế võng, cầm lấy đồ đan len và quyển sách của vợ rổi hỏi: “Cùng uống với chúng tôi một ly nhé, cô Brewster?” “Ngay bây giờ thì không được, cảm ơn ông.” Hai vợ chồng đi trở lên khách sạn. Cô Brewster nói: “Các ông chồng người Mỹ thật tuyệt vời!” Cha Stephen Lane ngồi vào chỗ của bà Gardener. Đó là một ông thầy tu cao ráo sung sức ngoài năm mươi. Khuôn mặt rám nắng và cái quần dài bằng nỉ mỏng tanh màu xám sẫm thích hợp để đi nghỉ mát lại làm ô uế thanh danh của một kẻ tu hành. Ông nói thật hăng hái: “Miền quê này thật kỳ diệu! Ta đã đi từ Vịnh Leathercombe đến Harford rồi quay về chỗ gành đá.” “Hôm nay đi bộ làm ấm người lắm đó,” thiếu tá Barry nói, nhưng ông ta chẳng bao giờ đi bộ. “Rèn luyện thân thể là rất tốt,” cô Brewster thêm vào. “Tôi vẫn chưa chèo thuyền đây. Muốn tập cơ bụng thì không gì bằng chèo thuyền đâu.” Cặp mắt Hercule Poirot sụp xuống, hơi rầu rĩ liếc nhìn chỗ trương phình lên chính giữa bụng. Để ý thấy, cô Brewster nói thật tử tế: “Ông sẽ sớm làm chỗ ấy xẹp xuống thôi, ông Poirot ạ, nếu hằng ngày chèo thuyền ra biển.” “Merci, Mademoiselle. Tôi thì lại ghét cay ghét đắng các loại thuyền bè!” “Ông muốn nói đến những chiếc thuyền nhỏ sao ạ?” “Thuyền bè mọi kích cỡ.” Ông nhắm mắt lại và rùng mình. “Biển động thì chẳng hề dễ chịu.” “Chúa ban phúc lành cho cái ông này, hôm nay sóng yên biển lặng mà ông.” Poirot đáp lại với niềm tin vững chắc: “Thật ra chẳng có chuyện biển lặng đâu. Lúc nào, lúc nào cũng chuyển động.” “Nếu ông hỏi tôi,” thiếu tá Barry nói, “cứ mười người thì có tới chín người bị say sóng đó.” “Thế đấy,” ông thầy tu hơi nhếch mép mỉm cười, “là thủy thủ lành nghề mà cũng nói thế ư, ông thiếu tá?” “Chỉ bị say sóng mỗi một lần, đó là lúc tôi vượt Biển Manche! Đừng nghĩ tới say sóng, đó là phương châm của tôi.” “Say sóng thật sự là một chứng rất kỳ quặc,” cô Brewster có vẻ đâm chiêu. “Vì sao người này mắc chứng ấy, còn kẻ khác lại không chứ? Chẳng phải là quá bất công hay sao? Chẳng liên quan gì tới sức khỏe thể chất cả. Có người cực kỳ ốm yếu lại là thủy thủ giỏi. Từng có người bảo tôi chứng ấy liên quan gì đấy với cột sống. Rồi còn có cái kiểu chẳng chịu nổi độ cao. Chính tôi cũng chịu đựng không tốt lắm, nhưng bà Redfern còn tệ hơn nhiều. Hôm nọ ở lối đi trên vách đá đến Harford, bà ấy bỗng dưng bị chóng mặt, đến nỗi phải vịn vào tôi đấy. Bà kể tôi nghe có lần từng bị kẹt ở nửa chừng đường đi xuống cầu thang bên ngoài nóc Nhà thờ Milan. Bà ấy leo lên thì chẳng hề nghĩ ngợi gì, nhưng khi đi xuống lại bị choáng.” “Thế thì tốt hơn hết bà ấy không nên leo cái thang xuống Vũng Tiên,” cha Lane nhân xét. Cô Brewster nhăn mặt. “Chính tôi cũng khiếp nữa là. Bọn trẻ thì không sao cả. Thằng bé nhà Cowan với cậu Mastermans cứ leo lên trèo xuống nhoay nhoáy, ra cái điều thích thú lắm.” Ông thầy tu nói: “Bà Redfern vừa tắm xong lên đây kia kìa.” Cô Brewster nhận xét: “Ông Poirot phải tán dương bà ấy đấy. Bà ấy tắm biển không hề bắt nắng.” Cô Redfern trẻ trung đã cởi cái mũ cao su và đang giũ tóc. Đó là một phụ nữ tóc vàng xám tro và làn da trắng tinh rất hợp với màu tóc. Chân tay rất trắng trẻo. Thiếu tá Barry cười khềnh khệch: “Trông cô ấy còn tai tái một tí, chưa nướng chín như những người khác nhỉ?” Redfern từ bãi biển đi lên rồi leo các bậc thềm tiến về phía họ. Khuôn mặt nghiêm trang của cô thật xinh đẹp, một kiểu xinh đẹp trơ trơ vô vị, bàn tay bàn chân nhỏ nhắn xinh xắn. Cô mỉm cười với họ, buông mình ngồi xuống bên cạnh, kín mít trong lớp áo tắm bọc lấy người. Brewster nói: “Chị được ông Poirot đánh giá cao đấy. Ông ấy chẳng thích đám người da rám nắng. Bảo họ giống như những súc thịt trong hàng thịt, hay những từ mô tả vậy đấy.” Christine Redfern mỉm cười buồn bã: “Tôi vẫn ước ao da mình có thể ăn nắng thì tốt. Nhưng nó chẳng chịu đổi màu nâu. Chỉ bị rộp lên vì bỏng nắng và có những vết tàn nhang kinh khủng nhất khắp cả hai cánh tay.” “Còn đỡ hơn là bị mọc đầy lông như cô bé Irene con gái bà Gardener,” cô Brewster nói. Rồi đáp lại cái liếc nhìn dò hỏi của thiếu phụ xinh xắn trắng trèo, cô nói tiếp: “Sáng nay bà Gardener cực kỳ phấn khởi. Cứ luôn mổm nói liên tu bất tận. ‘Có phải vậy không Odell?’ Ông chồng liền đáp, ‘Phải, em yêu à.’” Cô dừng lại một lát rổi nói: “Tuy thế tôi vẫn ước ao, ông Poirot ạ, lẽ ra ông nên trêu bà ta một chút. Sao ông không làm thế? Sao không bảo bà ta rằng ông xuống đây để điều tra một án mạng ghê rợn, và kẻ gây án là một tên sát nhân cuồng loạn, mà nhất định là một trong số khách trọ của khách sạn này?” Hercule Poirot thở dài. “Tôi rất ngại bà ấy sẽ tin lời tôi.” Thiếu tá Barry cười khò khè khục khặc. “Chắc chắn bà ấy sẽ tin.” Cô Brewster nói: “Không đâu. Chắc ngay cả bà ấy cũng chẳng tin có án mạng xảy ra ở đây đâu. Đây không phải là nơi có thể tìm ra một cái xác.” Hơi nhúc nhích cựa quậy trong cái ghế, Poirot phản đối: “Nhưng sao lại không, thưa cô? Sao lại không có cái mà cô gọi là cái xác ở đây trên Đảo Buôn Lậu này?” Emily Brewster đáp: “Không biết nữa. Tôi cho rằng một số nơi ít có khả nàng xảy ra án mạng hơn những nơi khác. Đây không phải là nơi kiểu đó…” Đột nhiên cô ngừng lại, thấy khó lòng giải thích điều mình muốn nói. “Nơi này thật lãng mạn, đúng vậy,” Poirot đồng ý. “Thật bình an. Mặt trời chiếu sáng. Biển xanh. Nhưng cô quên rồi, cô Brewster à, tội ác có ở khắp mọi nơi dưới ánh mặt ười.” Ông thầy tu cựa quậy trong cái ghế bố của mình. Ông chồm người tới trước. Đôi mắt xanh lơ sáng rực lên. Cô Brewster nhún vai. “Ôi, dĩ nhiên tôi biết điều ấy chứ, nhưng dù sao đi nữa…” “Nhưng dù sao đi nữa nơi đây đối với cô hình như vẫn không có khả nàng là bối cảnh xảy ra một án mạng à? Cô quên mất một điều, thưa cô.” “Bản tính con người phải không ông?” “Đúng vậy đó. Vẫn luôn như vậy. Nhưng không phải là điều tôi vừa mới nói. Tôi vừa chỉ cho cô rõ ở đây mọi người đều đang đi nghỉ mát.” Cô Brewster quay khuôn mặt bối rối sang nhìn Poirot: “Tôi không hiểu.” Poirot tươi cười nhìn cô. Ông nhịp nhịp ngón trỏ vào không trung. “Giả sử cô có một kẻ thù. Nếu cô cố tìm cho ra hắn ở căn hộ của hắn, ở sở làm, ở ngoài đường phố, eh bien, cô phải có một lý do - cô phải giải thích hành vi của mình. Nhưng ở đây trên bờ biển chẳng ai cần phải giải thích về hành vi của mình. Cô tới Vịnh Leathercombe, sao hả? Parbleu! Bây giờ là tháng 8 - người ta thường ra biển vào tháng 8 - đi nghỉ hè. Hoàn toàn là lẽ đương nhiên chuyện cô và cha Lane tới đây, chuyện thiếu tá Barry và cô Redfern cùng chồng tới đây. Bởi vì đi nghỉ mát vào tháng 8 là tập quán ở xứ Anh này.” “À,” Brewster công nhận, chắc chắn đấy là một ý kiến rất tinh tế. “Nhưng còn ông bà Gardener thì sao? Họ là người Mỹ cơ mà.” Thám tử mỉm cười. “Chính bà Gardener cũng nói với chúng ta bà cảm thấy có nhu cầu được thư giãn. Hơn nữa bà đang tham quan xứ Anh, nên nhất thiết phải trải qua nửa tháng ngoài bờ biển mới đúng là một du khách sành điệu, chứ không làm điều gì khác. Bà ấy thích quan sát mọi người.” Christine Redfern khẽ hỏi: “Chắc ông cũng thích quan sát mọi người chứ?” “Thưa bà, tôi xin thú nhận điều đó. Tôi thích chứ.” Cô nói vẻ trầm ngâm: “Ông thấy - khá nhiều đấy.” Có một khoảnh khắc tạm dừng. Cha Lane đằng hắng rồi nối, hơi ngượng ngùng một chút. “Ta quan tâm đến điều ông vừa nói lúc nãy, ông Poirot ạ. Ông bảo tội ác hoành hành khắp nơi dưới ánh mặt trời. Đấy có vẻ như là một câu trích dẫn từ Sách Truyền Đạo.” Cha tạm dừng rồi sau đó tự trích dẫn: “Phải, trong tim con cái của con người cũng đầy rẫy cái ác, và sự điên cuồng ở trong tim họ trong khi họ sống.” Mắt ông rực lên một thứ ánh sáng gần như cuồng tín. “Ta rất vui khi nghe ông nói câu ấy. Đời nay chẳng ai tin có cái ác cả. Cùng lắm được xem đơn giản chỉ là phủ định của cái thiện. Người ta bảo cái ác được thực thi bởi những kẻ chẳng biết điều gì tốt hơn - những kẻ chậm phát triển - những kẻ đáng thương hơn là đáng trách. Nhưng ông Poirot này, cái ác có thật đấy. Đấy là một thực tế. Ta tin có cái ác cũng như ta tin có cái thiện. Nó tồn tại! Nó có quyền lực lớn lao! Nó bước đi khắp trên quả đất này!” Ông thầy tu dừng lại, hơi thở gấp gáp một chút. Ông lấy khăn tay lau trán và chợt có vẻ ân hận. “Ta rất tiếc vì đã quá sa đà.” Poirot nói thật điềm tĩnh: “Tôi hiểu ý của ông. Tôi đồng ý với ông về một điểm. Quả là cái ác vẫn bước đi khắp trên trái đất và ta có thể nhận biết điều đó.” Thiếu tá Barry đằng hắng. “Bàn về chuyện kiểu ấy thì, mấy thằng cha tu hành khổ hạnh ở Ấn Độ…” Thiếu tá Barry ở Khách sạn Hải Tặc đã đủ lâu để mọi người cảnh giác đề phòng cái khuynh hướng sa vào những câu chuyện Ấn Độ dài lê thê chán ngắt của ông ta. Cả cô Brewster lẫn Christine đều đột nhiên cùng cất tiếng. “Bây giờ chồng cô đang xuống bơi, phải không cô Redfern? Kiểu bơi sải của ông ấy thật cừ khôi. Ông ấy bơi giỏi kinh khủng.” Cùng lúc đó Redfern nói: “Ôi, xem kìa! Chiếc thuyền nhỏ có những cánh buồm đỏ ở ngoài kia đẹp quá! Là thuyền của ông Blatt, phải không?” Chiếc thuyền buồm đỏ đúng là đang băng qua cuối vịnh. Thiếu tá Barry lẩm bẩm: “Ý tưởng thật kỳ khôi, những cánh buồm màu đỏ.” Nhưng mọi người đã thoát khỏi câu chuyện phiền hà về những nhà tu khổ hạnh của ông ta. Hercule Poirot nhìn người đàn ông trẻ vừa bơi vào bờ, tấm tắc khen thầm. Patrick Redfern là một mẫu người thật tuyệt. Thanh mảnh, nước da màu đồng thau, đôi vai rộng và hai bắp đùi săn chắc, anh ta có cái kiểu vui vẻ khoan khoái dễ hòa đồng - tính hồn nhiên bẩm sinh mà tất cả đàn bà và hầu hết đàn ông đều quý mến. Anh ta đứng đó giũ nước trên người rổi giơ tay vui vẻ gọi vợ. Cô vợ vừa vẫy tay đáp lại vừa cất tiếng: “Đến đây đi, Pat!” “Anh đến ngay.” Anh ta đi một quãng ngắn dọc theo bãi biển để lấy cái khản tắm đã để lại đó. Ngay lúc ấy một phụ nữ từ khách sạn đi xuống bãi biển ngang qua chỗ họ. Chuyện cô ta tới chỗ đó có tầm quan trọng cỡ như một diễn viên bước ra sân khấu. Hơn nữa cô ta bước đi như thể biết rõ điều đó. Chẳng hề có vẻ ngượng ngùng gì cả. Dường như cô ta đã quá quen thuộc với hiệu quả bất biến do sự có mặt của mình. Dáng người cao ráo mảnh mai, cô ta mặc chiếc áo tắm một mảnh hở lưng màu trắng và từng li từng tí trên thân thể lộ ra ngoài đều nhuốm một chút màu đồng thau tuyệt đẹp. Hoàn hảo như một bức tượng. Mái tóc màu nâu đỏ rực lửa uốn quăn úp thật sát vào cái cổ rất đẹp. Nét mặt hơi nghiêm nghị thường thấy khi ba mươi năm đã đến rồi đi, nhưng toàn bộ tác động của cô ta là tác động của tuổi trẻ - của sức sống chiến thắng thật mãnh liệt. Khuôn mặt ấy bất động kiểu Trung Hoa và đôi mắt xanh sẫm xếch lên. Trên đầu đội một cái nón Trung Hoa bằng bìa cứng màu xanh ngọc thạch thật kỳ quái. Cô ta có điểm gì đó khiến mọi phụ nữ khác trên bãi biển dường như đểu lu mờ đi và chẳng có nghĩa lý gì. Cũng không thể nào tránh khỏi điều đó, mọi cặp mắt đàn ông hiện diện đều bị hút dính vào cô ta. Hercule Poirot mở to cặp mắt, hàng ria mép rung rinh tấm tắc khen thầm. Thiếu tá Barry ngổi thẳng dậy, cặp mắt ốc nhồi thậm chí còn lồi ra nhiều hơn vì quá phấn khích. Bên trái Poirot, cha Stephen Lane hít vào một hơi với một tiếng rít khe khẽ, còn toàn thân thì cứ cứng đơ ra. Thiếu tá Barry thì thào, giọng khàn khàn: “Arlena Stuart – là tên cô ta trước khi lấy Marshall. Tôi từng xem cô ta trong vở Đến và Đi trước khi cô ta rời bỏ sân khấu. Cũng có cái đáng để ngắm nhìn đó, hử?” Christine Redfern nói thật chậm rãi, giọng lạnh lùng: “Cô ta trông cũng được mắt - vâng. Tôi nghĩ - trông cô ta như một con thú thì đúng hơn!” Emily Brewster nói cộc lốc: “Lúc nãy ông vừa bàn về cái ác, thưa ông Poirot. Giờ đây trong tâm trí tôi người đàn bà này chính là hiện thân của cái ác! Cô ta là một ả đê tiện suốt từ đầu đến cuối. Tôi tình cờ được biết rất nhiều chuyện về cô ta.” Thiếu tá Barry hồi tưởng: “Tôi còn nhớ một ả ở bên Simla. Tóc ả cũng màu đỏ. Vợ của một trung úy hải quân. Có làm cho nơi ấy xào xáo hay không ư? Xin thưa là có ạ. Đàn ông phát điên lên vì ả. Tất nhiên hết thảy đàn bà đều muốn móc mắt ả ra! Ả đã phá nát hơn một gia đình rồi đó.” Ông ta cười khục khạc khi nhớ lại. “Chồng ả là một thằng cha trầm lặng thật tuyệt. Sùng bái cả mặt đất dưới bước chân ả. Chẳng bao giờ thấy cái gì - hay vờ không thấy.” Cha Lane nói với giọng trầm trầm đầy cảm xúc mãnh hệt: “Phụ nữ như thế là một mối đe dọa - đe dọa đối với… Ông dừng lại. Arlena Stuart đã ra tới mép nước. Hai cậu trai choai nhảy dựng lên rồi hăm hở tiến tới. Cô đứng lại mỉm cười với họ. Mắt cô lướt nhanh ngang qua họ tới chỗ Patrick Redfern đang đi dọc theo bãi biển. Hercule Poirot nghĩ như thể ông đang theo dõi cây kim la bàn. Patrick Redfern đi chệch đường, đôi chân anh ta đổi hướng. Kim la bàn dù muốn hay không cũng phải tuân theo quy luật của từ trường và xoay về hướng bắc. Hai chân Patrick Redfern đưa anh ta đến với Arlena Stuart. Cô đứng đó mỉm cười với anh ta. Rồi cô chầm chậm di chuyển dọc theo bải biển sát bên những ngọn sóng. Anh ta đi cùng với cô. Cô nằm duỗi dài ra cạnh một tảng đá. Patrick buông mình nằm xuống chỗ đay đá cuội ở bên cạnh. Christine Redfern lập tức đứng dậy và đi vào khách sạn. Có một thoáng im lặng không thoải mái sau khi cô ta bỏ đi. Rồi Emily Brewster nói: “Hơi quá tệ đấy. Cô ấy nhỏ bé, dễ thương. Họ chỉ mới lấy nhau chừng một hai năm thôi.” “Cái ả tôi vừa nhắc đến,” thiếu tá Barry nói, “ở Simla ấy. Ả đã làm đổ vỡ một cặp vợ chồng thật sự hạnh phúc. Có vẻ đáng thương, nhỉ?” Brewster nói: “Có một hạng đàn bà thích phá nát gia đình người ta.” Chừng một vài phút sau cô nói thêm, “Patrick Redfern là đồ ngu ngốc!” Hercule Poirot không nói gì. Ông đang chăm chú nhìn xuống bãi biển. Nhưng không phải nhìn Patrick và Arlena. Cô Brewster lại nói: “À, tôi nên đi chèo chiếc thuyền thì hơn.” Cô rời khỏi họ. Thiếu tá xoay cặp mắt như hai trái lý gai nấu chín ngó Poirot có vẻ hơi tò mò: “Này Poirot, ông đang nghĩ gì vậy? Ông chưa mở miệng. Nghĩ gì về ả mỹ nhân ngư ấy? Cũng nóng bỏng đấy chứ nhỉ?” Poirot trả lời: “C’est possible.” “À ra thế, ông bạn già. Tôi biết ngay ông là người Pháp mà.” Poirot lạnh lùng đáp lại: ‘Tôi không phải người Pháp!” “À, đừng nói với tôi ông chẳng hề để mắt đến gái đẹp nhé! Ông nghĩ gì về cô ả, hử?” “Cô ta không còn trẻ nữa.” “Điều ấy có quan trọng gì đâu chứ? Đàn bà trẻ hay già là tùy ở vẻ bề ngoài. Dáng cô ả cũng được đó chứ.” Poirot gật đầu nói: “Phải, cô ta xinh đẹp thật. Nhưng rốt cuộc sắc đẹp không phải là điều đáng quan tâm. Không phải sắc đẹp đã khiến mọi cái đầu – ngoại trừ một cái – đều xoay ra bãi biển để ngắm nhìn cô ta đâu.” “Chính thế, ông bạn ạ. Chính là điều ấy.” Thiếu tá nói, rồi đột nhiên tò mò hỏi, “Ông đang nhìn cái gì quá chăm chú vậy?” Poirot đáp: “Tôi đang nhìn trường hợp ngoại lệ. Người đàn ông duy nhất không ngước nhìn lên khi cô ta đi ngang qua.” Thiếu tá Barry nhìn theo ánh mắt đăm đăm của Poirot dừng lại nơi một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi, tóc vàng hoe và da rám nắng. Khuôn mặt trầm tĩnh dễ ưa, ông ta đang ngồi trên bãi biển vừa hút ống điếu vừa đọc báo The Times. “À ra thế. Đó là ông chồng, ông bạn ạ, là Marshall đó.” “Phải, tôi biết rồi,” Hercule Poirot đáp. Thiếu tá Barry cười khục khặc. Là đàn ông độc thân, ông ta vẫn quen nghĩ Người Chồng có ba nghĩa - là kỳ đà cản mũi, kẻ gây phiền phức hay gã bảo vệ. “Có vẻ là một thằng cha tử tế đó,” ông ta nhận xét. Thật trầm lặng. Tôi tự hỏi phải chăng thời cơ của tôi đã tới?” Thiếu tá Barry đứng dậy và đi lên về phía khách sạn. Cái liếc nhìn của Poirot chầm chậm chuyển sang khuôn mặt cha Lane. Vị cha xứ đang chăm chú theo dõi Arlena Marshall và Patrick Redfern. Chợt ông quay sang Poirot. Trong đôi mắt ông có một thứ ánh sáng nghiêm khắc cuồng tín. “Người đàn bà ấy là cái ác suốt từ đầu đến cuối. Ông có nghi ngờ điều đó không?” cha Lane nói. Poirot đáp thật chậm rãi: “Thật khó lòng biết chắc ạ.” “Nhưng là người còn sống, ông không cảm thấy nó trong không trung hay sao? Khắp xung quanh ông. Sự hiện hữu của Cái Ác.” Poirot chầm chậm gật đầu. Mời bạn đón đọc Tội Ác dưới Ánh Mặt Trời của tác giả Agatha Christie & Trần Hữu Kham (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cô Gái Và Màn Đêm
Mùa đông năm 1992 Trong khuôn viên của một trường trung học danh tiếng ở miền Nam nước Pháp, dưới bóng đêm đen, trên màn tuyết trắng, ba người bạn bị số phận đưa đẩy cùng chia sẻ một bí mật khủng khiếp!  Và một cô gái đã bị màn đêm cuốn đi!  Hai mươi lăm năm sau  Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường, ba người bạn học hội ngộ. Những lá thư nặc danh, những lời đe dọa xuất hiện cùng với nguy cơ quá khứ bị khơi dậy!  Cô gái năm xưa có trở lại? Đâu là bộ mặt thật của màn đêm? Làm thế nào để băng qua đêm đen?  Với đặc quyền cùng tài năng thiên bẩm của một tiểu thuyết gia, Guillaume Musso sẽ giúp độc giả khám phá ra sự thật trong khi không phút nào hết sững sờ. *** Nhi Nguyễn's review Jan 19, 2019 Lời đầu tiên, phải nói là mình cực thích địa điểm diễn ra câu chuyện trong cuốn tiểu thuyết này, vùng Côte d’Azur nằm bên bờ Địa Trung Hải của Pháp, nơi mà tiếng Anh gọi là French Riviera. Vùng đất này, cùng thành phố Nice (một trong những thành phố mình muốn đến thăm nhất nếu có cơ hội được du lịch đến Pháp, sau Lyon, Strasbourg và dĩ nhiên là Paris) đẹp đến nỗi không thốt nên lời được (những lời văn của bác Musso chỉ miêu tả được phần nào vẻ đẹp ấy thôi, còn tốt nhất là các bạn cứ google hình ảnh của vùng này để mà chiêm ngưỡng :D). Vùng đất ấy có ngôi trường quốc tế mang tên St. Exupéry (ơ bác Musso lấy cả tên của bác tác giả “Hoàng Tử Bé” đặt tên cho trường kìa hi hi hi :D), nơi mà 25 năm trước, vào một đêm mùa đông giá lạnh của năm 1992, một cô nữ sinh trẻ tuổi tên là Vinca Rockwell đã được cho là bỏ trốn cùng với tình nhân của mình – thầy giáo dạy Triết học Alexis Clément. Câu chuyện mở đầu bằng một xác chết mặt mũi bầm dập trên một mỏm đá hướng ra biển, để rồi tua lại vài ngày trước đó, khi Thomas – người kể chuyện – trở về mái trường năm xưa để dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường. Bên trong con người Thomas là một bí mật động trời đã luôn ám ảnh anh suốt 25 năm qua, bí mật liên quan đến sự biến mất của Cô gái Vinca vào Màn đêm bất tận của năm 1992. Để rồi từng bước từng bước, khi độc giả theo dấu Thomas điều tra, khám phá ra những ngóc ngách còn kinh hoàng hơn nữa của cái tấn bi kịch trong cái đêm định mệnh ấy, theo sau lời đe dọa trả thù của một kẻ thù bí mật, thì sự thật hóa ra còn hơn cả những gì một tiểu thuyết gia như Thomas có thể tưởng tượng ra. Đúng như danh tiếng bấy lâu nay của bác Musso, bác đúng là “the plot twist King” đỉnh của đỉnh, khi những gì Thomas phát hiện ra đã thực sự khiến mình muốn rớt hàm, phải nói là khiến mình rất nhiều lần thốt lên “What da fuck?”, da gà thì nổi khắp người. Và không chỉ có một cú plot twist, tác giả đã cài cắm rất nhiều sự thật, nhiều phát hiện động trời mà đúng là chỉ có bộ não như Musso mới có thể nghĩ ra. Từng khúc quanh, ngã rẽ dẫn dụ người đọc vào một mê cung, trong đó mỗi nhân vật đều có dây mơ rễ má buộc chặt số phận của họ lại với nhau, và chính giữa mê cung ấy là Vinca Rockwell – cô gái tóc hung với đôi mắt hai màu, nữ thần quyến rũ, là tâm điểm chú ý và đối tượng ái tình của rất nhiều người những năm đầu thập niên 90, trong đó có Thomas – chàng trai luôn khác biệt so với những người còn lại. Và như lời một nhân vật trong truyện, hoặc nhận xét của một nhà phê bình đằng sau cuốn sách, câu chuyện của “Cô gái và Màn đêm” thực sự là một cuộc len đỏ, mà chỉ cần tìm đúng đầu dây và kéo ra, thì toàn bộ sự thật sẽ tuôn trào; ghê gớm hơn, sự thật ấy còn như một bọng máu, vỡ bục ở đoạn cuối và đi theo một hướng không ai có thể ngờ. Ái tình có sức mạnh ghê gớm đến vậy sao? Và con người chúng ta, những sinh thể phàm trần ấy, chúng ta sống những cuộc đời nào, che giấu những bí mật gì, bàn tay vấy máu những ai, và làm sao chúng ta có thể sống tiếp mà vẫn mang trong mình những bí mật ấy, những bọc máu ấy? Cách kể chuyện xen lẫn giữa hiện tại và quá khứ của Thomas cùng nhiều nhân vật khác đã phả vào câu chuyện đậm chất trinh thám này một nét hoài cổ mà mình rất thích. Có thể dễ dàng tìm thấy điểm chung giữa “Cô gái và Màn đêm” với một tác phẩm khác nữa của Musso, đó là “Cô gái Brooklyn”. Cả hai đều là câu chuyện về những cô gái với danh tính và số phận bí ẩn, cùng hành trình khám phá sự thật của những chàng trai, hành trình kéo dài chỉ trong vòng 1, 2 ngày, đưa đẩy người đọc cùng nhân vật chính đi từ khám phá này đến khám phá khác (hình như Musso là một trong những tác giả hiếm hoi có thể viết nên những câu chuyện chỉ kéo dài trong 1, 2 ngày ngắn ngủi đó mà lại khiến người đọc không rời mắt được khỏi trang sách). Cá nhân mình thì vẫn thích “Cô gái Brooklyn” hơn, vì nhịp điệu câu chuyện này hồi hộp, mang tính bất ngờ và gây nghiện hơn “Cô gái và Màn đêm”. Tuy nhiên, không thể phủ nhận là Musso đã một lần nữa cực kỳ thành công khi cho ra đời một “Cô gái và Màn đêm” hấp dẫn và xuất sắc đến như thế này. Mình đọc ngấu nghiến những trường đoạn cuối, khi sự thật được hé lộ, những khúc mắc được lý giải và Thomas làm lành với quá khứ chỉ trong sáng nay. Guillaume Musso có lẽ là một trong những tác giả hiếm hoi mà 400 trang sách của bác ấy, mình đọc hết chỉ trong 2 ngày cuối tuần ha ha ha :D :D :D *** Ôi trời đất ơi. Thật sự là một cú lừa. Guillaume Musso từ lâu đã là tác giả yêu thích của tớ, ít nhiều chính là do những quả plot twist không ngờ được ở cuối truyện. Cô Gái Và Màn Đêm cũng là một trò lừa tâm trí của Musso đối với người đọc, bởi độc giả đã bị Musso dẫn dắt vào mê cung ngay từ đầu truyện. Tác giả đã kích thích trí tò mò của người đọc bằng việc mở đầu một vụ án giết người để mà từ đó làm tiền đề, hé lộ ra quá khứ đen tối ẩn sau cuộc đời của ba người bạn cũ: Thomas, Fanny và Maxime. Cô Gái Và Màn Đêm có nội dung xoay quanh Vinca – một cô gái bí ẩn và là bạn học cùng trường của ba người bạn phía trên. Hơn nữa, Vinca cũng chính là giấc mơ, là mối tình thầm lặng của cậu học trò Thomas 18 tuổi ngày ấy. Tuy nhiên vào đêm Mười chín tháng mười hai năm 1992, cuộc sống của tất cả bọn họ đã vĩnh viễn thay đổi: Vinca biến mất một cách bí ẩn, người tình của cô là Alexis cũng không rõ tung tích. Cho đến 15 năm sau ở buổi kỷ niệm 50 năm thành lập trường, bóng ma của Cô gái Màn Đêm một lần nữa trỗi dậy, bủa vây lấy ba người bạn cũ. Những lá thư nặc danh, những lời đe dọa cùng với mối hận của Màn đêm tái hiện, gào thét đòi một sự thật tưởng như đã bị chôn vùi trong bức tường của nhà thể chất. Cái hay ở tiểu thuyết Musso đó là khả năng khơi gợi được sự hồi hộp của người đọc. Một khi đã đọc thì hoàn toàn bị cuốn theo mạch truyện tưởng như không dời mắt ra được luôn. Cô Gái Và Màn Đêm với mạch truyện rõ ràng, tội ác đan xen tội ác, vụ án chồng chất vụ án, và đủ để làm xoắn não độc giả, tung cho họ một hỏa mù. Những khi tưởng như đã biết chắc được thủ phạm nhưng hóa ra hoàn toàn trật lất, và những kẻ mình không thể ngờ lại chính là hung thủ giết người. Người đọc được theo dấu chân của Thomas tìm lại về quá khứ, cùng anh chàng tìm hiểu và khám phá ra dần dần làn sương mù bao phủ lấy sự thật chưa được soi tỏ. Đằng sau vỏ bọc cô gái hoàn hảo, hóa ra Vinca cũng đem theo mình một khía cạnh khác, một khía cạnh mà không có ai biết cũng như cái bí mật mà không ai có thể ngờ. Thực sự tớ rất ấn tượng với Thomas, bởi lẽ anh vốn là một nhà văn nhưng lại điều tra manh mối đỉnh không kém đặc vụ FBI luôn, giỏi thế chứ lị. Cô Gái Và Màn Đêm cũng giúp bản thân tớ nhận ra đúng là những người điên vì tình có thể làm mọi thứ kể cả những việc kinh khủng nhất. Và cũng chính vì quá khứ sai lầm ấy mà tất cả các nhân vật trong câu chuyện này đã đều phải sống trong sự sợ hãi và nỗi ám ảnh bao phủ lấy cuộc đời mình. Nói luôn đến plot twist, thực sự quả chốt hạ cuối cùng rất ổn luôn. Đúng là Musso rất giỏi trong việc dẫn dắt tâm trí độc giả. Các nhân vật trong Cô Gái Và Màn Đêm tài tình thế nào lại liên quan đến nhau hết. Từ Vinca, Thomas, Fanny, Maxime; cảm tưởng như số phận của họ phải bện xoắn lấy nhau vậy. Lời giải cuối truyện logic, tình tiết và những manh mối rải rác đã được lắp ghép logic với nhau để tạo thành một bức tranh hoàn chỉnh. Đúng là Musso có khác không để độc giả thất vọng bao giờ. Nhìn chung, tớ khá ưng cuốn sách mới nhất Cô Gái Và Màn Đêm của Musso. Từ nội dung, cách dẫn dắt tình huống và cả cách dịch của dịch giả. Ngoài ra tớ còn thích cả cách mà Musso cho thêm vào cuốn sách của mình những câu nói của những tiểu thuyết gia, những tác phẩm,… vv nổi tiếng nữa, đúng là gia vị quen thuộc của Guillaume Musso mà. Cô Gái Và Màn Đêm thích hợp cho mọi người để đọc, và chắc chắn fan Musso thì càng không thể bỏ qua rồi! *** 2017 Mỏm Nam Mũi Antibes. Ngày 13 tháng Năm. Manon Agostini đỗ chiếc xe công vụ ở đầu đường Chemin de la Garoupe. Nữ cảnh sát quận vừa đóng sập cửa chiếc xe Kangoo cũ kỹ vừa thầm nguyền rủa diễn biến các sự kiện đã lôi kéo cô đến tận đây. Khoảng 21 giờ, người bảo vệ của một trong những dinh thự sang trọng bậc nhất Mũi Antibes đã gọi điện đến sở cảnh sát Antibes để báo tin về một tiếng pháo hoặc tiếng súng – dù thế nào thì cũng là một âm thanh lạ – có thể đã phát ra trên con đường mòn lởm chởm đá bên cạnh khuôn viên dinh thự. Sở cảnh sát không mấy quan tâm đến cuộc gọi này, và đã chuyển nó lại cho các phòng cảnh sát quận, và cảnh sát quận không tìm ra cách gì hay hơn là liên hệ với cô, trong khi thời gian làm việc trong ngày của cô đã hết. Khi cấp trên gọi điện yêu cầu cô đến ngó qua con đường mòn ven biển đó, Manon đã diện xong đồ dự tiệc và sẵn sàng xuất phát. Cô những muốn đáp lại là ông hãy tự đi mà xem, nhưng lại không thể từ chối nhiệm vụ này. Mới sáng nay, con người nhân hậu ấy đã đồng ý cho cô giữ chiếc Kangoo sau giờ làm việc. Xe riêng của Manon vừa trút hơi thở cuối cùng, và tối thứ Bảy này, cô nhất thiết phải có phương tiện để đi đến một cuộc hẹn rất quan trọng với mình. Trường trung học Saint-Exupéry, nơi cô từng theo học, tổ chức kỷ niệm năm mươi năm ngày thành lập, và nhân dịp này, đám bạn cũ lớp cô sẽ tụ họp trong một bữa tiệc. Manon thầm hy vọng tại bữa tiệc cô sẽ gặp lại anh chàng từng để ý đến mình trước đây. Một anh chàng khác biệt so với những người khác, mà hồi ấy cô đã ngốc nghếch bỏ qua, vì thích những người lớn tuổi hơn, những gã rốt cuộc đều đã chứng tỏ bọn họ chỉ là những kẻ đần độn ngu xuẩn. Niềm hy vọng đó chẳng hề có căn cứ – thậm chí cô còn không chắc anh chàng ấy sẽ có mặt ở bữa tiệc, và hẳn là anh ta cũng đã lãng quên cả sự tồn tại của cô – nhưng cô cần tin rằng rốt cuộc sẽ có điều gì đó xảy ra trong đời mình. Cắt sửa móng tay, làm tóc, mua sắm: Manon đã sửa soạn suốt cả chiều. Cô đã tặc lưỡi chi ba trăm euro cho một chiếc váy suông bằng đăng ten màu xanh đen pha jersey lụa, mượn chiếc vòng cổ ngọc trai của chị gái và đôi giày cao gót của cô bạn thân – một đôi Stuart Weitzman bằng da đanh khiến chân cô đau nhức. Chênh vênh trên đôi giày cao gót, Manon bật đèn pin điện thoại và bước vào con đường hẹp, chạy dọc hơn hai ki-lô-mét ven bờ biển cho đến tận Biệt thự Eilenroc. Cô biết rất rõ nơi này. Hồi cô còn là một đứa trẻ, bố thường đưa cô đi câu trong những vũng nhỏ ở đây. Ngày xưa, dân khu vực này gọi đây là con đường của hải quan hoặc đường mòn của dân buôn lậu. Sau này, nơi đây xuất hiện trong các cẩm nang du lịch dưới cái danh xưng nên thơ là đường mòn Tire-Poil1. Ngày nay, nó mang cái tên nhạt nhẽo hơn, vô vị hơn, là đường mòn ven biển. Đi được chừng năm chục mét, Manon vấp phải một hàng rào có gắn tấm biển cảnh báo: Khu vực nguy hiểm – cấm vào. Giữa tuần vừa rồi đã xảy ra một cơn bão lớn. Những cơn sóng biển dữ dội đã làm đất đá sụt lở nghiêm trọng, khiến người ta không thể đi dạo ở một số điểm nữa. Manon lưỡng lự một lát rồi quyết định bước qua hàng rào. 1992 Mỏm Nam Mũi Antibes. Ngày 1 một tháng Mười. Tâm hồn vui phơi phới, Vinca Rockwell nhảy chân sáo đi qua trước bãi biển Joliette. Đã 10 giờ tối. Để từ trường trung học đến được tận đây, cô đã phải thuyết phục một cô bạn cùng lớp văn học, người có một chiếc xe máy, chở mình tới đầu đường Chemin de la Garoupe. Khi rẽ vào con đường mòn của dân buôn lậu, cô cảm thấy kích thích ở vùng bụng dưới. Cô sắp gặp lại Alexis. Cô sắp gặp lại tình yêu của mình! Gió thốc dữ dội, nhưng đêm thật đẹp và trời quang đãng đến nỗi cảnh vật nhìn rõ gần như ban ngày. Vinca vẫn luôn yêu mến nơi này, bởi vì nó hoang dã và không giống với hình ảnh mùa hè French Riviera2 bị hiểu sai lệch đi. Dưới ánh mặt trời, ta sững sờ trước sắc trắng và đỏ son chói lọi của những vách đá vôi, và trước vô vàn những biến tấu của sắc xanh bao trùm những vùng vịnh nhỏ. Một lần, khi nhìn về phía quần đảo Lérins, thậm chí Vinca còn thoáng thấy những chú cá heo. Khi có gió lớn, như tối nay, khung cảnh thay đổi hoàn toàn. Những vách đá dốc đứng trở nên nguy hiểm, những cây ô liu và thông dường như đang oằn mình vì đau đớn, như thể chúng đang tìm cách rứt mình khỏi mặt đất. Nhưng Vinca không quan tâm. Cô sắp gặp lại Alexis. Cô sắp gặp lại tình yêu của mình! 2017   Chết tiệt! Một trong hai gót giày của Manon vừa gãy gập. Chết tiệt! Trước khi đến bữa tiệc, cô sẽ phải vòng về qua nhà, và ngày mai, sẽ bị cô bạn thân mắng cho một trận. Cô tháo giày, nhét vào túi xách rồi tiếp tục bước đi trên đôi chân trần. Cô vẫn đi theo vệt đường mòn hẹp nhưng được đổ bê tông vắt chênh vênh trên những vách đá. Không khí trong lành khiến cô phấn chấn hẳn lên. Gió mistral khiến màn đêm trở nên quang đãng và phủ đầy sao lên bầu trời. Tầm nhìn ngoạn mục trải dài từ những bức tường thành của khu Antibes cổ kính đến tận vịnh Nice, vượt qua những ngọn núi làm nền ở hậu cảnh. Ẩn hiện bên dưới, đằng sau những cây thông, là một vài trong số những dinh thự đẹp nhất Côte d’Azur. Người ta nghe thấy tiếng những con sóng tung bọt trắng và cảm nhận được toàn bộ sức mạnh cũng như quyền lực của nước triều. Trong quá khứ, nơi này từng chứng kiến những tai nạn thảm khốc. Sóng lừng đã cuốn đi nhiều ngư dân, du khách hoặc những cặp tình nhân ra hôn nhau nơi mép nước. Dưới sức ép của những lời chỉ trích, chính quyền đã buộc phải cải thiện mức độ an toàn của con đường bằng cách xây dựng những cầu thang kiên cố, cắm cọc tiêu trên lối đi và dựng hàng rào để hạn chế ý thích bốc đồng của những người đi dạo muốn ra quá sát mép nước. Nhưng chỉ cần gió thốc trong vòng vài giờ đồng hồ là nơi này lại trở nên rất nguy hiểm. Manon đi đến đúng chỗ một cây thông Alep bị đổ gục, làm bật tung tay vịn khỏi hàng rào và chắn ngang lối đi. Không thể đi xa hơn nữa. Cô nghĩ mình nên quay trở lại. Nơi này chẳng có lấy một bóng người. Gió mistral thốc mạnh đã làm nhụt chí những người đi dạo. Chuồn thôi, cô mình ơi. Cô đứng sững tại chỗ và lắng nghe tiếng gió gầm gào. Tưởng như nó đang cuốn theo những lời than thở, vừa gần lại vừa xa. Một mối đe dọa ngấm ngầm. Mặc dù đang đi chân trần, Manon vẫn leo lên một vách đá để vòng qua chướng ngại vật và tiếp tục hành trình, với nguồn sáng duy nhất là đèn pin của điện thoại. Một khối sẫm màu hiện lên dưới chân vách đá. Manon nheo mắt. Không, cô đứng quá xa nên không nhìn rõ. Cô thử tìm cách đi xuống, hết sức cẩn trọng. Có tiếng rách xoạc. Gấu váy đăng ten vừa rách, nhưng cô không để ý. Lúc này, cô đã nhìn rõ hình dáng khiến cô tò mò. Đó là một cái xác. Cái xác của một phụ nữ, bị vứt trên mỏm đá. Càng lại gần, cô càng cảm thấy kinh hoàng. Đây không phải một vụ tai nạn. Khuôn mặt người phụ nữ đã bị dập nát đến nỗi chỉ còn là một đám bầy nhầy đẫm máu. Lạy Chúa. Manon cảm thấy hai chân bủn rủn, và tưởng mình sắp xỉu xuống đến nơi. Cô mở khóa điện thoại để gọi cứu hộ. Không có sóng, nhưng màn hình vẫn hiển thị dòng chữ: Chỉ gọi số khẩn cấp. Đang định ấn nút gọi thì Manon nhận ra nơi này không chỉ có mình cô. Một người đàn ông giàn giụa nước mắt đang ngồi cách đó một chút. Có vẻ suy sụp, ông ta khóc nức nở, hai tay bưng mặt. Manon hoảng hồn. Đúng lúc này, cô hối tiếc vì đã không mang theo súng. Cô cẩn thận tiến lại gần. Người đàn ông đứng dậy. Khi ông ta ngẩng đầu lên, Manon nhận ra đó là ai. “Chính tôi đã gây ra chuyện này,” ông ta vừa nói vừa giơ ngón tay chỉ vào cái xác. 1992   Duyên dáng và nhẹ nhàng, Vinca Rockwell nhảy nhót trên các vách đá. Gió thổi càng lúc càng mạnh. Nhưng Vinca thích thế. Sóng lừng, hiểm nguy, sự ngất ngây vì gió biển, những vách đá dốc đứng khiến người ta chóng mặt. Chẳng thứ gì trên đời lại khiến cô ngất ngây như cuộc gặp với Alexis. Một cảm giác choáng váng trọn vẹn, choáng váng đến tột bậc. Sự hòa trộn của cả thể xác và tâm hồn. Cho dù cô có sống đến trăm tuổi, cũng chẳng thứ gì có thể sánh được với ký ức này. Viễn cảnh được gặp lại Alexis trong bí mật, được cùng Alexis yêu nhau trong hõm vách đá khiến cô ngây ngất. Cô cảm thấy làn gió ấm bao bọc toàn thân, thổi quanh hai chân, tốc vạt váy cô, chẳng khác nào khúc dạo đầu của màn yêu đương mà cô đang chờ đợi. Trái tim đập thình thịch, luồng hơi nóng bốc lên cuốn ta đi trong niềm ngây ngất, máu dồn lên, những phập phồng khiến từng xăng-ti-mét trên thân thể ta run rẩy. Cô sắp gặp lại Alexis. Cô sắp gặp lại tình yêu của cô! Alexis chính là bão tố, là màn đêm, là thời khắc hiện tại. Tự đáy lòng, Vinca biết rằng cô đang làm một chuyện ngu ngốc, và tất cả sẽ kết thúc theo cách tồi tệ. Nhưng có lẽ cô sẽ không đánh đổi niềm phấn khích lúc này lấy bất cứ thứ gì trên đời. Chờ đợi, yêu đương điên cuồng, cảm giác ngọt ngào đau đớn khi được màn đêm cuốn đi. “Vinca!” Đột nhiên, vóc dáng Alexis hiện ra giữa bầu trời quang đãng, dưới bóng trăng tròn vành vạnh. Vinca bước thêm vài bước để đến sát bên bóng người ấy. Trong chớp mắt, dường như cô có thể cảm nhận được niềm lạc thú sắp đến. Mãnh liệt, nóng bỏng, không thể kiểm soát. Hai thân thể trộn lẫn và tan biến vào nhau cho đến khi hòa cùng sóng gió. Những tiếng hét hòa vào tiếng kêu của lũ hải âu. Những cơn co thắt, đợt bùng nổ quật ngã ta, ánh chớp trắng sáng và chói lòa lan tỏa bao trùm lấy ta và khiến ta có cảm giác toàn bộ thân thể mình tan tác khắp nơi. “Alexis!” Cuối cùng, khi Vinca ôm siết lấy chủ thể tình yêu của mình, một giọng nói bên trong lại thì thầm với cô rằng tất cả những chuyện này sẽ kết thúc theo cách tồi tệ. Nhưng cô gái trẻ không đếm xỉa đến tương lai. Tình yêu là tất cả hoặc chẳng là gì hết. Chỉ có thời khắc hiện tại là quan trọng. Sự quyến rũ cháy bỏng và độc địa của Màn đêm. Nghĩa là: Nhíp nhổ lông. (Mọi chú thích nếu không có lưu ý gì thêm đều của người dịch.) Phần bờ biển Địa Trung Hải thuộc Pháp, tiếng Pháp là Côte d’Azur.   Mời các bạn đón đọc Cô Gái Và Màn Đêm của tác giả Guillaume Musso & Bình An (dịch).
Cô Dâu Áo Đen
Rùng mình, li kì, hồi hộp. Cô Dâu Đen là một cuốn tiểu thuyết trinh thám hình sự với những bí ẩn kinh dị theo kiểu cổ điển. Tin chắc rằng, sau khi đọc cuốn sách này, nó sẽ ám ảnh bạn trong một thời gian dài. Cách tác giả xây dựng câu chuyện, người đọc như được bao quanh bởi sự mờ hồ. Càng đọc bạn sẽ càng bị lôi cuốn nhiều hơn. Đằng sau tấm khăn choàng cô dâu, hung thủ thật sự là ai? Từng người một, những người đàn ông đang hấp hối, những cái chết có vẻ như vô tình và chẳng hề liên quan đến nhau. Mối liên kết duy nhất là trước khi chết, người mà các nạn nhân nhìn thấy cuối cùng là một người phụ nữ mặc áo cưới màu đen và những lời nói ngắn ngủi, khó hiểu của cô. Họ không biết cô là ai, cô đến từ đâu hay tại sao cô bước vào cuộc đời họ. Trước mắt họ, cô hóa thân thành nàng thơ kiều diễm, người tình trong mộng, nữ thần săn bắn Diana lùa con mồi vào chỗ chết. Mỗi lần cô xuất hiện, một người đàn ông sẽ bị bỏ bùa. Mỗi khi cô biến mất, một kẻ xấu số sẽ phải bỏ mạng. *** CÔ DÂU ĐEN – Cornell Woolrich Cấu trúc của truyện theo mình tương đối độc đáo. Tác giả giới thiệu luôn nhân vật chính là cô gái tên Judith đồng thời cũng là thủ phạm ngay từ đầu, sau đó trong các sự kiện diễn tiến tiếp theo, nhân vật cô gái chỉ xuất hiện trong vai trò thứ hai. Mạch truyện đặc biệt ở đây là do tác giả đi theo các nạn nhân vốn là nhân vật phụ thì đóng vai trò then chốt để đẩy mạnh cốt truyện, thay vì đi theo nhân vật trọng tâm, nhân vật chính là cô gái. Nhưng ta vẫn luôn biết Judith là nhân vật chính, vì được giới thiệu ngay từ đầu và xuất hiện xuyên suốt trong toàn bộ câu chuyện, ngoài nhân vật thanh tra Wanger. Câu chuyện được chia theo các chương tương ứng với mỗi nạn nhân, mà sau đó cái chết của họ đều bị gây ra bởi một người phụ nữ bí hiểm mà người đọc đều biết nhân dạng là Judith được giới thiệu từ đầu truyện. Trong từng mẩu truyện nhỏ này tác giả lại lần lượt giới thiệu nhân vật chính – nạn nhân – với đầy đủ tính cách, gia cảnh thế nào, rồi gặp gỡ thủ phạm – Judith – tiếp xúc với cô, và cuối cùng chết, rồi cảnh sát tham gia điều tra, và kết thúc câu chuyện. Cái hay là tác giả thay đổi các phương thức giới thiệu nhân vật, diễn tiến từng vụ án diễn ra khá đa dạng từ góc độ của người quan sát. Người đọc được tham gia trực tiếp vào quá trình gây án, và đôi khi cảm thấy rất bức bối, khó chịu khi biết thủ phạm ở ngay đó, ngang nhiên phạm tội trong khi nạn nhân vẫn ngây ngô không biết gì. Nhưng xen kẽ với sự bức bối đó lại là sự tò mò, hồi hộp dần dần tăng lên khi người đọc muốn biết lần này thủ phạm sẽ gây án kiểu gì, khác với các lần trước thế nào, sẽ gặp những khó khăn gì. Qua đó mình lại thấy tính cách của Judith – hung thủ – dần dần được bộc lộ qua mỗi lần giết người: một con người tính toán, mưu mô, rất thông minh, nhưng đồng thời có những giá trị đạo đức rất rõ ràng. Tuy vậy, người đọc vẫn sẽ chưa đồng cảm đủ với Judith, cớ nào mà cô phải ra tay giết những người đó? Các nạn nhân trong truyện được mô tả không hề xấu xa, mà ngược lại, họ cũng có ước mơ, có gia đình, có người yêu thương. Kết thúc mỗi vụ án là sự bất lực, bó tay của thanh tra Wanger trong việc điều tra. Bình thường đọc ở nhiều cuốn crime thriller thì việc này sẽ khiến mình ức chế. Nhưng với cách xây dựng cốt truyện đặc biệt ở đây thì vai trò của cảnh sát không được tô vẽ quá nhiều, khiến mình cũng thấy việc Wanger phải đóng lại vụ án mà không truy ra được nghi phạm rất bình thường, vì mạch hấp dẫn chủ yếu nằm ở chính đường dây của nhân vật Judith. Vì vậy, tác giả gói gọn lại toàn bộ quá trình điều tra ở mẩu truyện cuối cùng rất gọn ghẽ. Vì cuốn này không phải là trinh thám suy luận nên những gì mà Wanger tiết lộ và giải thích động cơ hành động của hung thủ được trình bày thành một bài dài dòng, đủ hợp lý, chứ không có những chứng cứ cụ thể rải rác trong suốt cuốn sách. Theo mình thì truyện khá dễ đọc, dễ hiểu, không cần phải động não trong quá trình phá án. Cốt lõi của truyện là người đọc tham gia vào hành động của Judith, nhưng bị giấu đi nguyên nhân tại sao cô ấy lại làm thế, cho đến cuối cùng, thanh tra trực tiếp vào cuộc và giải mã những chuỗi án mạng này. Nhưng trong lời giải thích đó người đọc, và chính hung thủ lại được tiết lộ một bí mật mới, khốc liệt hơn nhiều và khiến tất cả chúng ta, người đọc lẫn nhân vật chính, bàng hoàng và cảm thấy mọi thứ xảy ra từ đầu đến giờ thật vô nghĩa. *** Hương Spy Những người đàn ông không biết cô là ai, cô đến từ đâu hay tại sao cô bước vào cuộc đời họ. Trước mắt họ, cô luôn hoá thân thành nàng thơ kiều diễm, người tình trong mộng, nữ thần săn bắn Diana lùa con mồi vào chỗ chết. Mỗi lần cô xuất hiện, một người đàn ông sẽ bị bỏ bùa. Mỗi khi cô biến mất, một kẻ xấu số sẽ phải bỏ mạng. Những vụ án mạng rời rạc tưởng chừng không liên quan gì đến nhau. Dường như thanh tra Lew Wanger là người duy nhất nhận ra điểm chung giữa chúng: sự hiện diện của một nữ nghi phạm xinh đẹp, người luôn biến mất một cách bí ẩn ngay sau khi gây án. Liệu ông có kịp thời tìm ra CÔ DÂU ĐEN trước khi người phụ nữ nguy hiểm ấy hoàn tất hành trình trả thù đẫm máu của mình? Vẫn kết cấu như Điểm hẹn đen, 5 vụ án, nhưng ở quyển này chỉ có 4 nạn nhân. Cô gái trong Cô dâu đen mang một cá tính rất khác biệt. Nàng ta khéo léo đi giữa thành phố, lần lượt lần lượt giết những người đàn ông khác nhau, mỗi lần xuất hiện là một ngoại hình khác. Điều mình thích ở cô nàng sát thủ này chính là cô nàng tuy giết người nhưng rất tốt, cô không làm liên lụy đến bất cứ ai. Khi có thể ngụy tạo bằng chứng vu oan cho người khác, cô nàng không làm. Khi người khác trở thành kẻ tình nghi, cô nàng gọi điện luôn đến sở cảnh sát để chứng minh. Điểm hấp dẫn nhất của Woolrich làm mình chưa bao giờ thất vọng đó chính là giọng văn rất mượt mà, khắc hoạ rất rõ tâm lí của từng nhân vật trong truyện, từ thủ phạm – đa phần là những cô gái hay chàng trai bị mất người yêu hoặc vợ, chồng ngay trước ngày kết hôn đến những nạn nhân của từng vụ án – không hề biết là mình sắp bị giết. Mặc dù thiên về tâm lí nhưng truyện của ông thường khá mỏng với khổ bé. Thích hợp cho những người thích đọc liền mạch. Đặc biệt đến cuối truyện, 1 cú plot twist to đùng làm mình khá bất ngờ. Dường như những thứ tận mắt mình nhìn thấy cũng chưa chắc đã là sự thật. Chốt lại, nếu có điều kiện, chắc chắn mình sẽ sưu tầm đủ bộ sách của Cornell Woolrich để đọc. Điểm: 7,5/10 *** Minh Sơn Cô dâu đenCÔ DÂU ĐEN 1. Về tựa đề sách: Cô dâu đen. Một cái tên đơn giản, dễ hiểu tóm gọn trong 3 từ, thâu tóm và làm nổi bật được chủ đề của câu chuyện. Một cô dâu “đen” đúng nghĩa. 2. Hình thức Bìa theo mình chưa ấn tượng lắm. Sách cầm vừa tay và số lượng trang cũng vừa phải. Dịch thuật khá ổn. Tuy nhiên một số lỗi cơ bản vẫn xuất hiện trong cuốn này: lỗi chính tả, dính chữ… Về cơ bản vẫn chấp nhận được. 3. Về cốt truyện Cái cách mà Woolrich xây dựng cốt truyện trong Cô dâu đen: không màu mè, đơn giản mà hiệu quả, lôi cuốn. Nếu bạn đọc đang tìm một cuốn trinh thám nhập môn, bắt đầu tìm hiểu về trinh thám với cốt truyện không rườm rà, không lan man thì Điểm hẹn đen là một trong những lựa chọn tuyệt vời. Nhịp điệu vừa phải, không quá nhanh cũng không quá chậm đủ để người đọc vừa theo dõi vừa kịp suy ngẫm. 4. Tuyến nhân vật Nhân vật được xây dựng ở mức tròn vai. Ngoại trừ “cô dâu đen” nhỉnh hơn một chút. “Cô dâu đen” xinh đẹp, đa tài, suy luận sắc bén, quyết đoán,… chỉ tiếc là đã nhúng chàm và mãi không thể có hạnh phúc trọn vẹn. Chấm điểm: 8.0/10 (phê) *** Phan Thế Sơn Cornell Woolrich (1903-1968) được coi là một trong những nhà văn lớn trong thể loại truyện noir fiction (tiểu thuyết đen). Ông cũng là tác giả trinh thám có số lượng lớn truyện chuyển thể thành phim. Những bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết của Woolrich thường trở thành những phim ăn khách. Cô dâu đenCÔ DÂU ĐEN 4 vụ án 4 người đàn ông bị giết bởi một phụ nữ trẻ trung xinh đẹp đầy bí ẩn. Không ai biết về người phụ nữ trẻ đó. Nàng xuất hiện không ai hay, ra đi bỏ lại đằng sau xác 1 nam nhân to cao cường tráng… Nàng thực hiện 4 vụ án theo 4 cách khác nhau, khi thì xuất hiện như 1 nàng thơ xinh đẹp, lúc thì giống nữ thần săn bắn, hay người trong mộng của các nạn nhân. Họ không hay biết về sự nguy hiểm đang rình rập mình… khi phát hiện ra đã quá muộn màng… Nàng vẫn tiếp tục dấn bước để trả thù. Danh sách những cái tên cần phải xóa bỏ vẫn còn.. Toàn cuốn sách được bao phủ bởi một bầu không khí bất an, làm người đọc hồi hộp … với bóng tối và những cái chết bất ngờ… Những vụ án trên xảy ra ở địa bàn thanh tra Lew Wanger phụ trách. Không ai ngoài ông đã phát hiện ra sự liên quan giữa các vụ án. Ông có tìm ra nàng và lý do tại sao 1 người đẹp mỏng manh như nàng lại quyết tâm theo đuổi 1 quá trình trả thù đẫm máu như vậy… Sau rốt, đến những trang cuối cùng bạn vẫn còn bị 1 cú lừa ngoạn mục của tác giả… Huỳnh Thu Giang   *** Cô dâu đen - Cornell Woolrich Tác giả: Cornell Woolrich Phát hành: Sách Phúc Minh Reviewer: Điền Yên  —– Đây là cuốn thứ hai của Cornell Woolrich mà tôi đọc, sau Ám ảnh đen. Mặc dù nhan đề cũng có chữ “đen” nhưng không u ám, huyền bí như cuốn kia. Nhân vật trung tâm là một cô gái xinh đẹp, thông minh, nhưng hơn tất cả, nàng giết người bằng lòng thù hận, quyết tâm và bình thản như thiên thần giáng thế. Nàng biết rõ việc mình làm, tính toán cẩn thận, điềm tĩnh và khoáng đạt hơn vô số thủ phạm tôi từng xem qua. Nàng thay hình đổi dạng để tiếp cận nạn nhân, không ai có thể nghi ngờ câu chuyện nàng bịa ra nên tất cả các nạn nhân đều như chết vì tai nạn bất ngờ. Rồi nàng biến mất không vết tích, cho đến vụ án sau. Điều tuyệt vời nhất là nàng không lạm sát. Tôi đã đọc rất nhiều truyện, thủ phạm vì nhằm mục đích che giấu bản thân mà giết người vô tội. Truyện này thì không. Nữ chính chỉ giết người nàng muốn giết. Thậm chí, khi biết có người vô tình bị liên lụy, nàng lập tức gọi đến đồn cảnh sát yêu cầu thả người bằng vẻ lãnh đạm, bình thản, và thấu suốt đến mức tôi muốn yêu nàng. Công bằng mà nói, tính trinh thám của Cô dâu đen không nhiều. Các vụ án rơi vào bế tắc vì cảnh sát không tìm ra động cơ và mối liên quan giữa thủ phạm và nạn nhân chứ dấu vết hình sự để lại có mà hàng đống. Nếu không vì sự nhầm lẫn của anh chàng nhân viên mới thì nàng vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật. Thế nhưng cuốn sách này, bạn nhất định nên xem vì nữ chính hấp dẫn vô cùng, quyến rũ trên từng hành động, đến giây phút cuối cùng. Tôi thật muốn nói với nàng: “Chị đại, chị là nữ, em vẫn yêu.” Nếu xuyên thư, tôi sẽ xuyên vào thời điểm đầu truyện, cứu vớt đời nàng và we live happily ever after. *** Dang Thi Quynh Anh Thật ra ban đầu không định mua Cô Dâu Đen của Cornell Woolrich về đọc. Lý do không mua thì rất đơn giản, thấy chữ cô dâu thì nghĩ ngay đến mấy chụy nữ bị phụ tình gì đó rồi hận nọ kia, sau đó thì cả cuộc đời chìm trong oán thán, tâm lý nặng nề, xin lỗi styles đó không hợp với mình. Mình chỉ thích giết tì tì chết tè tè, càng giết nhiều chết nhiều càng khoái. Hehe. Nhưng anh Nam Đỗ nói cuốn này thuộc gu của cô đó, đọc cũng nhanh, ok mua luôn, và rồi mới biết được nếu không có Nam Đỗ mình đã bỏ lỡ 1 tác phẩm hay ơi là hay. Ngay từ đầu vô tác giả khiến tôi đồng cảm sâu sắc với nữ chính, dù rằng chưa rõ lắm lý do bả giết người nhưng chắc cú bả giết là có cái lý của bả. Mấy thằng bị giết dù không rõ ràng lắm hồi trước bọn nó làm gì nhưng chắc là chúng đáng chết. Nhưng bên cạnh đó thì có cái gì đó là lạ, kiểu như sao tôi lại thấy thương cho nạn nhân, tôi không ác cảm gì với bọn họ. Một anh chàng rất galang, lịch sự với phụ nữ. Một anh chàng với trái tim lãng mạn. Một anh họa sỹ hiền lành, nhiệt huyết với công việc. Và đặc biệt, nạn nhân mà tôi thích nhất, một ông chồng có chức cao nhưng sẵn sàng để vợ sai khiến mua nước tương mắm muối khi bả cần, luôn luôn lắng nghe mặc dù nhiều khi không hiểu mấy lời dặn dò lê thê không đâu vào đâu của bả mà không cáu kỉnh, vẫn đầy yêu thương bao dung. Một người cha rất khoa học với con cái, không la rầy, thậm trí là không thể hiện chữ stop với hàng loạt hành động chơi tới không có điểm dừng của con trẻ. Hazzz, nhưng nạn nhân với phẩm hạnh tuyệt vời như thế đã phạm phải tội ác gì mà khiến nữ chính điên cuồng trả thù??? Một câu hỏi lớn, mở ra quá khứ đầy đau thương, có bức xúc, phần nộ, tuyệt vọng hối hận tè le hột me luôn. Mỏng mỏng ít trang, truyện nhỏ mà có võ, hồi hộp và bất ngờ tới phút cuối cùng. Truyện hay nhưng ấn tượng sâu sắc với tôi là thoại, công nhận thoại cực hay, hài hước dí dỏm thông minh. Thoại chất, chỉ vài chữ mà chứa quá trời thứ, từ hé lộ dấu vết để suy luận, làm dịu không khí, chọc cười nhẹ nhàng….vv.vvv Túm lại, nôm na rằng, tác phẩm cô dâu đen như 1 cô gái đẹp nếu thêm nữa thì thừa mà bớt đi thì lại thiếu. Nó vừa khít rồi. Điểm: 8.75 *** Tà Ngô Đọc tiểu thuyết trinh thám mà tôi cứ ngỡ mình đang đọc một cuốn tản văn nào đó. Một lối hành văn hết sức bình thản, nhẹ nhàng, thậm chí còn có cảm giác như cuộc sống trong cuốn sách này chậm đi một nhịp so với đời thực. Một người phụ nữ với 4 nạn nhân, những người đàn ông bị giết với những phương thức gây án gần như là một, chỉ khác ở cách thức thực hiện. Nhưng vẫn là nó, vẫn là cái thái độ thân tình đó. Cô ta luôn xuất hiện hết sức nhẹ nhàng, dễ dàng lấy được cảm tình của tất thảy nạn nhân mặc dù như không quen biết và tự thấy 4 anh chàng này quá ư là dễ tin người. Quá tài tình trong việc chuẩn bị tươm tất cho “trò chơi giết người” của mình và lại biến mất một cách không có chút dấu vết. Đọc lần lượt các vụ án mạng tôi phải liên tục thốt lên rằng “ôi, một người phụ nữ biến thái”. Bạn dễ dàng nhận ra cô ta là kẻ gây án nhưng không tài nào lí giải được động cơ. Tất cả những gì Woolrich cho chúng ta biết về cô dâu đen chỉ là vẻ đẹp đầy thu hút rồi biến mất và để lại đằng sau là những cái chết bất ngờ. Nhưng, cô ta là 1 “quân tử” đúng nghĩa, dám làm dám nhận. Thực sự thì may mắn là cuốn sách không quá dày và trí tò mò của tôi khá lớn nên đã không bỏ lỡ cái hay ẩn giấu ở đằng sau. Vừa đọc vừa hi vọng vừa chờ đợi một cái gì đó thật khác nhất sẽ có. Khi người ta thông báo đến vụ án thứ 5 mà tôi cứ sợ, sợ rằng cái kết quá đơn giản làm tôi thất vọng về cuốn sách này. Nhưng, ôi may quá, chương cuối này ẩn chứa một sự thật đáng kinh ngạc, điều tôi hi vọng đến 1 cách tuyệt diệu đến ngỡ ngàng, 1 cú lừa ngoạn mục của Woolrich. Đảo ngược vị trí của con mồi và kẻ đi săn. Một thứ hận thù mù quáng đã nhuốm đen trái tim thuần khiết đó. Ôi thôi, tôi nói nhiều quá rồi, các bạn đọc đi nhé. ~ 8/10 *** Thương Nguyễn Cô dâu đen  là cuốn truyện trinh thám khá lạ. Bốn vụ án mạng đã xảy ra. Bốn người đàn ông bị chết bởi bốn cách khác nhau. Trước khi họ bị chết không biết tình cờ hay cố ý mà họ đều gặp một người phụ nữ bí ẩn. Cô ta vô cùng xinh đẹp, thông minh, sắc sảo nhưng vô cùng bí ẩn. Họ bị thu hút bởi cô. Họ không hề quen biết cô. Vậy tại sao họ đều bị chết sau khi gặp cô. Người phụ nữ bí ẩn này là ai? Cô có liên quan gì tới những người đàn ông bị giết? Động cơ gây án là gì? Là tác phẩm mở màn cho thời kỳ huy hoàng của Woolrich, Cô dâu đen không hoàn toàn là cuốn tiểu thuyết trinh thám đen thông thường mà còn mang giá trị nghệ thuật. Cuốn tiểu thuyết không tập trung khai thác những yếu tố giật gân, gây sốc mà khai thác vào cốt truyện, lời thoại và việc “đặc tả” nhân vật – cô gái xinh đẹp tựa nữ thần nhưng lại luôn mặc áo cưới và khăn mạng che mặt màu đen. Cô Dâu Đen – đúng như cái tên của nó là một câu chuyện nhuốm màu đen tối. Tội ác, chết chóc, báo thù và công lý. Tất cả cuốn sách có thể gói gọn trong từng ấy câu. Thế nhưng trên nền một câu chuyện đơn giản tác giả lại có thể viết lên cả một tác phẩm ghi dấu ấn sâu đậm trong dòng văn chương ông theo đuổi. Quả thực điều này không dễ dàng. Truyện mở đầu rất lặng lẽ, cảm khái, như một khúc nhạc du dương: “… Đôi bờ vai trắng ngần nhô cao trên bộ váy đen nhiều lớp đã làm tan biến bầu không khí lãng mạn trong ngày cưới…”, cùng vẻ đẹp thanh nhã đó là ánh mắt lạnh lùng hình viên đạn với khuôn mặt kiều diễm sẽ làm tim bạn đóng băng khi chiêm ngưỡng nó. Cô len lỏi, lảng tránh, giễu cợt làm nản lòng các quý ông trong bữa tiệc cưới. Để rồi cái chết đến thật bất ngờ chớp nhoáng nhanh điện xoẹt. Cô đến và đi trong gió, rất điềm tĩnh, tự tin để lại bao nhiêu nỗi hoài nhớ. Cô đẹp mơ màng, quyến rũ chết người, một cái chết ngọt lịm tỏa ra từ vẻ đẹp mê hồn của nữ thần băng giá. Cô tôn trong trực giác, vì vậy mà may mắn luôn mỉm cười với cô; ra tay rất chậm dãi, ung dung, thư thái, mạnh mẽ một cách lặng lẽ. Cô luôn tìm kiếm săn đuổi một cách kiên định bằng đôi mắt xanh biếc, sâu thẳm và sắc bén liếc nhìn như tia X làm tan biến tất cả. Với cô có những thứ chỉ được đổi bằng tính mạng. Vẫn là những vụ giết người quỷ khóc thần sầu làm cho thanh tra Wanger lực bất tòng tâm, ảo não suy tư ròng rã mấy năm trời theo đuổi. Mỗi lần cô xuất hiện thì cái chết đến mà không báo trước, tuy tàn nhẫn nhưng cô xuống tay rất đẳng cấp rất đẹp. Lối viết cũng rất lạ khi bạn biết hung thủ là người phụ nữ bí ẩn nhưng lại không tìm ra đâu là động cơ gây án, tại sao cô ta lại hành động như vậy? Cô ta thoáng xuất hiện trước khi các nạn nhân bị chết nhưng cũng lại biến mất một cách đầy bí ẩn như chưa hề có bóng dáng mình ở đó. Mời các bạn đón đọc Cô Dâu Áo Đen của tác giả Cornell Woolrich & Trang An (dịch).
Cò Súng Tử Thần
“Cò súng tử thần” là một tiểu thuyết trinh thám kể về nhân vật chính “James Bond” đã giành chiến thắng trước tên tội phạm đầu sỏ Auric Goldfinger, nhưng cả một cuộc chiến mới đã lại bắt đầu. Cùng với cô nàng Pussy Galore xinh đẹp, Bond từ Mỹ trở về nhà chỉ biết rằng SMERSH, tổ chức gián điệp Xô Viết đối thủ đang lên kế hoạch phá hoại một giải đua xe Grand Prix. Và thế lại là một nhiệm vụ mới cho Bond: ngăn chặn SMERSH. Nhưng trò chơi mèo đuổi chuột tốc độ cao đầy kích thích và nguy hiểm trên đường đua ấy hóa ra chỉ là khúc dạo đầu. Cuộc chạm trán tình cờ với một tay tỷ phú Triều Tiên bí ẩn còn dẫn Bond tới những âm mưu nhiều lần khủng khiếp hơn thế. James Bond đã giành chiến thắng trước tên tội phạm đầu sỏ Auric Goldfinger, nhưng cả một cuộc chiến mới đã lại bắt đầu. Cùng với cô nàng Pussy Galore xinh đẹp, Bond từ Mỹ trở về nhà chỉ để biết rằng SMERSH, tổ chức gián điệp Xô Viết đối thủ, đang lên kế hoạch phá hoại một giải đua xe Grand Prix. Và thế là lại một nhiệm vụ mới cho Bond: ngăn chặn SMERSH. Nhưng trò chơi mèo đuổi chuột tốc độ cao đầy kích thích và nguy hiểm trên đường đua ấy hóa ra chỉ là khúc dạo đầu. Cuộc chạm trán tình cờ với một tay tỷ phú Triều Tiên bí ẩn còn dẫn Bond tới những âm mưu nhiều lần khủng khiếp hơn thế *** Loạt tác phẩm James Bond xoay quanh một nhân vật mật vụ người Anh hư cấu, được sáng tạo bởi nhà văn Ian Fleming vào năm 1953. Fleming đã khắc họa Bond trong 12 cuốn tiểu thuyết và 2 tuyển tập truyện ngắn. Sau khi ông qua đời vào năm 1964, đã có tám tác giả tiếp tục viết tiếp các tác phẩm tiểu thuyết hoặc tiểu thuyết chuyển thể về James Bond, bao gồm: Kingsley Amis, Christopher Wood, John Gardner, Raymond Benson, Sebastian Faulks, Jeffery Deaver, William Boyd và Anthony Horowitz. Forever and a Day của Anthony Horowitz, xuất bản vào tháng 5 năm 2018, là cuốn tiểu thuyết James Bond mới nhất. Ngoài ra, có thể kể đến loạt truyện viết về Bond thời trẻ của Charlie Higson hay Kate Westbrook với bộ ba tiểu thuyết dựa trên cuốn nhật ký của Moneypenny, một nhân vật từng xuất hiện trong loạt truyện. Nhân vật James Bond còn được biết tới với mã tên 007, được chuyển thể rộng rãi thành các tác phẩm truyền hình, phát thanh, truyện tranh, trò chơi điện tử và phim ảnh. Loạt phim về James Bond hiện đang là loạt phim liên tục dài nhất mọi thời đại và thu về tổng doanh thu 7.04 tỉ đô la Mỹ, trở thành loạt phim có doanh thu cao thứ sáu lịch sử. Nó được khởi đầu vào năm 1962 bằng phần phim Dr. No với ngôi sao Sean Connery trong vai Bond. Tính tới năm 2020, loạt phim do Eon Productions sản xuất đã có 24 phần. Spectre (2015) là bộ phim James Bond gần nhất, có sự tham gia diễn xuất của Daniel Craig với lần thứ tư anh thủ vai mật vụ Bond trong loạt phim của Eon. Ngoài ra, còn có hai tác phẩm độc lập: Casino Royale (một phiên bản giễu nhại ra mắt năm 1967, với sự tham gia của David Niven) và Never Say Never Again (bản làm lại bộ phim do Eon sản xuất trước đó của Thunderball, ra mắt năm 1965, cả hai bản đều có sự tham gia của Connery). Năm 2015, với trị giá ước tính 19.9 tỷ đô la Mỹ, James Bond trở thành một trong những thương hiệu truyền thông có doanh thu cao nhất từ trước tới nay. Các bộ phim về Bond nổi tiếng bởi một số điểm đặc trưng, như phần nhạc đệm với các bài hát chủ đề đã nhiều lần được đề cử Oscar và chiến thắng hai lần. Vài yếu tố xuyên suốt quan trọng khác bao gồm những chiếc xe hơi của Bond, các khẩu súng của anh và những thiết bị mà anh được Q Branch cung cấp. Mỗi phần phim cũng chú ý khắc họa mối quan hệ của Bond với nhiều phụ nữ khác nhau, đôi khi được gọi là các "Bond girl". *** Đó là lúc cả thế giới đã bão hòa. Mặt trời đã xuống tới đường chân trời, luồng ánh sáng đỏ mềm mại trườn trên lớp sóng triều, phía cao tít bên trên đàn chim đang vẽ nên những hình kỷ hà ngẫu nhiên trên bầu trời quang. Gió đã ngừng thổi và cái nóng buổi chiều trở nên ngột ngạt, ngập trong khói xăng và bụi. Xuyên qua bầu không khí đó, chiếc Crosley màu lam bất ngờ còn lại một mình chạy theo đường 13, hướng từ biển vào đất liền. Crosley là một chiếc xe nhỏ, xấu, mũi dài, khoang vuông, thân đã bị gỉ sét ăn thủng. Người lái xe, đang gập người trên vô lăng, mắt không rời khỏi con đường phía trước, đã mua nó với giá ba trăm đô la. Tay bán hàng thề thốt rằng chiếc xe có thể chạy sáu mươi cây số chỉ với ba lít xăng và còn có thể tăng tốc lên tám mươi ki lô mét một giờ. Tất nhiên là hắn nói dối… với hàm răng hoàn hảo và nụ cười thân thiện của một con phe tỉnh lẻ. Chiếc Crosley chẳng tăng tốc được thêm chút nào ngay cả trên đường lao dốc, nữa là ở đây, gần với bờ Đông Virginia, nơi địa hình đã trở nên bằng phẳng suốt nhiều cây số. Người lái xe có thể là một giáo sư hoặc một thủ thư. Gã có vẻ ngoài của một kẻ chủ yếu sống trong nhà với làn da xanh xao, những ngón tay ám nicotine và cặp kính theo thời gian đã từ từ chìm vào mũi cho đến khi trở thành một phần vĩnh viễn của khuôn mặt. Tóc gã đã thưa, lộ ra những vết đồi mồi trên trán. Gã là Thomas Keller. Mặc dù hiện đang mang hộ chiếu Mỹ, gã sinh ra tại Đức và vẫn nói tiếng mẹ đẻ trôi chảy hơn nói thứ tiếng của đất nước đã nuôi nấng gã. Không rời tay lái, Keller lật tay liếc nhìn chiếc đồng hồ quân sự Elgin 16 chân kính mà gã mua tại một cửa hiệu cầm đồ ở Salisbury, gần như chắc chắn bị vứt lại đó bởi một quân nhân đang gặp vận đen. Gã rất đúng giờ. Gã nhìn thấy lối rẽ ngay phía trước và bật xi nhan. Sau một giờ nữa thôi, gã nghĩ, gã sẽ có đủ tiền để mua một chiếc xe tử tế và một chiếc đồng hồ tử tế - đồng hồ Thụy Sĩ, tất nhiên, có thể là Heuer hoặc Rolex gì đó - và cuối cùng, một cuộc sống tử tế. Gã dừng lại trước một quán ăn, một cái hộp đẹp đẽ màu bạc trông như vừa mới lấy ra từ sau xe tải. Tên quán - Lucie - được uốn bằng đèn neon hồng ngay trên bốn món ăn đã định hình nền ẩm thực Mỹ đối với hầu hết cư dân của nó, bất kể là họ sống ở bang nào: Bánh kẹp, Xúc xích, Sữa lắc và Khoai chiên. Gã ra khỏi xe, áo sơ mi hơi bị dính vào lớp vỏ bọc ghế bằng nhựa vynil, và nhặt áo khoác để trên ghế trước. Gã đứng lặng một lúc trong không khí ấm nóng, lắng nghe một đoạn nhạc phát ra từ chiếc máy hát tự động, và nghĩ đến hành trình đã đưa gã đến đây. Thomas Keller vừa tốt nghiệp với tấm bằng vật lý và kỹ sư thì gặp được thứ rồi sẽ trở thành niềm đam mê lớn của đời gã. Chuyện xảy ra tại rạp Harmonie ở Sachsenhausen nơi gã cùng một cô gái xinh đẹp tới để xem bộ phim mới của Fritz Lang, Frau im Mond, Người đàn bà trên mặt trăng. Bộ phim bắt đầu được năm phút là gã đã quên tiệt cô gái, và vì thế, cả hy vọng được sờ soạng cô sau đó ngoài bãi đỗ xe của rạp. Thay vào đó, cảnh trên màn hình chiếu một quả tên lửa nhiều tầng đang rời khỏi quỹ đạo trái đất đã đánh thức thứ gì đó bên trong gã và từ đó trở đi hoàn toàn chiếm lĩnh gã. Có thể nói rằng gã đã được phóng đi, bằng một sức mạnh không thể cưỡng lại, đầu tiên là tới Đại học Tổng hợp Berlin, sau đó tới Verein für Raumschiffahrt - Hiệp hội Du hành Không gian - và cuối cùng là tới bờ biển Baltic và cảng biển Peenemünde. Khi đó, nghiên cứu tên lửa của Đức đã có tiến bộ hơn hẳn, vì mặc dù Hiệp ước Versailles bị nhiều người căm ghét đã đặt ra rất nhiều hạn chế đối với việc phát triển vũ khí nhưng du hành không gian lại được miễn trừ. Điều này tạo thuận lợi cho quân đội Đức, họ đã nhanh chóng nhận ra rằng tên lửa sử dụng nhiên liệu lỏng được phóng đi từ một bệ phóng tạm thời và tương đối đơn giản, có thể bay xa và nhanh hơn nhiều loại đạn pháo, đem tải trọng thuốc nổ của nó đến mọi thành phố lớn ở châu Âu. Keller ba mươi sáu tuổi khi gã gặp người phụ trách chương trình không gian của Đức: kỹ sư tên lửa (và là một thành viên SS-Sturmbannführer) Wernher von Braun. Con trai của một bá tước Phổ, von Braun xuất thân từ một gia đình đã từng tham chiến từ thế kỷ 13 và chưa bao giờ đánh mất những đặc trưng quý tộc của mình. Ông ta luôn đi lại khệnh khạng, quát mắng tất cả những ai tranh cãi với mình và có thể trở nên thô bạo lạnh lùng khi rơi vào một tâm trạng nhất định. Nhưng đồng thời ông ta lại vô cùng đam mê công việc, luôn đòi hỏi những điều tốt nhất từ bản thân và từ những người xung quanh. Keller kính trọng ông ta vậy nhưng cũng sợ hãi không kém. Tất nhiên, trong thời gian đó một tay hạ sĩ người Áo đã lên nắm quyền và nước Đức đang có chiến tranh. Nhưng chẳng có chuyện gì thực sự làm Keller quan tâm. Cũng giống như nhiều học giả và các nhà vật lý khác, những người bạn hiếm hoi, gã không quan tâm nhiều đến thế giới xung quanh, và nếu như Hitler lại chuyển tiền - mười một triệu mác Đức trích từ Không lực và quân đội - vào các thiết bị đánh chặn bằng tên lửa và tên lửa đạn đạo thì gã sẵn sàng lờ đi những mối bận tâm kém hấp dẫn khác của đảng Quốc xã. Thực sự là khi cuối cùng đã đến được Peenemünde, lúc những quả tên lửa V-2 đầu tiên rời bệ phóng vào mùa hè năm 1944, gã chưa từng nghĩ đến sự chết chóc và tàn phá mà chúng sẽ đem đến với trọng tải một tấn của mình. Gã là một nghệ sĩ và đây là tấm toan của gã. Việc ngắm nhìn các vụ phóng đã cho gã một giây phút xuất thần tinh khiết: những đám mây khói trắng đầy những tia lửa nhỏ từ bộ đánh lửa đột nhiên đổ xô lại với nhau thành một ngọn lửa đỏ rực rỡ, dây cáp bung ra và một tạo vật xinh đẹp, lịch lãm được tung lên bầu trời. Những rung động xuyên qua gã. Làn da gã dường như sống dậy, gã cảm thấy phấn khích khi biết rằng mình là một trong số ít các kỹ thuật viên đã giúp tạo ra nó, rằng các động cơ sẽ tạo ra công suất đáng kinh ngạc 800.000 mã lực và rằng tên lửa sẽ sớm đạt được năm lần tốc độ của âm thanh. Đám dân thường London sẽ không thể biết gì về sự hoàn hảo, về thiên tài vĩ đại của thứ vũ khí đã giết họ. Thường thì Keller không thể kiềm chế được mình. Gã rơi những giọt lệ của niềm vui thuần khiết. Một thời gian ngắn sau khi chiến tranh kết thúc, Keller tự hỏi không hiểu gã có phải đối mặt với hậu quả nhất định nào đó hay không. Thực ra gã đã có mặt khi von Braun đầu hàng người Mỹ và sau đó bị họ thẩm vấn vì cũng nằm trong Danh sách Đen nổi tiếng, mật danh dành cho các nhà khoa học và kỹ sư Đức có vai trò quan trọng đặc biệt. Nhưng gã không quá lo lắng. Những gì von Braun và nhóm của ông ta đã tạo ra quá có giá trị đối với Đồng minh và gã tin rằng công việc của họ bằng cách nào đó vẫn sẽ được tiếp tục. Gã đã đúng. Hai người họ được thả cùng một ngày. Cùng với hơn một chục nhà khoa học và kỹ thuật viên khác họ đã được đưa ra khỏi nước Đức trên cùng một chuyến bay, và cuối cùng đã tới Fort Bliss, một căn cứ quân sự Mỹ gần Al Paso, nơi mà với những ông chủ mới và trong một số trường hợp ít ỏi khác - nhân thân mới, họ lại tiếp tục công việc từ đúng chỗ trước đó họ đã bị ngắt quãng một cách thô bạo. Giờ Keller năm mươi tư và đã đi gần hết sự nghiệp. Gã sống ở Mỹ đã mười hai năm nhưng chưa bị ai nhận nhầm là người Mỹ. Gã có diện mạo và hình thể của một người nước ngoài, vụng về và chậm chạp. Lối nói chậm rãi và nặng khẩu âm luôn tiết lộ nguồn gốc của gã ngay khi gã bắt đầu mở miệng. Cũng chẳng quan trọng lắm. Chiến tranh đã đủ xa rồi. Người ta cũng chẳng còn quan tâm nữa. Vả lại, trong ý thức gã đã đồng hóa theo cách tốt hơn - và điều đó làm cho gã hoàn toàn thỏa mãn. Ba năm sau khi đến Mỹ, gã lấy một cô tiếp viên Mỹ bán cocktail mà gã gặp ở El Paso làm vợ và hai người họ chuyển đến sống trong một ngôi nhà phong cách thuần Mỹ gần Salisbury, bang Maryland. Keller được thuê làm giám sát viên tổng hợp trong Phòng Thí nghiệm Nghiên cứu Hải quân (NRL) tại bãi phóng tên lửa của cơ quan này trên đảo Wallops. Gã vừa ra khỏi văn phòng một giờ trước. Giờ thì gã đã đến nơi. Gã bước vào quán và ngay lập tức cảm thấy cái mát lạnh của điều hòa không khí, đúng lúc máy hát tự động phát một bài mới của Everly Brothers. Tạm biệt tình yêu Tạm biệt hạnh phúc… Keller không quan tâm đến âm nhạc Mỹ nhưng gần như không thể thoát được giai điệu này suốt mấy tháng nay. Gã cảm thấy lời bài hát có vẻ lạc quẻ một cách lạ lùng, vì gã đến đây với hy vọng và kỳ vọng vào điều hoàn toàn trái ngược. Người gã đến gặp đang chờ gã ở đúng chỗ mà hắn đã nói, cái bàn cạnh cửa sổ góc. Hắn mặc bộ vét hiệu Brooks Brothers, áo sơ mi cài hết cúc và đi giày lười, kiểu trang phục thường xuyên của hắn. Hắn đến sớm. Trên mặt bàn có một tờ báo và hắn đã điền được một phần trò ô chữ. Keller biết đến hắn với tên gọi Harry Johnson, nhưng gã không chắc đấy có phải tên thật của hắn hay không. Gã giơ tay chào, hơi lúng túng bước trên nền gạch đỏ trắng đến phía bên kia của cái bàn. Đến phút cuối gã mới nhận ra mình đã quên khoác áo vét. Thôi kệ, đằng nào thì cũng đã quá muộn. Gã quyết tâm không làm gì tỏ ra thiếu chuẩn bị hoặc vụng về. Gã đặt cái áo lên ghế bên cạnh. “Anh thế nào, Keller?” Johnson nói đều đều, giọng Manhattan. “Tôi ổn, cảm ơn anh.” Harry Johnson trẻ hơn gã đến mươi mười lăm tuổi, nhưng trông lại có vẻ già dặn hơn với khuôn mặt dài quá mức, má đầy nếp nhăn và mái tóc bạc cắt ngắn. Hắn đang xoay cái bút bi giữa những ngón tay. Trên một ngón tay, hắn đeo chiếc nhẫn vàng có khắc hình. “Thủ đô của Venezuela là gì?” hắn hỏi. “Sao cơ?” Keller sửng sốt. “Thứ chín từ trên xuống, thủ đô của Venezuela. Từ bảy chữ cái bắt đầu bằng chữ C.” “Tôi không biết,” Keller cáu kỉnh nói. “Tôi không chơi ô chữ.” “Này, không sao. Tôi chỉ hỏi thôi mà.” Johnson rời mắt khỏi ô chữ. “Thế nào, xong rồi chứ?” Lần này thì Keller hiểu ý hắn. Đây là lần thứ tư họ gặp nhau. Keller vẫn nhớ lần đầu tiên, một cuộc gặp có vẻ như tình cờ trong một quán rượu trung tâm Salisbury. Johnson bằng cách nào đó đã ở đó, ngay ghế bên. Không thể biết được hắn vào từ lúc nào. Họ đã nói chuyện với nhau. Johnson nói hắn là một doanh nhân, cũng có thể đúng là vậy thật nhưng thực sự thì nó cũng gần như chẳng có ý nghĩa gì. Hắn có vẻ phấn khích khi biết Keller là một nhà khoa học ngành tên lửa và sau ly thứ hai - Johnson đòi được trả tiền - hắn đưa ra một loạt câu hỏi đầy quan tâm nhưng vô hại, không có gì khiến cho gã phải nghi ngờ. Đương nhiên mọi thứ đã được sắp xếp từ trước. Hắn đã biết tất cả về Keller từ trước khi họ mở miệng nói chuyện với nhau. Đến cuối buổi tối hai người đã thu xếp gặp nhau lần nữa. Sao lại không cơ chứ? Johnson là một người bạn tốt, và khi ra về hắn gần như vô tình nói rằng mình có thể đề nghị việc này. “Có thể kiếm cho anh một ít tiền. Mới chợt nghĩ vậy thôi. Lần sau ta trao đổi nhé.” Nhưng đến lần sau đó hắn không nói gì. Họ so sánh vợ con, gia đình, lương lậu, khát vọng. Toàn là những câu chuyện của đàn ông, mặc dù người nói chính vẫn là Keller. Chỉ đến lần thứ ba khi họ đã hiểu nhau rõ hơn thì Johnson mới đưa ra lời đề nghị của mình. Đáng ra khi đó Keller phải tới gặp cảnh sát, hoặc hợp lý hơn nữa là phòng An ninh Hải quân ở phía Nam đảo Wallops. Tất nhiên là gã không làm thế. Johnson, hay những người đứng sau hắn, đã chọn Keller vì họ biết gã sẽ không làm thế. Có khi họ đã tìm hiểu gã nhiều tháng trời rồi. Chính xác thì họ là ai? Keller không quan tâm. Cũng chính chứng chỉ nhìn tầm gần này đã giúp gã qua được cuộc chiến. Gã không có nhu cầu nhìn toàn cảnh. Không quan trọng. Gã đơn giản chỉ tập trung vào đề nghị được đặt ra cho mình và hai trăm năm mươi ngàn đô la, miễn thuế, mà gã có thể có được nếu như làm theo đề nghị đó. Gã đồng ý gần như ngay lập tức và chỉ cần một buổi gặp nữa để thảo luận chi tiết. Rất thẳng thắn. Điều mà gã được đề nghị làm không hề dễ dàng. Nó cần có sự hiểu biết sâu sắc về cơ học chất rắn và ứng suất kéo - nhưng đó chính là lĩnh vực chuyên môn của gã. Và sau khi gã đã đo đếm tỉ mỉ mọi yếu tố thì bản thân công việc này vẫn là một vấn đề. Nhưng may mắn thì gã cũng sẽ có được bốn hoặc năm phút một mình. Có rủi ro đáng kể - nhưng phần thưởng cũng lớn. Đó là tính toán ban đầu của gã. “Thế là xong rồi chứ?” “Phải.” Keller gật đầu. “Nhiệm vụ hóa ra lại dễ hơn tội tưởng nhiều. Tôi từng được vào xưởng lắp ráp trong lúc tập dượt cứu hỏa.” Gã dừng lời. Gã đã lộ ra sự nhiệt tình quá mức và khiến điều gã đã làm được có nguy cơ mất giá. “Tất nhiên là tôi phải làm nhanh. Người ta luôn luôn tăng cường an ninh trong khi chuẩn bị phóng. Và phải làm rất cẩn thận. Có khả năng, anh hiểu chứ, người ta sẽ đi kiểm tra vào phút chót. Việc tôi làm cần phải… unsichtbar.” Gã tìm từ trong tiếng Anh. “Tàng hình.” “Động cơ sẽ hỏng chứ?” “Không. Nhưng nó sẽ không hoạt động tử tế. Lượng thuốc phóng được bơm vào buồng đốt sẽ không đủ. Tôi đã giải thích điều đó cho anh rồi. Kết quả sẽ đúng như mong muốn.” Hai người cùng im lặng khi hầu bàn đưa cà phê và nước lạnh đến. Hai cuốn thực đơn để mở trước mặt. Họ không có ý định ăn uống gì. “Thời điểm phóng thì thế nào?” Johnson hỏi. Keller nhún vai. Gã không thích cà phê. Gã đã nốc hết bao nhiêu lít món này từ khi đến Mỹ, trong lúc hút thuốc và làm việc thâu đêm? Gã đẩy cái cốc sang một bên. “Vẫn còn mười hai ngày nữa từ hôm nay. Tôi đã xem dự báo. Thời tiết tốt. Nhưng thời tiết thì không bao giờ chắc chắn được. Hướng và tốc độ gió rất quan trọng, và nếu như điều kiện không thích hợp thì…” Gã hạ giọng bỏ lửng câu nói. “Nhưng đấy không phải chuyện tôi quan tâm. Tôi đã làm điều anh yêu cầu. Anh có đem tiền không?” Người đàn ông kia không nói gì. Hắn nhìn chằm chằm gã người Đức. Sau đó hắn chìa tay ra và gỡ cặp kính mát gài trên túi áo phía trước. Đó là tín hiệu cho thấy công việc của họ đã kết thúc. “Dưới gầm bàn có một cái cặp.” “Còn tiền thì sao?” “Trong đấy hết.” Johnson toan ra về nhưng Keller ngăn hắn lại. “Tôi phải nói với anh một chuyện,” gã nói. “Quan trọng đấy.” Gã đã tập dượt điều sắp nói. Gã khá tự hào về cách nói mà gã đã nghĩ ra, về việc gã đã suy nghĩ điều đó thật kỹ càng. “Tôi sẽ không đếm tiền. Tôi sẽ coi như đã đủ. Nhưng đồng thời, tôi phải cảnh báo anh. Tôi không biết ai thuê anh, tôi không quan tâm. Rõ ràng là anh làm việc cho những người nghiêm túc. Nhưng một phần tư triệu đô là rất nhiều tiền. Cược đặt rất cao. Và vì sự an toàn của bản thân mình anh có thể chọn cách bịt miệng tôi lại. Không phải khó lắm, phải không? Theo tôi hiểu, có thể trong cái cặp ấy có thuốc nổ và tôi có thể chết trước khi ra đến xe. Hoặc có thể sẽ có tai nạn giao thông.” “Thế nên tôi muốn anh biết rằng tôi đã ghi lại tất cả những gì xảy ra giữa chúng ta với nhau và tất cả mọi thứ tôi được yêu cầu thực hiện. Không những tôi miêu tả anh, tôi còn chụp ảnh. Tôi mong là anh sẽ tha thứ cho sự lừa đảo nhỏ này của tôi, nhưng tôi chắc chắn anh sẽ thông cảm cho tình thế của tôi. Tôi cũng ghi lại thông tin về xe của anh, biển số xe. Tất cả những thứ đó được gửi ở chỗ một người bạn của tôi và gã đã được dặn là sẽ chuyển tất cả cho cơ quan có thẩm quyền nếu có điều gì đó đáng ngờ xảy ra cho tôi. Anh hiểu tôi nói gì chứ? Sẽ không có chuyện tên lửa bị hỏng nữa. Và dù cảnh sát phải tốn chút thời gian để tìm ra anh thì họ cũng đã biết về sự tồn tại của anh và sẽ theo anh mãi mãi.” Johnson yên lặng nghe hết. Keller nói xong Johnson ngờ vực chằm chằm nhìn gã. Đó là lần đầu tiên hắn thể hiện cảm xúc thực của mình. “Anh nghĩ chúng tôi là ai?” hắn hỏi. “Anh nghĩ chúng tôi là gangster à? Tôi phải nói với anh, Tom, anh đọc nhầm loại sách rồi. Chúng tôi yêu cầu anh cung cấp cho chúng tôi một dịch vụ. Anh cung cấp cho chúng tôi dịch vụ đó và anh đã được trả tiền. Nhân tiện mà nói, anh nhầm rồi. Một phần tư triệu đô cũng không phải quá nhiều trong chuyện này. Anh sẽ gặp lại chúng tôi chỉ trong trường hợp anh không làm như chúng ta đã thỏa thuận - và nếu đúng như vậy, trong trường hợp ấy, cuộc sống của anh rất có thể sẽ bị nguy hiểm một chút. Nhưng cho dù anh không tin chúng tôi thì chúng tôi vẫn có niềm tin tuyệt đối nơi anh.” Hắn ném vài đồng xu ra bàn để thanh toán tiền cà phê, cuộn tờ báo lại rồi đứng lên. “Tạm biệt.” “Chờ đã…” Keller cảm thấy xấu hổ. “Caracas,” gã nói. “Caracas?” “Ô chữ còn thiếu của anh. Thủ đô Venezuela.” Johnson gật đầu. “Tất nhiên rồi. Cảm ơn anh.” Keller nhìn hắn đi khỏi. Đúng là bài phát biểu của gã có chút khoa trương, được lấy cảm hứng từ mấy bộ phim gã từng cùng xem với vợ. Và nó cũng không thật. Không có bản ghi nào về những gì đã xảy ra, không có ảnh, không có người bạn nào đang chờ để đến gặp cảnh sát. Gã chỉ nghĩ rằng sự đe dọa này có thể là đủ để bảo vệ mình khi cần. Liệu gã có sai không? Liệu gã có tự biến mình thành thằng ngốc không? Sau đó gã nhớ đến tiền. Gã mò mẫm dưới gầm bàn và cảm thấy các khớp tay mình va phải thứ gì đó đặt sát tường. Cái cặp! Gã kéo nó ra và bật khóa, hé mở vừa đủ để có thể liếc vào trong. Có vẻ có đủ tiền trong đó: tiền năm mươi đô, được buộc thành cọc gọn gàng. Gã đóng cặp, khoác áo vét lên rồi vội vã ra ngoài. Không có dấu hiệu nào của Harry Johnson ngoài bãi đỗ. Gã ra xe, ném chiếc cặp vào ghế trước rồi chui vào xe. Mất hai mươi phút để gã lái xe về đến nhà, nơi gã biết Gloria đang chờ gã. Nghĩ đến Gloria, gã mỉm cười và thư giãn một chút sau tay lái. Xét cho cùng, mọi thứ đều là cho nàng. Nàng trẻ hơn gã mười lăm tuổi, thấp và hơi mũm mĩm theo cái cách làm gã thấy phấn khích, ngực và hông lúc nào cũng căng đầy dưới lớp quần áo. Khi hai người gặp nhau thì nàng đã ở giữa độ tuổi hai mươi, và khi gã kể với nàng về mình thì nàng thấy rạo rực. Này là một người đàn ông được đưa lậu từ châu Âu đến, làm việc cho một cơ sở nghiên cứu tuyệt mật chế tạo tên lửa không gian. Nó giống như tình tiết trong những cuốn sách bìa mềm nàng thích đọc, và mặc dù thực ra gã là người Đức, thiếu hấp dẫn và đôi khi có những yêu cầu làm nàng đau, điều đó có vẻ cũng chẳng quan trọng gì. Họ đã hạnh phúc khi lấy nhau và cả hai đã cùng quyết định chuyển lên phía Bắc, chọn Salisbury vì gần đảo Wallops. Họ đã mua nhà và cùng chọn nội thất. Nhưng từ đó trở đi mọi việc giữa họ đã không còn mấy tốt đẹp. Họ không thể có con, nàng thì phát chán vì ngôi nhà, vì cái công việc quản lý một nhà hàng địa phương hầu như không có khách trừ những ngày cuối tuần. Nàng không muốn nghe bất cứ điều gì về tên lửa và dạo này nàng chỉ miễn cưỡng đến xem các vụ phóng. Nhưng Keller vẫn còn yêu nàng. Dĩ nhiên là gã si mê nàng. Theo một cách nào đó, gã coi nàng như biểu tượng cao nhất về vị thế, sự công nhận đối với công trình của đời người. Nàng là một người vợ Mỹ. Gã xứng đáng có nàng. Gã kể với nàng về người bạn mới của mình, Harry Johnson, về đề nghị gã nhận được. Có nằm mơ gã cũng không dám nhận nếu như không có sự chấp thuận của nàng. Gã mừng là gã đã làm như vậy. Tiền cược là vô cùng cao. Gã sẽ phạm một tội ác mà nếu bị phát hiện gã sẽ bị kết tội phản quốc. Nhưng ngay từ đầu Gloria đã tỏ ra quyết tâm hơn cả gã, thúc giục gã khi lòng dũng cảm của gã không còn. Hàng tuần nay hai người họ đã trao đổi về tương lai mà họ sẽ xây dựng cùng nhau, về việc họ sẽ làm gì với số tiền, họ phải thận trọng để không tiêu hết nó quá sớm ra sao. Keller thấy hình như vợ gã đã biến đổi. Giờ thì gã nhớ lại được nàng như thế nào khi lần đầu tiên gã để mắt đến nàng. Tất cả năng lượng và lebensfreude - sức sống - của nàng đã quay trở lại. Và nàng lại khôi phục được sự thèm khát giường chiếu, hiến dâng cho gã với sự buông thả như trong đêm tân hôn của họ. Nàng đang đợi gã ngoài cửa căn nhà gỗ một cửa sổ. Đó là một ngôi nhà như bước thẳng ra từ catalogue nhà đất với khu vườn gọn gàng phía trước và dãy hàng rào màu trắng. Keller đỗ xe trên lối vào nhà và lại với nàng, tay xách cặp. Họ hôn nhau trên ngưỡng cửa. Nàng mặc chiếc váy hoa ban ngày, chiết eo. Mái tóc vàng óng của nàng đổ những lọn xoắn lên vai. Ngay lúc đó Keller thèm muốn nàng hơn bao giờ hết. “Anh làm được rồi,” nàng nói. “Phải.” “Anh đếm chưa?” “Ở đây cả mà. Không cần.” “Anh phải đếm chứ.” “Mình có thể đếm trong nhà.” Họ cùng nhau vào nhà, vào phòng khách gọn gàng có sofa, bàn cà phê và chiếc ti vi phủ tấm che cửa lật. Họ mở cặp và đếm tiền. Gloria đứng tì vai và mông vào gã, gã vòng tay ôm nàng. Khi đã chắc chắn mọi thứ đều ổn, nàng vặn người hôn má gã. “Em đã để sâm banh sẵn trong tủ lạnh rồi đấy,” nàng nói. Gã theo nàng vào bếp, đứng đó trong khi nàng lục lọi ngăn kéo. “Không thấy cái mở nút chai chết tiệt ấy đâu cả,” nàng nói. Hắn lại chỗ nàng, và chỉ khi tới nơi thì hắn mới nhớ ra là để mở sâm banh thì đâu có cần đến mở nút chai, và đó cũng là lúc nàng quay lại còn gã thì cảm thấy có cái gì đó đè vào mình. Gã cúi nhìn và thấy, không thể nào như vậy, một cái cán dao thò ra từ bụng mình. Hẳn phải có nhầm lẫn gì rồi. Không thể như thế được. Nhưng khi ngẩng lên và nhìn thấy mắt nàng thì gã biết đây chính là sự thật. Gã cố gắng cất tiếng nhưng máu đã ộc ra từ cơ thể, và cùng với nó là hơi thở và sự sống của gã. Vẫn còn ôm lấy nàng, gã khuỵu xuống, rồi, khi nàng bước sang một bên, gã đổ vật xuống sàn. Gloria nhìn xuống gã và rùng mình. Không phải cảnh tượng máu gã tràn trên lớp vải sơn làm ả ghê sợ. Mà là ký ức về đôi bàn tay gã trên thân thể ả, mùi chua chua trong hơi thở của gã. Chẳng còn gì nhiều để làm. Ả đã mua sẵn xăng. Ả vẩy xăng lên tay chồng đã chết, lên bếp, phòng khách, cầu thang. Rồi ả lấy chiếc va li, đóng gói vài thứ định mang theo và đổ tiền vào trong. Cuối cùng, ả bật diêm. Ả lấy chiếc Crosley của chồng, cho dù đấy là một cái xe kinh khủng. Ít nhất thì ả cũng có thể trông chờ vào nó để đến California, nơi ả dự tính sẽ bắt đầu cuộc đời mới. Ả đi tới cuối con phố và rẽ ra đường lớn mà không nhìn lại. Và thế là không nhìn thấy những ngọn lửa đầu tiên khi chúng bùng lên phía sau mình và làn khói đang lan tỏa vào không khí ban đêm.   Mời các bạn đón đọc Cò Súng Tử Thần của tác giả Anthony Horowitz & Phạm Hồng Anh (dịch).  
Di Sản Kinh Hoàng
Tiểu thuyết trinh thám lôi cuốn bậc nhất của nhà văn bestseller theo New York Times Hiện trường vụ án mạng gây nỗi kinh hoàng cho cả những thanh tra kỳ cựu nhất... Nữ nạn nhân trẻ tuổi nằm sõng soài dang chân dang tay trên giường, khuôn mặt xinh đẹp gần như thanh thản, ngoại trừ làn da nạn nhân bị lột thành nhiều mảnh mỏng. Một bông hồng đỏ thắm nằm vắt ngang bụng cô, một chai sâm panh và một chiếc vòng tay có lót lông mềm mại được đặt trên chiếc tủ cạnh giường. Cảnh tượng được chứng kiến không chỉ là một hiện trường vụ án mạng, mà còn là tác phảm trang trí kinh dị phản ánh phần đen tối nhất, sâu thẳm nhất trong con người hung thủ. Mặc dù đây là hiện trường đầu tiên được phát hiện, vụ án mạng quá chú trọng nghi thức thế này bán hiệu đó chưa phải là vụ cuối cùng. *** Di sản kinh hoàng đã được đề cử cho Giải thưởng Strand Critics [Review] Di sản kinh hoàng Tác giả: Lisa Gardner Dịch giả: Nguyễn Quang Huy —————————————————————————— […] Nữ nạn nhân trẻ tuổi, nằm sõng soài dang chân dang tay trên giường, đôi mắt xanh vô hồn nhìn trừng trừng lên trần nhà. Khuôn mặt xinh đẹp gần như thanh thản, mái tóc nâu dài chấm vai buông mềm mại trên chiếc gối màu trắng trơn. Ngoại trừ từ cổ trở xuống… Làn da bị lột thành những dải băng mỏng mảnh, quăn queo. Với một chai sâm banh trên chiếc bàn đầu giường và một bông hồng đỏ lẻ loi nằm vắt ngang cái bụng đầm đìa máu […]. Di sản kinh hoàngDI SẢN KINH HOÀNG Truyện bắt đầu bằng vụ án mạng kinh hoàng do sĩ quan D.D. Warren điều tra. Một phụ nữ trẻ bị lột da ngay trên giường ngủ của mình. Hiện trường được dàn dựng quá chú trọng nghi thức, có khả năng không phải là vụ án cuối cùng. Sau khi khám nghiệm hiện trường, đêm hôm đó D.D đã quay lại căn nhà xảy ra án mạng hồi sáng và tại đây cô chạm trán với tên sát thủ đó. D.D bị chấn thương vai trái sau cuộc đối đầu đêm hôm đó. Cô phải tập các bài vật lý trị liệu, và cô gặp gỡ với nữ bác sĩ tâm lý học Adelein Glen. Adelein mắc chứng đột biến gen SCN9A hiếm. Điều đó khiến nữ bác sĩ này không cảm nhận được đau đớn. Cha cô là Harry Day, kẻ sát nhân hàng loạt khét tiếng đã chết 40 năm trước. Chị gái Adelein là Shana Day, nhận án tù chung thân năm mười bốn tuổi do giết chết cậu bé mười hai tuổi. Ba vụ án mạng liên tiếp xảy ra. Điểm chung là nạn nhân đều bị lột da. Chi tiết này rất giống với kẻ giết người hàng loạt Harry Day. Các manh mối từ quá khứ đến hiện tại đều cho rằng Shana Day chính là hung thủ. Nhưng cô ta đang chịu án tù, làm sao có thể gây ra án mạng. Vậy ai mới là hung thủ thực sự? Hay chính Shana Day là người “nối nghiệp” cha mình, nhưng bằng cách nào? Liệu cảnh sát có tóm gọn tên sát nhân này không? Đây là cuốn thứ tư trong bộ trinh thám của Lisa Gardner mà mình được đọc. Phải nói là cuốn này cực kỳ hay. Hiện trường án mạng được dàn dựng gây ấn tượng cho độc giả. Bí ẩn vụ án trong quá khứ, danh tính hung thủ hay cả động cơ gây án được giữ kín đến cuối truyện gây được sự tò mò, cuốn hút cho bạn đọc. Dọc theo mạch của truyện là sự xen kẽ giữa nội tâm của bác sĩ Adelein và quá trình điều tra của D.D. Điều này giúp ta có cái nhìn nhiều mặt về vụ án. Phần mở đầu viết về quá khứ của Adelein và mối quan hệ với chị cô trong hiện tại. Đoạn này đọc hơi chậm, có vài bí ẩn chưa giải đáp nhưng cũng không gây được sự chú ý của độc giả. Phần sau tốc độ được đẩy lên nhanh hơn. Nhất là đoạn cao trào. Tốc độ lướt mắt của mình nhanh hơn tốc độ load của não. Mình không thích đoạn kết của truyện này. Mình đã hy vọng một cái kết khác. Dù mình chỉ được đọc bản dịch nhưng rất dễ đọc, dễ hiểu, không cảm thấy bất cứ rào cản ngôn ngữ nào cả. Mình muốn gửi lời cảm ơn tới anh Nguyễn Quang Huy vì bản dịch rất hoàn hảo này. ————————————————————————– Đánh giá: 9/10 Đặng Minh Đức *** Thể loại: Trinh thám Hiện trường vụ án mạng gây nỗi kinh hoàng cho cả những thanh tra kì cựu. Nữ nạn nhân trẻ tuổi nằm sõng soài dang chân dang tay trên giường, khuôn mặt xinh đẹp gần như thanh thản, ngoại trừ làm da nạn nhân bị lột thành nhiều mảnh mỏng. Một bông hồng đỏ thẫm nằm vắt ngang qua bụng cô, một chai sâm panh và một chiếc còng tay có lót lông mềm mại được đặt trên chiếc tủ cạnh giường. Cảnh tượng được chứng kiến không chỉ là một hiện trường vụ án mạng, mà còn là tác phâỉ trang trí kinh dị phản án phần đen tối nhất, sâu thẳm nhất trong con người hung thủ. Dưới sự điều tra của thanh tra D.D.Warren liệu vụ án có được làm sáng tỏ? Thủ phạm là ai? Và nguyên nhân nào dẫn tới những vụ án này? Đây là cuốn thứ 2 tôi đọc của tác giả Lisa Gardner, khác với cuốn trước – Vỏ bọc hoàn hảo, cuốn này tác giả đi sâu vào miêu tả tâm lí của nhân vật. Chính sự miêu tả sâu về tâm lí bằng những đoạn hội thoại cũng như miêu tả hiện trường vụ án đã làm cho nhịp truyện bị giảm xuống, đặc biệt là phần đầu truyện. Tuy nhiên, càng về phía cuối truyện, tác giả đã đẩy nhanh nhịp truyện lên bằng những tình tiết hồi hộp và diễn ra nhanh hơn. Tác phẩm này đã được tác giả đi sâu khai thác về tâm lí nhân vật bằng cách chạy song song hai tuyến nhân vật. Một tuyến là cảnh sát, thanh tra truy tìm thủ phạm. Một tuyến là nạn nhân của thủ phạm – Adeline Glen – một nhà bác sĩ tâm lí. Không chỉ hấp dẫn bằng phương pháp kể chuyện mới vậy, tác giả còn miêu tả sự biến thái của thủ phạm bằng việc miêu tả hiện trường một cách chi tiết và sống động cũng như thủ pháp giết người rồi lọc lấy da của nạn nhân để sưu tầm theo sở thích. Nhân vật bác sĩ tâm lí Adeline Glen đã đem lại cho tôi ấn tượng nhất bởi tính cách cứng rắn cũng như sự thông minh của cô. Cô tuy bị đột biến cực hiếm của gen SCN9A nhưng không vì thế mà cô đánh mất đi sự lương thiện cũng như bản chất của mình. Và cũng nhờ có cô mà các bí ẩn dần được dỡ bỏ. Không chỉ vậy, điều khiến tôi ấn tượng nữa chính là “di sản” mà cô được thừa hưởng. Nó mang một nét đặc biệt khiến cho câu truyện trở nên càng hấp dẫn hơn nữa. Quyển này cũng khiến cho tôi thấy được lượng kiến thức khá lớn của tác giả về mảng pháp y. Tác giả đã miêu tả được tác dụng của một số chất hoá học thường dùng trong ngành pháp y để làm nổi bật lên được cách thức sưu tầm da các nạn nhân của tên thủ phạm biến thái và ác độc. “Lời dối trá giá trị nhất là lời dối trá được che đậy dưới nhiều lớp bằng sự thật”. Chốt lại, với những bạn nào thích sự mới mẻ trong phong cách trinh thám thì cuốn sách cũng đem lại trải nghiệm khá mới mẻ. Điểm: 8/10 Minh Sơn *** “Nữ nạn nhân trẻ tuổi, nằm sõng soài dang chân dang tay trên giường, đôi mắt xanh vô hồn nhìn trừng trừng lên trần nhà. Khuôn mặt xinh đẹp gần như thanh thản, mái tóc nâu dài chấm vai buông mềm mại trên chiếc gối màu trắng trơn. Ngoại trừ từ cổ trở xuống… Làn da bị lột thành những dải băng mỏng mảnh, quăn queo.” Thám tử Boston D.D. Warren được tìm thấy trong vô thức và bị thương nặng ở dưới chân cầu thang thuộc về một ngôi nhà mà chỉ vài giờ trước đó đã có một phụ nữ trẻ bị sát hại tàn nhẫn, bà thấy mình phải vật lộn với nỗi đau, với việc mất hết ký ức về kẻ đã tấn công bà và với việc rằng bà có thể sẽ phải từ bỏ công việc thanh tra này suốt đời. “Do đột biến cực hiếm của gen SCN9A trong người mà tôi không cảm nhận được đau đớn …Tôi không cảm thấy những gì người khác cảm thấy. Chưa bao giờ cảm thấy. Và sẽ chẳng bao giờ cảm thấy được…Tôi biến đau đớn thành công việc của mình.” Sau cú ngã đau đớn đó, thám tử D.D. Warren đã phải gặp một nhà trị liệu, một người chuyên về các kỹ thuật tinh thần để kiểm soát cơn đau. Bác sĩ Adeline Glen – một người giàu kinh nghiệm đối với những bệnh nhân đang trong tình trạng đau đớn, thứ mà cô không cảm nhận được – đã gặp thanh tra hàng tuần để giúp bà bình phục. Nhưng liệu đó có phải mối liên hệ duy nhất giữa hai người: bác sĩ và bệnh nhân? Vụ ám sát thứ hai, thứ ba,.. tiếp tục với cùng cách thức và độ man rợ, cảnh sát dần nhận ra rằng những vụ ám sát này rất giống với những vụ ám sát của Harry Day, người đã giết vô số phụ nữ và chôn họ ở dưới nền nhà. Vì Harry Day đã chết 40 năm trước, người ta đặt câu hỏi về con của hắn, Shana Day, một kẻ giết người nổi tiếng không kém khi đã giết người ở tuổi 14, giết thêm ba người nữa khi đang ở trong tù, rằng liệu Shana Day có đang âm thầm chỉ đạo người khác qua song sắt nhà tù để tiếp nối truyền thống bố mình để lại. Hay là một người con khác, một người không cảm thấy nỗi đau và thích sưu tầm da người: bác sĩ Adeline Glen… Câu chuyện cứ dần được hé mở với bao nghi ngờ, bao phỏng đoán và khiến ta không thể dừng đọc quyển sách cho đến trang cuối cùng. Thực sự khi mà nghe tin có sách của Lisa Gardner được xuất bản Tiếng Việt thì mình đã không chần chừ mà mua ngay, đọc luôn