Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hiệp Hai

Thiếu tướng Reinga Helen, cục trưởng cục tình báo quân sự Đức “Những đội quân nước ngoài ở phương Đông”, ngay từ năm 1944 đã đi đến kết luận rằng sự diệt vong của Hitler đã đến gần và đó là điều không thể nào tránh khỏi. Trong tình trạng hoảng loạn bao trùm lên cả nước Đức hồi đó, Helen là một trong số rất ít người không hoảng sợ trước nguy cơ bị trả thù, mà biết bắt đầu hành động. Helen đã thảo một bản kế hoạch luân chuyển và rút lui các nhân viên tin cẩn nhất vào hoạt động bí mật. Kế hoạch được Himmler tán thưởng rồi đưa trình lên Hitler và Helen được phong lên cấp bậc trung tướng. Theo kế hoạch này, trong những điều kiện vô cùng cẩn mật, một cuộn micro phim dài hàng ngàn mét được gấp rút chuẩn bị để chụp danh sách các điệp viên của cục tình báo do Helen chỉ huy. Cuộn phim được cuộn vào trong những chiếc hộp nhỏ bằng kim loại và niêm phong cẩn thận. Vào một đêm tối trời tháng hai năm 1945, dưới tiếng đệm của những làn đạn đại bác, từ thị trấn nhỏ Sosen, ngoại thành Berlin, nơi đóng quân của bộ chỉ huy các lực lượng lục quân phát xít, ba chiếc xe tải bịt kín mít và một chiếc xe bọc thép hộ tống từ từ đi ra. Đoàn vận tải bí mật này vượt qua những quãng đường núi lởm chởm ổ gà một cách dễ dàng rồi đến vùng thượng lưu Bavaria, ở đây, ba chiếc xe tải cùng với chiếc xe bọc thép vượt biên giới. Một đoàn người ăn mặc giống hệt các vận động viên leo núi khoác lên vai những chiếc túi nặng rồi biến vào núi. Đoàn người đến một căn cứ nằm sâu trong núi, một túp lều gọi là Elenslam, vào một đêm giông tố bão bùng. Ở đây, trưởng đoàn, không phải ai xa lạ, mà chính là Reinga Helen cùng với hai sĩ quan SS cận vệ dồn những hộp kim loại kia vào những chiếc thùng dài rồi đem giấu vào chiếc hầm bí mật đã được đào sẵn từ trước. Sau bữa ăn tối, điều mà sau này mới rõ, hai sĩ quan cận vệ “đột nhiên” cảm thấy khó chịu và mấy phút sau lăn ra chết. Xác họ bị quẳng xuống một vực sâu gần đấy. Ở Elenslam, những “nhà du lịch” còn sống sót tiếp tục sống hơn hai tháng. Ở đây, hàng ngày, đài và vô tuyến điện thông báo cho chúng biết tình hình cục diện chiến tranh. Được tin chiến cuộc kết thúc, Helen liền hạ lệnh cho các nhân viên của hắn xuống núi và ra đầu hàng nhưng chỉ được đầu hàng quân Mỹ! Còn chính hắn và một số tay chân thân cận khác thì mấy ngày sau mới xuống. Có mặt trong đoàn thiết giáp thuộc quân đoàn bảy của Mỹ, Helen yêu cầu, phải lập tức đưa hắn về quân đoàn bộ. Tại đây, hắn yêu cầu phải nhanh chóng đưa hắn về bộ chỉ huy của cục tình báo Mỹ. Không phải chờ đợi lâu, một chiếc xe quân cảnh có hộ tổng cẩn thận được phái đến. Chiếc xe này được lệnh phải nhất nhất tuân theo mệnh lệnh của người Đức bí ẩn này. Và đây, bước cuối cùng của cuộc chạy đua: Helen được tướng Paterson, một thủ lĩnh của CIC, cơ quan tình báo bảo vệ an ninh cho quân Mỹ ở Đức, tiếp. - Ngài Helen, tôi hy vọng ngài đã không gặp khó khăn gì trên đường đi? - Paterson hỏi hai người bạn đồng nghiệp Đức. - Cảm ơn tướng quân, mọi việc đều hoàn toàn thuận lợi! - Thế thì tuyệt! Bây giờ ngài đi nghỉ đi. Tôi sẽ không quấy rầy ngài. Chúng ta nói chuyện sau. - Chân thành cảm ơn ngài đã che chở cho chúng tôi. Nếu có thể, nhờ ngài chuyển tới Tổng thống Truman lòng biết ơn sâu sắc nhất của chúng tôi. Chúng tôi biết và nhớ rằng chính ngài Tổng thống đã nói: “Nếu thấy quân Nga sắp thắng, chúng ta sẽ giúp đỡ quân Đức”. - Than ôi! - Paterson khoa hai tay lên trời - Ngài nên nhớ rằng tất cả những gì đã xảy ra sau chiến dịch Stalingrad và sau này, lúc cuộc chiến tranh sắp kết thúc, hoàn toàn không nằm trong kế hoạch của chúng tôi… Sáng hôm sau, được biết cấp bậc của “tên tù binh” Đức, Allen Dalles, cục trưởng cục tình báo châu Âu, sau này là kẻ cầm đầu CIA, đã đáp máy bay đến Visbac. Việc này càng tăng thêm tốc độ của các sự kiện kế tiếp. Ngay ngày hôm đó, Helen và một số nhân viên tin cẩn khác cùng với những tài liệu quan trọng nhất của cục tình báo phát xít, đáp chuyến máy bay đặc biệt đi Washington. Và lại những cuộc gặp gỡ thân mật nữa. Trong phạm vi rất hạn chế của các nhà lãnh đạo tình báo Mỹ, mà cụ thể là: Cục trưởng cục tình báo chiến lược Mỹ - tướng Wiliam Donovan, cục phó Magrude, nhà lý thuyết cục tình báo Mỹ - giáo sư Sheman Kent và một nhân vật quan trọng khác, Helen đã báo cáo về những “kho báu” của mình, và đã làm cho các ông chủ mới phải hoa mắt bởi những hiểu biết sâu rộng về nghiệp vụ và những tài liệu phong phú về Liên Xô của hắn. Để kết thúc, Helen đề nghị thành lập ngay những cơ quan tình báo gián điệp tại Đông Âu để tiến hành các hoạt động phá hoại chống các nước này và thu thập các tài liệu có liên quan đến Liên Xô. Các nhà lãnh đạo tình báo Mỹ từ lâu chỉ biết mơ ước về một đề nghị như thế, nên đã không do dự, đồng ý đề nghị này của Helen. Còn về phía mình, ngoài những điều kiện khác, hắn đã đưa ra những yêu cầu sau: - Toàn bộ nhân viên, mà trước hết những nhân vật lãnh đạo của các tổ chức tình báo gián điệp đã được thành lập, phải là người Đức, trừ những điệp viên được tuyển dụng và huấn luyện ngay ở các nước mục tiêu. - Không ai có quyền giao những nhiệm vụ nhằm chống lại “những quyền lợi của nước Đức” cho Helen và bất kỳ nhân viên nào của hắn, dù là trực tiếp hay gián tiếp. Và những quyền lợi này phải do chính Helen xác định. Một khi Tây Đức trở thành một quốc gia độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, Helen và cơ quan của hắn sẽ trở lại phục vụ cho nước Đức mới. Thế là trong những ngày, khi mà những người đứng đầu của bốn cường quốc ngồi lại xung quanh chiếc bàn tròn trong điện Saesilenchov ở Postdam để vĩnh viễn kết liễu chủ nghĩa phát xít, quét bỏ nguy cơ chiến tranh ở châu Âu, thì ờ Washington, một thành viên của bộ tứ - Tổng thống Hari Truman, đã làm một bước đầu tiên cho cuộc “chiến tranh lạnh”. Và hơn thế nữa, cuộc chiến tranh thầm lặng bí mật nhằm chống lại Liên Xô và các nước đang có ý định xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều tên quân phiệt và tội phạm chiến tranh có nhiều tội ác, không những không bị trừng phạt mà còn trở lại tiếp tục hoạt động, bất chấp cả lời khuyên của Helen, và không chỉ tuân theo mệnh lệnh của hắn… *** - Tôi mời anh đến đây là để hỏi xem anh đã nghỉ ngơi thế nào và đã chuẩn bị xong cho chuyến đi Brussels chưa? - Cảm ơn tướng quân! Tôi đã chuẩn bị đâu vào đấy. Công việc đào đất và cái yên tĩnh đồng quê, dĩ nhiên, bao giờ cũng làm cho thần kinh bớt căng thẳng, song phải thú thực rằng những ngày gần đây tôi đã sống với công tác trước mắt… nhiều lúc tôi muốn được ngồi lên xe để vù ngay đến Rensburg. - Nghĩa là anh đã sẵn sàng? Rất sung sướng được nghe anh nói như thế. Tôi tin tưởng anh sẽ hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Ý tôi muốn nói những kinh nghiệm của anh, và cả việc anh đã từng ở đấy. Hồi đó là năm… - Mùa hè năm 1956, cùng với vị thủ tướng đã quá cố. Người Nga là những người hết sức mến khách. Họ đã để cho chúng tôi nghỉ lại ở khách sạn Xô viết, một trong những khách sạn tốt nhất Moscow. Họ tham quan quanh thành phố. Tuy vậy, chúng tôi còn có thời gian để đi bách bộ, mà cái đó đặc biệt có lợi… - Thế còn thứ ngoại ngữ ấy ra sao rồi? Tôi muốn nói đến trình độ hiểu biết tiếng Nga của anh? - Chuyến đi hồi đó làm cho tôi sung sướng. Tôi đã đến được cả những vùng Baltic. Song, việc lợi dụng sự có mặt ở Moscow để làm những việc quan trọng hơn đã không thành. Bộ chỉ huy cho rằng chúng tôi bị cơ quan phản gián Nga theo dõi nên đã chỉ thị cho chúng tôi phải tuyệt đối thận trọng, và chuyển tôi sang kiểm tra hoạt động của các sĩ quan thuộc cục A-I và A-III. - Còn bây giờ anh sẽ phải giữ một vai trò khác. Trước tiên, đây là một công việc độc lập và có mục tiêu rõ ràng. Tôi chưa kịp làm quen với các chỉ tiết của kế hoạch, song cảm thấy rằng mục tiêu mà các bạn đồng nghiệp của ta ở Đại Tây Dương đang quan tâm. Anh đã xác định được cách tiếp cận thuận lợi rồi thì phải. - Vâng, đúng thế. Một nhân viên của tôi đã làm được một số việc. - Vâng, tôi đã xem qua báo cáo của anh. Anh đã quyết định đến đó bằng cách nào chưa? - Theo tôi, con đường thuận lợi nhất vẫn là qua Bắc Âu. Sau khi ở lại Brussels một vài ngày, tôi sẽ đi Oslo và Stokholm và sau đó đến Moscow. - Tuyệt lắm! Anh có muốn hút thuốc không? - Không, thưa tướng quân. Chỉ còn ít lâu nữa là tròn hai mươi ngày kể từ ngày người bạn đồng nghiệp của tôi - Paul Kad - mất. Hồi anh ấy còn sống, tôi đã thề là sẽ không bao giờ hút thuốc. Còn rượu thì chỉ uống trong những trường hợp hết sức cần thiết. Và tất cả những cái đó là để giữ gìn sức khỏe cho cuộc đấu tranh vĩ đại của chúng ta. Cho đến nay, như tướng quân thấy, tôi vẫn giữ trọn lời thề đó. - Có phải anh nói cái đó là có nhã ý khuyên tôi từ bỏ những thói đáng yêu đó không? Nhưng dù sao, tôi cũng vẫn thành thật cảm phục nghị lực của anh. Thôi, chúc anh thành công, và mong anh sẽ sớm đưa đến cho tôi những tin tức đáng mừng. - Vâng, thưa tướng quân…   Mời các bạn đón đọc Hiệp Hai của tác giả Alesandr Taradankin & Igor Phesenco.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cổ Cồn Trắng - Nguyễn Như Phong
Đây là cuốn tiểu thuyết điều tra hình sự viết về chiến công của những người chiến sĩ công an đã dũng cảm, ngoan cường đấu tranh với bọn tội phạm buôn bán và tàng trữ ma tuý, đem lại bao nhiêu bất hạnh và đau khổ đối với những gia đình có con em trót sa vào vòng nghiện ngập. Lồng vào trong đó là những hoàn cảnh, những bi kịch, số phận, cuộc đời của những con người trực tiếp, gián tiếp, bị buộc phải theo hoặc chủ động lao vào guồng xoáy đầy tội lỗi đó.  Cuốn tiểu thuyết cho chúng ta hiểu tường tận hơn những công việc, những chiến công đôi khi là thầm lặng, và cả sự hy sinh, mất mát cũng rất thầm lặng, để có thể mang lại yên bình, hạnh phúc cho nhân dân của những người chiến sĩ công an đấu tranh chống tội phạm. Bởi bên cạnh cương vị là một cán bộ làm việc vì nước vì dân, trong gia đình các anh vẫn là những người con, người chồng, người cha. Phải làm sao đây để cân bằng cả hai nhiệm vụ (chưa biết bên nào nặng nề, phức tạp và khó khăn hơn) để có kết quả tốt đẹp cho mình, cho mọi người.  Đó là bài toán mà các chiến sĩ phải tìm ra lời giải thích đáng nhất. Và lời giải sẽ được tìm trong bộ tiểu thuyết này. Vẳng nghe đâu đây tiếng hát Ai giữ ngọn lửa qua đêm đen? Ai đếm những bàn chân thân quen, gửi làn hương thầm theo về trong gió, suốt chặng đường gian lao.... *** Đêm đã về khuya. Trời cuối thu đầu đông se lạnh. Chạy sát ven hồ Thủy Nguyệt là con đường nhỏ mang cái tên của một danh nhân rất mực tài hoa: Cao Bá Quát. Trên đường, thấp thoáng bóng những đôi trai gái đi như dựa vào nhau để tận hưởng sự êm ả, thanh khiết của trời thu. Cuối phố, nơi có những cây hoa sữa cổ thụ mốc thếch rêu phong là một quán bar khá đẹp mang tên Hoa Sữa. Đây là một biệt thự kiến trúc hoàn toàn Pháp đã có tuổi thọ hơn bảy mươi năm. Chủ của ngôi biệt thự là một nhân sĩ được Nhà nước kính trọng, có lẽ vì vậy mà trong hồi cải tạo tư sản những năm cuối thập kỷ 50 của thế kỷ trước, ngôi nhà đã không bị tịch thu. Năm 1990, ông qua đời để lại ngôi nhà cho hai người con trai. Người con cả là một Thiếu tướng quân đội thì được ở toàn bộ ba phòng tầng một và khu sân trước rộng hơn năm chục mét vuông. Người con thứ hai là một kỹ sư hóa chất ở toàn bộ tầng trên. Nhà Thiếu tướng có ít người, hơn nữa ông cũng được quân đội chia cho một khu đất khá đẹp ngoài ngoại ô, và ông đã xây ngôi nhà bốn tầng. Từ khi có ngôi nhà mới ông hầu như không về phố ở nữa cho nên ông đem tầng dưới cho thuê mở quán bar. Người đứng ra thuê là một tay kinh doanh bất động sản khá tiếng tăm tên là Trần Dung và có biệt hiệu là Dung Tỉ Phú. Trần Dung cho sơn sửa lại với một gam màu vàng nhạt và trang trí quanh tường bằng những bức tranh phiên bản của những họa sĩ nổi tiếng như Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh và đặc biệt là âm nhạc trong quán thường là nhạc cổ điển của Mozart, Chopin, Betthoven... Nhờ những cái đó, quán bar này đã tạo ra một bản sắc riêng biệt mà chỉ có những người ưa thích sự sâu lắng, nhẹ nhàng mới lui tới. Bar mở cửa từ 10 giờ 30 sáng và đóng cửa khi nào hết khách, nhưng thường thường là khoảng 12 giờ đêm thì vắng hẳn. Hôm nay cũng vậy, khi con chim cu từ trong chiếc đồng hồ quả lắc mang nhãn hiệu ODO thò đầu ra gáy mười một tiếng thì trong quán chỉ còn lại có bốn người. Hai thanh mến ngồi phía ngoài cửa và uể oải ngáp ngủ, còn phía góc trong của phòng có hai người vẫn đang nói chuyện - đó là một người đàn ông và một phụ nữ. Người đàn ông tên Tiên, biệt hiệu là Tiên Chỉ đã cứng tuổi, có mái tóc chải cẩu thả, mặt tròn, mắt nhỏ và môi mỏng. Tiên Chỉ tên chính là Hoàng Văn Tiên và do anh ta có tật khi nói chuyện cứ hay dùng ngón trỏ chỉ vào người đối thoại nên mới có biệt hiệu là Tiên Chỉ. Tuy nhiên, biệt danh Tiên Chỉ còn mang một ý nghĩa khác. Tiên vốn là một tay giang hồ có tiếng ở thành phố H, đã từng hai lần lĩnh án tù, tuy mỗi lần chỉ vài ba năm. Tiên được coi là thủ lĩnh của một băng nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu xã hội đen trên các lĩnh vực cờ bạc, cho vay nặng lãi, bảo kê vũ trường, kinh doanh bất động sản; và ngoài ra, Tiên còn lập cả công ty kinh doanh hàng điện máy, điện tử. Là kẻ mưu mẹo, có ý chí, được giới giang hồ nể trọng, xếp vào hàng chiếu trên, vì thế Tiên Chỉ thường được gọi thêm là "Cụ Tiên Chỉ". Năm 1996, Tiên ra tù và từ đó người ta thấy anh ta hiền lành hẳn. Tuy nhiên, cảnh sát hình sự thì vẫn coi anh ta là đối tượng điểm. Còn cô gái khoảng gần 40 tuổi - đó là Oanh, biệt hiệu là Oanh Sói. Cũng là một ả giang hồ, là nữ quái nổi tiếng một thời của đất cảng Hải Phòng. Oanh Sói không đẹp nhưng có nét hấp dẫn, đặc biệt là mái tóc cắt tém như con trai và ánh mắt nhìn sắc lạnh. Oanh hút thuốc liên tục và nét mặt xem ra có vẻ căng thẳng: - Em rất cảm ơn ý tốt của anh. Nhưng bây giờ thì em chưa cần... Em muốn phải thanh toán sòng phảng với hắn. - Hắn là ai? Cô cho anh biết. Anh sẽ giúp cô thanh toán món nợ đó? - Chuyện này của riêng em. Em không muốn ai biết và cũng không muốn phải nhờ ai. Tiên nheo mắt nhìn hai gã thanh niên trông còn rất trẻ con đang ngồi phía ngoài: - Đệ tử của em đấy à? - Vâng, em cũng cần phải bảo vệ mình. Em biết có kẻ muốn "chơi" em, nhưng đâu có dễ. Nói rồi Oanh vẫy tay gọi một đứa đến và bảo: - Các em về trước đi. Chị ở đây, lát nữa về sau. Hai gã thanh niên lễ phép chào hai người rồi bước ra. Tiên gật gù, nhìn theo chúng rồi quay lại: - Nếu em đồng ý, anh giao cho em ba sòng ở ngoại thành. Em không cần góp thùng tẩy [1], nhưng được ba chục phần trăm. Chỉ có điều là mấy sòng này đang bị bọn thằng Phướn Chột quấy phá. Em đưa mấy thằng đệ tử của em về, chắc chúng chịu thôi? - Đến như anh mà cũng sợ thằng nào quậy ư? Thế những cảnh sát hình sự chiến hữu của anh đâu rồi? ... Mời các bạn đón đọc Cổ Cồn Trắng của tác giả Nguyễn Như Phong.
Tôi Vô Tội - Agatha Christie
Tiểu thuyết trinh thám tiếp theo về Thanh Tra Hercule Poirot. Elinor Carlisle, một người bị nữ bị kết tội giết Mary Gerrard vào ngày hai bảy tháng bảy năm nay. Liệu rằng Elinor Carlisle có tội hay không có tội? Elinor đứng thẳng người, đầu hơi cúi. Đó là một phụ nữ trẻ, kiều diễm với những đường nét thanh tú và mái tóc dầy đen nhánh. Hàng lông mày thành một nét mảnh giản dị nằm bên trên cặp mắt xanh biếc. Không khí đột nhiên lặng lẽ... bấy giờ vấy lên một sự lặng lẽ ngột ngạt. Edwin Bulmer, luật sư của bị cáo, cảm thấy hoảng sợ. Thân chủ của ông định nhận tội chăng? Cô ta đã mất hết sự tự chủ rồi. Elinor hé miệng, nói khẽ : - Tôi vô tội. *** ... Anh bạn nên biết rằng, - Hercule nói - điều dối trá nhiều khi đáng quý ngang với sự thật đấy. - Nghĩa là người ta đã nói với ông những điều dối trá? - Bác sĩ Peter Lord hỏi. Hercule Poirot gật đầu. - Tất nhiên, và với nhiều lý do khác nhau. Nhưng người làm tôi ngạc nhiên chưa từng thấy là Elinor Carlisle. Cô ta nói dối vì quá nghiêm khắc trước lương tâm. Cô ấy bị nghi oan nhưng không đấu tranh mà định đầu hàng ngay, nhận trước tòa một tội mà cô không làm. Bác sĩ Lord mệt mỏi thở dài. - Quả là khó ai tin nổi. - Vậy mà lại có! Cô ấy tự kết án... bởi cô ấy tự đặt ra một tiêu chuẩn đạo đức cao hơn hẳn tiêu chuẩn của con người nói chung. Lúc mới tiến hành điều tra, tôi đã nghi cô ta chính là thủ phạm. Nhưng vì anh yêu cầu tha thiết nên tôi tiếp tục tìm hiểu thêm và tôi hiểu ra rằng các bằng chứng đều nói lên, thủ phạm là người khác. - Mụ y tá Hopkins? - “Đúng thế. Nhưng không phải tôi nghi mụ ấy ngay. Đầu tiên tôi nghi Roddy, mà trường hợp này cũng do một lời nói dối. Anh ta bảo anh ta rời nước Anh ngày 9 tháng Bảy và trở về ngày 1 tháng Tám. Trong khi mụ Hopkins lại tình cờ lộ ra với tôi rằng Roddy đến gặp Mary ở London, nhắc lại lời cầu hôn, nhưng Mary từ chối. Theo tin tức của anh thì ngày 10 tháng Bảy, Mary mới đến London... Một ngày sau khi Roddy rời khỏi đó. Vậy làm sao Roddy gặp cô ta được? Tôi bèn xem hộ chiếu của Roddy, thì ra anh ta có về Anh hai ngày, từ 25 đến 27 tháng Bảy. Anh ta đã cố tình nói dối tôi. Tôi nghĩ đến quãng thời gian ngắn ngủi từ lúc Elinor rời khỏi bếp, ra chỗ trạm bảo vệ rủ hai người phụ nữ kia vào cùng ăn. Tôi đã nghĩ có kẻ nào định giết Elinor, chứ không phải giết Mary. Mà Roddy lại có một động cơ rất quan trọng để thủ tiêu Elinor. Dùng một cách hỏi khéo léo, tôi phát hiện ra là anh ta có biết nội dung bản di chúc của Elinor Carlisle”. - Vậy sao ông lại biết anh ta vô tội? - “Nhờ một lời nói dối... Một lời nói dối vớ vẩn chẳng để làm gì. Mụ Hopkins bảo rớm máu ở cổ tay là do gai hoa hồng leo. Tôi đến tìm hiểu thì ra cây hoa hồng leo ở trạm bảo vệ không có gai. Câu nói dối đó rõ ràng là vô ích và ngu xuẩn, chẳng để làm gì, nhưng lại khiến tôi chú ý. Thế là từ đấy tôi bắt đầu quan tâm nhiều đến mụ ta. Trước kia tôi tưởng mụ ta thành thật. Tuy mụ ta đổ diệt tội cho Elinor, tôi vẫn nghĩ là tại mụ ta yêu Mary quá. Nhưng sau khi mụ nói dối một cách vụng về kia, tôi chợt hiểu tôi đã bỏ sót một chi tiết. Mụ ta biết một điều gì đó về Mary Gerrard nhưng giấu biệt, mà chỉ nói theo lời đồn của mọi người”. Viên bác sĩ ngạc nhiên kêu lên : - Vậy mà tôi lại đánh giá khác kia chứ! - “Mụ rất giảo quyệt. Mụ đóng vai một người biết một điều nhưng không nỡ nói ra. Sau khi suy ngẫm, tôi thấy mụ ta có một dụng ý, một mục đích. Và tôi đã tìm ra được mưu mẹo của mụ. Từ lúc ấy, tôi nhận ra sự khác nhau giữa kiểu nói dối của mụ với kiểu nói dối của người khác, thí dụ kiểu của Roddy Welman. Một bên là nói dối tội lỗi và một bên là nói dối vụng về nhưng vô tội. Roddy chính là thuộc loại thứ hai này. Vì không có mặt ở nơi xảy ra vụ án nên anh ta nói dối cho gọn là lúc đó ở nước ngoài. Roddy thuộc loại người ngại mọi phiền phức. Lọ moóc-phin vẫn trong tay mụ, nhưng mụ lại rao ầm lên là bị mất để đánh lạc hướng. Mụ sử dụng chị y tá O’Brien khờ khạo làm cái loa, để mỗi khi cần tung ra một cách hiểu nào đó. ... Mời các bạn đón đọc Tôi Vô Tội của tác giả Agatha Christie.
Thủy Triều Đen - Andrew Gross
Là đồng tác giả của 5 tiểu thuyết ăn khách với nhà văn nổi tiếng James Patterson, Andrew Gross một lần nữa khẳng định tài năng trong thể loại trinh thám với tiểu thuyết mới “Thủy Triều Đen”. Tác giả đặt người đọc vào trạng thái hồi hộp ngay ở những trang đầu tiên bằng vụ đánh bom ở nhà ga trung tâm thành phố New York. Vụ nổ đã khiến cho cuộc sống hạnh phúc và phẳng lặng của Karen Friedman rơi vào khủng hoảng bởi chồng cô cũng có mặt trên chuyến tàu định mệnh ấy. Charles Friedman, nhà quản lý tài chính thành đạt, chồng của Karen, là một trong những nạn nhân. Vài ngày sau, nghe tin nhiều thi thể không tìm thấy được, Karen phải chấp nhận sự thật đau buồn là người chồng sống với cô 18 năm nay đã mất. Cũng vào ngày hôm đó, một vụ tai nạn ôtô làm thiệt mạng một thanh niên cùng quê với Karen ở Greenwich, Connecticut. Ty Hauck, một nhà thám tử nhận điều tra vụ này và tìm được manh mối cho thấy mối liên hệ bất ngờ giữa hai sự kiện tưởng như không hề liên quan. Đọc Thủy Triều Đen, độc giả sẽ ít thấy những cảnh máu me, súng ống, đường hầm tăm tối hay những đường vòng quanh co khúc khuỷu lờ mờ ở xa phía trước, nhưng cuốn tiểu thuyết vẫn rất gay cấn ly kỳ đến nghẹt thở. Bởi Andrew Gross đã khéo léo xây dựng một nhân vật chính thú vị và một câu chuyện kết hợp giữa yếu tố hình sự truyền thống xen lẫn một âm mưu nhẹ nhàng và xúc động. Thủy Triều Đen còn khiến người ta phải đặt câu hỏi về cuộc sống hôn nhân hiện đại. Phải chăng sự hòa hợp của những đôi vợ chồng tưởng chừng như hạnh phúc nhất cũng chỉ là sự giả tạo bên ngoài khi vẫn còn nhiều bí mật riêng đáng sợ luôn tồn tại. *** Sáu giờ mười sáng. Khi ánh nắng ban mai xuyên qua lớp kính cửa sổ phòng ngủ, Charles Friedman mới thả chiếc gậy gỗ truyền tay chạy tiếp sức xuống. Đã nhiều năm rồi Charles không hề gặp lại giấc mơ đó, ấy vậy mà giờ đây anh thấy mình đang đứng đó, cao lớn ở cái tuổi mười hai, chạy tiếp sức vòng ba trong cuộc thi cắm trại hè, cuộc đua đấu loại trực tiếp giữa đội Xanh và đội Xám. Bầu trời xanh đến tận cùng, đám đông ngoài kia đang nhấp nhô như những làn sóng - làn sóng những đầu đinh, những cái má đỏ hồng mà cậu sẽ chẳng bao giờ được thấy ở một nơi nào khác ngoại trừ nơi này. Đồng đội của cậu là Kyle Bergman đang chạy về phía Charles, dẫn trước đội bạn ở khoảng cách không nhiều, hai má phập phồng theo từng nhịp thở. Tới rồi... Charles chuẩn bị tinh thần, sẵn sàng đón lấy chiếc gậy tiếp sức. Những ngón tay cậu giật nhẹ, chờ đón chiếc gậy đập vào lòng bàn tay. Và đây rồi! Đã đến lúc! Charles đón lấy chiếc gậy. Bỗng nhiên một tiếng rên lớn vang lên. Charles ngừng lại, nhìn xuống hoảng sợ. Chiếc gậy nằm chỏng chơ dưới đường chạy. Đội Xám đã hoàn tất cung tiếp sức, vụt qua trước mặt Charles để tiến tới một chiến thắng mà trước đây không chắc sẽ xảy đến với họ. Đám cổ động viên cho đội Xám rồ lên vui sướng, tiếng hoan hô mừng vui hoà lẫn trong những lời chế giễu đầy thất vọng cứ vọng mãi trong đầu Charles. Đó cũng chính là lúc Charles bừng tỉnh. Bao giờ cũng vậy. Tỉnh dậy, thở nặng nhọc, ga trải giường ướt đẫm mồ hôi. Charles đưa mắt nhìn hai bàn tay trống không. Anh đập xuống tấm ga trải giường như thể chiếc gậy tiếp sức vẫn còn ở đó, sau ba mươi năm đã qua. Nhưng ở đó chỉ có Tobey, chú chó tha mồi Cao nguyên miền Tây màu trắng, đang nằm, hai chân xoài dưới ngực, chăm chăm nhìn anh chờ đợi. Charles thở dài, thả người xuống gối. Anh liếc nhìn đồng hồ. Sáu giờ mười. Mười phút trước chuông báo thức. Vợ anh, Karen, đang nằm úp thìa bên cạnh. Anh ngủ chẳng được bao nhiêu. Anh đã thức trắng từ ba giờ đến bốn giờ sáng, chăm chú theo dõi Giải vô địch Nữ lực sĩ trên kênh ESPN2, không bật tiếng vì không muốn làm ảnh hưởng tới vợ. Có điều gì đó đang đè nặng tâm trí Charles. Có lẽ đó là cái vị trí lớn lao mà anh đã chiếm được trên thị trường cát dầu ở Canada hôm thứ năm vừa qua và đã nắm giữ vị trí đó suốt mấy ngày cuối tuần đầy rủi ro, khi giá dầu đã bị rò rỉ ra ngoài bằng một cách nào đó. Hoặc có thể là cái cách anh dồn thêm vốn cho các hợp đồng khí đốt có thời hạn sáu tháng, trong khi lại rút bớt đi đối với những hợp đồng một năm. Hôm thứ sáu, chỉ số chứng khoán đối với các mặt hàng nhiên liệu tiếp tục giảm. Anh thực sự sợ hãi mỗi khi bước ra khỏi giường ngủ, bởi sợ không dám nhìn vào màn hình sáng nay để xem những gì đang diễn ra ở đó. Hay đó là Sasha? Trong mười năm qua, Charles điều hành quỹ đầu tư hợp tác năng lượng tại Manhattan, có năng lực tài chính thực sự trên mức đi vay lên đến một phần tám. Nhìn bên ngoài, với mái tóc hung hung nâu, cặp kính gọng sừng cùng dáng vẻ bình thản, trông anh giống nhà đầu tư bất động sản hay một nhà tư vấn hơn là một người sống nội tâm (trong cả những giấc mơ) luôn nghĩ về một thực tế là đã và đang phải sống trong địa ngục, mà thậm chí là địa ngục tầng hai. Charles, trong chiếc quần hộp, chống khuỷu tay đẩy người lên, và ngừng lại. Tobey nhảy ra khỏi giường, cuống quýt cào lên cánh cửa. “Cho nó ra đi anh.” Karen cựa quậy, cuộn người lăn sang bên, giật mạnh chăn phía trên đầu. “Có chắc là mày muốn ra ngoài không?” - Charles hỏi lại chú chó, lúc này hai tai đang vểnh lại phía sau, đuôi ngoáy tít, nhảy trên hai chân sau chờ đợi, như thể nó có thể sắp xoay nắm đấm cửa với hai hàm răng của mình đến nơi. - "Mày biết chuyện gì sẽ xảy ra mà.” “Thôi nào, Charles, sáng nay đến lượt anh đấy. Cho nó ra ngoài đi.” "Những từ cuối cùng mới thật hay...” Charles ra khỏi giường, mở cánh cửa dẫn ra khoảnh sân rộng chừng nửa yard (1) có hàng rào bao quanh, một khu nhà gần eo biển ở Old Greenwich. Tobey lao vụt ra khoảnh sân, đuổi theo mùi một con thỏ hay sóc nào đó vừa để lại. Rồi ngay lập tức, con chó bắt đầu rít lên cái thứ tiếng bản năng có thanh vực cao của nó. Karen vò chiếc gối trên đầu và cũng thốt ra những tiếng gầm gừ. "Ggggừừ....." Vậy đấy, mỗi ngày đều bắt đầu như vậy, Charles chậm chạp bước vào bếp, bật kênh CNN và cắm điện bình cà phê, nghe tiếng chó sủa vọng vào từ bên ngoài. Sau đó, anh vào phòng làm việc kiểm tra lượng hàng bán qua mạng ở châu Âu trước khi đi tắm. Sáng hôm đó, hàng bán không được tốt lắm, chỉ đạt giá 72.10 đô. Lại tiếp tục giảm. Charles làm nhanh một phép tính trong đầu. Anh lại buộc phải bán ra thêm ba hợp đồng nữa. Vài triệu đô đã không cánh mà bay. Charles ngâm mình trong bồn tắm, lúc đó mới chỉ hơn sáu giờ sáng một chút. Bên ngoài, Tobey đang sủa tới tấp, tới ba phút không nghỉ. Trong phòng tắm, Charles điểm lại hoạt động trong ngày. Anh sẽ phải thay đổi vị trí liên tục. Giải quyết các hợp đồng dầu phi truyền thống, sau đó là họp với một trong những nhà đầu tư vốn. Liệu đã đến lúc anh gột rửa sạch sẽ? Anh đã chuyển tiền vào tài khoản của cô con gái, Sam, để dành cho nó học đại học; mùa thu tới con gái anh sẽ bước vào năm cuối trung học. Khi đó cũng chính là lúc mọi việc đổ ụp lên anh. Chết tiệt thật! Anh sẽ phải đi lấy chiếc xe khốn kiếp đó vào sáng nay. Để bảo dưỡng cho xe Mercedes đã chạy được mười lăm ngàn dặm, tuần trước Karen đã kỳ kèo buộc anh phải làm chuyện này. Thế có nghĩa là anh sẽ phải đi tàu đến nơi làm việc. Anh sẽ bị muộn một chút. Trong khi anh muốn có mặt tại bàn làm việc của mình vào lúc bảy giờ ba mươi để thực hiện những công việc trong ngày như dự kiến. Sau đó Karen sẽ đón anh tại nhà ga vào buổi chiều. Quần áo chỉnh tề, thường thì giờ này Charles đã sẵn sàng cho giờ cao điểm. Đúng sáu giờ ba mươi, việc cần làm là đánh thức Karen dậy, gõ cửa phòng hai đứa con Alex và Samatha cho chúng kịp đến trường. Và còn một việc nữa là lướt qua tiêu đề các bài viết trên tờ Tạp chí Phố Wall (2) được đưa tới ở cửa trước. ... Mời các bạn đón đọc Thủy Triều Đen của tác giả Andrew Gross.
Đừng Nghi Ngờ Tình Yêu Của Anh - Daisy Thomson
Trong tác phẩm Đừng Nghi Ngờ Tình Yêu Của Anh của tác giả Daisy Thomson không đơn thuần là câu chuyện trinh thám hay mang nhiều tình tiết hồi hộp, gay cấn và kịch tính. Đừng Nghi Ngờ Tình Yêu Của Anh hội tụ những cung bậc cảm xúc đặc trưng của truyện trinh thám lãng mạn. *** Tôi thích thú quan sát thằng bé lắp cánh buồm lên chiếc thuyền to gần bằng người nó. Trong lúc kiên nhẫn con gọi đến giúp, bố thằng bé cũng đang ngắm nó với vẻ trìu mến hiện rõ trên khuôn mặt. Thằng bé tập trung vào việc của mình, còn người bố tập trung vào nó. Họ tạo ra một cảnh rất thú vị. Tôi lấy máy ảnh ra khỏi bao đựng và hướng máy vào họ. Tôi thích chụp cảnh đó. Rất tự nhiên, cảnh đó sẽ thật tuyệt cho cuốn album gia đình. Tuy vậy, nó cũng chẳng thể nổi bật trong một cuốn album được, bởi vì tôi không thể tiến đến trước mặt một người lạ mà nói rằng:” Xin lỗi, tôi vừa chụp ảnh anh và con trai anh. Nếu anh cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gủi ảnh đến” . Tôi mà làm vậy thì người đàn ông đó sẽ nghĩ tôi đang hoặc đang rình mò làm ăn giống như các thợ ảnh quanh công viên, hoặc là đang cố làm quen với anh ta một cách lộ liễu. Tôi tiếp tục ngắm hai bố con người đàn ông đó trong lúc họ lắp cánh buồm vào thuyền theo ý của thằng bé. Lắp xong, người bố đứng ngoắc ngón tay vào dây lưng quần, còn thằng bé thì cúi xuống bờ hồ đẩy chiếc thuyền nó vừa thả về phía một chiếc thuyền nhỏ khác lúc ấy đang bị một cơn gió thu chao đảo trên mặt hồ gợn sóng. – Luke, thuyền trôi rồi, phải đưa nó vào thôi. Gió làm vọng tới tai tôi tiếng reo phấn khích của thằng bé và thật bất ngờ đối với tôi khi nhận ra thằng bé nói tiếng Anh. Ơn Chúa! Tôi tự khen mình đã không hỏi địa chỉ của người đàn ông ấy, bởi ở Paris nếu đường đột đến trước mặt một người Anh hỏi địa chỉ của người ta thì thế nào cũng bị cho là có ý không tốt Theo lời khuyên của bác sĩ, tôi đã đi nghỉ. Sau một trận cảm cúm, tôi bị suy nhược, bồn chồn và thiếu tự tin. Bố tôi, đồng thời cũng là ông chủ của tôi cho rằng tình trạng bồn chồn của tôi không phải do hậu qủa của cơn cảm cúm mà là (như theo ông gọi) do một cơn sốt cuối xuân, song ông cũng ủng hộ nhiệt tình lời khuyên của bác sỹ. Ông bảo: “Lisa ạ, bố đã để ý và nhận thấy con bị bồn chồn từ mấy tháng nay rồi. Đã đến lúc con phải nghỉ ngơi thôi, tháng này phòng chụp không bận lắm. Bây giờ không phải là thời điểm học sinh chụp ảnh cho lễ tốt nghiệp cũng không phải là mùa cưới. Bố sẽ xoay sở được công việc ở phòng ảnh. Gần đây con đã có chút thành công với các tạp chí du lịch, sao con không đi Pháp hay đi Ý và chụp những bức ảnh về những nơi con tới. Như vậy, kì nghỉ của con sẽ thú vị đấy” . Ý tưởng ấy nghe khá hấp dẫn. Mặc dù trước đó tôi cũng đã tính sẽ làm gì đó để thay đổi, nhưng tôi không muốn bỏ bố tôi một mình ở phòng chụp. Tôi cũng đã biết nơi tôi muốn đến thăm và chụp ảnh là Paris, thành phố mà hồi học ở trường Sorbonne tôi đã từng biết ít nhiều. Một cơn gió thu nữa ào tới bứt thêm những chiếc lá từ trên cây. Một chiếc lá to màu vàng thẫm nhảy nhót trước mặt tôi. Tôi ngắm chiếc lá bay lòng bồi hồi nhớ lại tuổi thơ của mình. Tôi đưa tay chộp chiếc lá. Tôi để trượt nó rồi cố chộp lại lần nữa. Tôi reo lên hoan hỷ khi bắt được chiếc lá. Tôi mở túi khoác và cẩn thận đặt chiếc lá vào đó. Tôi biết tôi làm thế xem ra có vẻ ngớ ngẩn, nhưng hồi còn bé có người bảo tôi rằng bắt được một chiếc lá rơi là một điều may mắn và tôi nghĩ biết đâu tôi chả gặp may, thoát ra tâm trạng bồn chồn và vui vẻ hơn. Kéo túi khoá xong, tôi nhìn ra hồ và chợt nhận thấy người đàn ông lúc trước đứng cùng thằng bé đang nhìn thẳng vào tôi. Tôi thấy rõ vẻ thích thú trên khuôn mặt anh ta. Anh ta không cố tình tránh cái nhìn của tôi, mà cứ tiếp tục nhìn tôi khiến tôi mắc cỡ. Trước mặt anh ta tôi mới ngớ ngẩn làm sao khi nhảy cuống cuồng như một đứa trẻ lên sáu để chộp một chiếc lá. Tuy nhiên tôi nhận ra rằng nụ cười trên khuôn mặt người đàn ông ấy không phải là nụ cười chế nhạo. Đó là nụ cười thể hiện rằng anh ta biết mục đích mang tính mê tín của tôi khi bắt chiếc lá.Và còn hơn thế. Đó là nụ cười mà sau những giây phút bối rối tôi đã phải mỉm cười đáp lại, cứ như thể người đàn ông đó là một người tôi đã quen biết. Đó là một nụ cười, mà tôi chắc sẽ khuyến khích sự đáp lại của bất cứ người phụ nữ nào, thậm chí cả người phụ nữ nghiêm nghị nhất. Tôi muốn tiếp tục cười với anh ta. Tôi đã vượt qua được cảm giác xa lạ, dường như tôi cứ bị hút vào người đàn ông ấy và cảm giác ấy mạnh mẽ đến nỗi khiến tôi bước lên một bước về phía anh ta trước khi tôi kịp trấn tĩnh. Quay nhìn sang hướng khác, tôi đặt quai túi lên vai và bước ra lối ra cổng công viên nơi có đại lộ Saint Michel. Tôi vừa đi được vài bước thì chợt nghe thấy tiếng thét của một đứa trẻ. Tôi quay lại, vừa kịp nhìn thấy một đám choai choai đang giật chiếc thuyền của thằng bé ban nãy tôi chụp ảnh. Đám choai choai ấy đẩy thằng bé ngã xuống đất rồi vừa tháo chạy về phía tôi, vừa chạy chúng vừa hét inh ỏi. Trên đường chạy, chúng xô ngã những đứa trẻ khác đang chơi trong công viên. ... Mời các bạn đón đọc Đừng Nghi Ngờ Tình Yêu Của Anh của tác giả Daisy Thomson.