Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ngôi Làng Cổ Mộ (Thục Linh)

Nếu là một người yêu thích tiểu thuyết kinh dị, bạn sẽ không thể bỏ qua Ngôi làng cổ mộ của tác giả trẻ Thục Linh.

Những chi tiết rùng rợn, những tình huống gay cấn, căng thẳng, sợ hãi, góc nhìn trong cuộc của người đang phải chạy trốn hay đương đầu với những thế lực huyền bí ở Ngôi làng cổ mộ sẽ lôi cuốn bạn không ngừng. Từng câu chữ của Thục Linh sẽ dẫn dắt bạn đọc như lạc vào chính xứ sở u linh trong câu chuyện, trải nghiệm cảm giác ghê rợn một cách chân thực nhất như chính các nhân vật.

Không chỉ dừng lại ở yếu tố kinh dị, điều đặc sắc hơn cả là đằng sau bức màn câu chuyện huyền bí tâm linh, Thục Linh sẽ kể cho độc giả một bức tranh đời thực trần trụi nhất, sự đương đầu giữa cái ác và cái thiện trong cuộc sống, tình yêu thương và xúc cảm bản năng nhất của con người, những giá trị nhân văn mà đôi lúc dường như ta đã vô tình lãng quên…***

Thục Linh

Cô tốt nghiệp khoa Sư phạm của trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội và hiện đang là giáo viên bộ môn Ngữ văn. Tìm mua: Ngôi Làng Cổ Mộ TiKi Lazada Shopee

Thục Linh bắt đầu viết truyện từ năm 2017 và nhận được sự quan tâm rất lớn từ các độc giả yêu thích truyện tâm linh trên mạng xã hội. Mỗi tác phẩm của cô đều được độc giả đánh giá cao về đồ li kì, ma mị và tính nhân văn. Ngoài sở thích viết lách, cô còn có niềm đam mê với bộ môn huyền học Tarot và đàn hát, vẽ tranh.

“Ngôi làng cổ mộ” là sách xuất bản đầu tay của tác giả Thục Linh. Ấn phẩm đã bán hết 1000 bản sau 1 tháng ra mắt.***

Trưa hôm ấy về nhà, tôi thấy mẹ tôi đang khóc. Mẹ gần như hoảng loạn. Bố tôi không có nhà, không biết giờ này ông còn đi đâu.

“Hoài à,…” Mẹ tôi nói trong nước mắt: “Bố con không may mắn, giờ phá sản rồi… Cái nhà này cũng phải bán đi…” Mẹ tôi nấc lên từng cơn: “Mẹ e là… e là… chúng ta phải trở về đấy…”

Thông tin đến tai tôi đột ngột khiến mọi thứ dưới chân tôi sụp xuống. Chúng tôi đã sống ở đây hơn mười năm. Năm nay tôi vào lớp mười một, mười sáu tuổi. Tôi đã quen với nhịp sống của thành phố ồn ã nhộn nhịp này, giờ đột nhiên phải chuyển đi, tôi thực sự không sao chấp nhận nổi.

Tôi ngồi thụp xuống đất dưới chân mẹ, từng dòng nước mắt ứa ra: “Chúng ta… giờ đi đâu hả mẹ…”

“Về… về đó…” Mẹ tôi ôm mặt ra vẻ sợ sệt lắm.

Về đâu cơ?

Mẹ tôi chỉ khóc chứ không thể nói gì thêm.

Tối muộn hôm ấy, bố tôi về nhà. Người ông nồng nặc mùi rượu. Ông nói bằng giọng lè nhè: “Từ giờ đến cuối tuần, dọn hết đi… Người ta đến siết nhà giờ đấy…” Nói rồi ông đi vào phòng.

Tôi cũng trở về phòng, từng bước đi thất thểu. Tôi mở cửa phòng. Căn phòng tối om chỉ có ánh đèn lờ mờ sáng từ ngoài phòng khách hắt vào. Nhi, con em gái tôi đang ngồi vẽ trong lặng lẽ. Năm nay nó mới chín tuổi, học lớp ba. Nó rất thích vẽ, cả căn phòng ngủ nhỏ của hai chị em dán đầy những bức tranh nguệch ngoạc của nó.

“Mọi người sao thế?” Nó hỏi bằng giọng véo von mà không ngoảnh đầu lại.

“Không sao đâu…” Tôi lẩm bẩm rồi nằm vật xuống giường.

Những ngày sau đó chỉ có tôi và mẹ lặng lẽ thu dọn mọi thứ trong nhà, cho vào thùng các tông để chuẩn bị chuyển đi. Bố tôi giam mình trong phòng cả ngày không ra, chỉ đắm chìm trong men rượu. Nhìn ông, tôi vừa thương vừa giận. Những nỗi uất ức cứ nghẹn lên trong họng tôi. Tôi chẳng có tội lỗi gì mà vẫn phải hứng chịu nỗi bất hạnh này. Tôi phải rời xa căn nhà yêu dấu, lớp học với bao nhiêu bạn bè… Giờ tôi sẽ phải tới một nơi khỉ ho cò gáy nào đó không có lấy một chút thân thuộc.

Những ngày sau, tôi chia tay bạn bè trong nước mắt. Ai cũng bất ngờ với tin tôi phải chuyển đi gấp. Thực sự tôi không muốn xa nhóm bạn của tôi…

Đêm trước ngày chuyển, tôi nghe tiếng đồ đạc đổ vỡ vọng ra từ phòng ngủ của bố mẹ. Tôi tò mò tiến lại gần.

“Bắt buộc phải chuyển về đấy sao? Không còn cách nào khác à? Em nghe…” Giọng mẹ tôi vang lên.

“Không về đấy thì về đâu? Tôi hỏi cô, còn chỗ nào để đi nữa?…” Bố tôi gắt lên.

“Anh biết là không tốt cho bọn trẻ mà!?”

“Đừng nghe ngóng linh tinh… Giờ còn mỗi căn nhà đấy thôi… Tôi trắng tay rồi!”

Xoảng… nghe đâu như bố tôi bực dọc quật vỡ thứ gì đó trong phòng.

Mẹ tôi im bặt.

Tôi bỏ ra đi thu dọn nốt đống đồ đạc còn lại trong phòng ngủ. Dưới sàn nhà vương vãi những bức tranh của con em gái tôi. Tôi gắt lên: “Đừng bày nữa, không thấy tao dọn chưa đủ mệt sao?”

Con bé trốn sau tấm rèm cửa, cười khinh khích. Tôi nhặt những bức tranh lên. Những bức tranh đều giống giống nhau: Những ngôi nhà san sát nằm trên một ngọn đồi nhỏ, đằng sau là một ngọn núi to. Những người que đang đi đi lại lại ở phía dưới.

Tôi chẳng bận tâm, cho hết vào thùng. Thực sự tôi chỉ muốn ném hết đi nhưng con bé sẽ khóc lóc nếu như không thấy tranh. Nó đã chín tuổi mà nhiều lúc tôi cảm giác như nó mới chỉ bốn, năm vậy.

Sáng hôm sau, gia đình tôi chuyển ra từ sớm. Mọi thứ được chất lên xe rất nhanh. Phải tới hai xe tải mới chở hết đồ trong nhà.

Tôi đứng bần thần ở ngoài cửa, nhìn vào trong gian nhà trống, cổ họng cứ nghẹn lại, mắt nhòe đi. Căn nhà này đã chứa đựng bao kỉ niệm vui buồn của tôi trong suốt mười năm qua. Tôi nhớ những tháng ngày gia đình vui vẻ đầm ấm bên mâm cơm. Giờ tất cả chỉ là hư vô…

“Hoài… Đi thôi con!” Giọng mẹ tôi khàn khàn gọi tôi.

Tôi quay lưng bước đi. Tôi đưa tay đóng cánh cửa lại, khép lại quãng thời gian yên bình nhất cuộc đời mà tôi từng có.

Thực sự tới giờ tôi vẫn chẳng biết là nhà mình sẽ chuyển đi đâu. Tôi chỉ biết là đó là một căn nhà dưới quê mà ông nội đã để lại cho bố tôi. Giờ chẳng còn nơi nào để đi nên nhà tôi sẽ về đó sống.

Chòng chành trên xe rất lâu, chúng tôi nghỉ đêm tại một nhà nghỉ cũ kĩ ven đường quốc lộ. Dự là sáng sớm ngày hôm sau sẽ tới nơi.

Đêm hôm ấy tôi nằm mơ thấy một giấc mơ. Tôi đi lạc trong sương mù. Phía trước tôi là một cô bé, bé tuổi hơn Nhi. Nó dẫn tôi chạy, chạy mãi. Tiếng nó vang vọng trong không gian: “Đi đi… Hoài, đừng về…”

Cơn mơ ngột ngạt làm tôi thức dậy giữa đêm. Biến cố lớn trong cuộc đời làm tôi vẫn chưa hết sốc. Tôi nằm xuống cố ngủ lại, mai còn về nhà mới.

Sáng hôm sau xe đi sớm. Cảnh vật ngày càng hoang sơ, khác xa sự nhộn nhịp của thành phố tôi đã từng ở. Chẳng hiểu sao nhìn từng rặng cây tôi lại cảm thấy vô cùng quen thuộc.

Xe đang leo lên dốc thì Bốp, một tiếng nổ lớn vang lên. Xe đã bị nổ lốp.

“Chết rồi… Không mang lốp dự phòng đâu…” Tài xe gãi gãi đầu đầy bối rối.

“Cũng gần tới nơi rồi…” Bố tôi nói: “Dù sao xe đồ kia cũng lên trước rồi. Giờ từ đây chúng tôi đi bộ. Lát anh gọi người sửa xe đi nhé…”

Nói rồi bố tôi ngoắc ba mẹ con xuống xe. Bố bảo chúng tôi đi trước còn xếp đồ. Ông sẽ ở lại trông xe và giúp bác tài xế.

Tôi, mẹ và Nhi lếch thếch leo lên sườn dốc quanh co. Con đường ngày càng heo hút. Hai bên dày đặc những cây rừng và bụi rậm.

“Lâu quá rồi… chẳng nhớ có đúng không nữa…” Mẹ tôi lẩm bẩm.

Hóa ra bà đã từng về đây rồi à? Đây không phải quê nội cũng chẳng phải quê ngoại của tôi. Chỉ biết ở đây, trong ngôi làng này có một căn nhà mà ông nội để lại cho bố tôi.

“Đây là làng gì hả mẹ?…” Tôi cất tiếng hỏi.

“Làng Thổ Hà, con ạ…”

Tôi im lặng bước đi. Con đường này dường như tôi đã từng đi qua rồi, nhưng chẳng thể nhớ rõ.

Chúng tôi leo lên đỉnh dốc thì ngôi làng hiện ra. San sát bên cạnh nhau là những ngôi nhà mái ngói, hai hay ba tầng. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Ít ra nó cũng không quá quê mùa như tôi tưởng tượng. Đằng sau ngôi làng, nằm xa xa là một ngọn núi lớn.

Điều khiến tôi giật mình đó chính là cảnh vật ở ngôi làng Thổ Hà này giống bức tranh của con Nhi một cách gai người. Nó mới có chín tuổi, chắc chắn nó chưa bao giờ về đây.

Tôi bước theo sau mẹ, tiến gần đến ngôi nhà mới của chúng tôi mà tôi không biết rằng tôi đang từng bước lại gần những cơn ác mộng dai dẳng sau này.

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Ngôi Làng Cổ Mộ PDF của tác giả Thục Linh nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Hồng (Nguyên Hồng)
Tiểu Sử Nguyên Hồng (1918-1982) Nguyên Hồng họ Nguyễn, tên khai sinh đồng thời cũng là bút hiệu duy nhất trong cuộc đời cầm bút của nhà văn. Nguyên Hồng sinh ngày 5-11-1918 tại phố Hàng Cau, thành phố Nam Định trong một gia đình nghèo theo đạo Thiên Chúa. Mười hai tuổi, bố chết vì ho lao, người mẹ trẻ nghèo khổ phải vào Vinh ở vú đầm, rồi mấy năm sau đi bước nữa. Mười lăm tuổi, vừa đậu xong Tiểu học đã bị đày đọa trong các nhà lao Nam Định, Hà Nội rồi bị giải đi Phúc Yên. Mười sáu tuổi, hết hạn tù được tha, Nguyên Hồng phải từ giã thành phố Nam Định và người bà nội ngoan đạo, cùng mẹ và bố dượng ra sinh sống ở xóm Cấm, Hải Phòng. Hơn ba năm, Nguyên Hồng đã dạy học lẩn lút trong các xóm nghèo lao động với hơn hai mươi đứa trẻ lau nhau, rách rưới, con em của những người làm nghề đội than, khuân vác hoặc buôn thúng bán mẹt ở xóm Cấm và xóm chùa Đông Khê. Cũng chính ở Hải Phòng, Nguyên Hồng gặp nhà thơ Thế Lữ (1935), kiện tướng của phong trào Thơ mới, thành viên của Tự lực văn đoàn. Từ đó, người thanh niên thất nghiệp này nuôi khát vọng đi vào con đường văn chương, coi văn chương là lẽ sống cao cả nhất của đời mình. Những trang bản thảo đầu tiên rất trong sáng và say mê của tiểu thuyết Bỉ vỏ và hồi ký Những ngày thơ ấu đã được hình thành dần trong những căn nhà ổ chuột tối tăm, bẩn thỉu của khu phu phen thuyền thợ xóm Cấm, Hải Phòng. Năm 1937, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng và Kim tiền của Vi Huyền Đắc được nhận giải thưởng Tự lực văn đoàn và từ năm 1938 báo Ngày nay bắt đầu giới thiệu Những ngày thơ ấu. Mối quan hệ giữa Nguyên Hồng với Thạch Lam bắt đầu từ những ngày đó. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Nguyên Hồng đã bắt đầu liên lạc với chính trị phạm ở Sơn La, Côn Lôn trở về như Vũ Thiện Chân, Bùi Vũ Trụ và ở trụ sở chi nhánh báo Thời thế ở đường Cát Dài, Hải Phòng, Nguyên Hồng đã có cơ hội tìm đọc Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Vấn đề dân cày của Qua Ninh, Vân Đình, Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến và những tiểu thuyết của Marxime Gorki... Năm 1938, Nguyên Hồng gặp Như Phong, sinh hoạt trong Đoàn Thanh niên Dân chủ và viết trên các báo Thế giới, Người mới và Mới cùng với Như Phong, Nguyễn Thường Khanh, Trần Minh Tước, Lưu Quý Kỳ (Thanh Vệ) và Lê Hy (Lã Vĩnh Lợi). Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, ngày 29-9-1939, Nguyên Hồng bị mật thám Pháp bắt bỏ tù ở Hải Phòng về tội tàng trữ và truyền bá sách báo cộng sản. Trong nhà tù Hải Phòng, Nguyên Hồng đã được gặp Tô Hiệu, Bùi Đình Đống, Ngô Minh Loan và tham dự lớp huấn luyện theo Đề cương cách mạng tư sản dân quyền do Bí thư thành ủy Tô Hiệu hướng dẫn. Những vốn sống quý báu đó đã tạo điều kiện cho Nguyên Hồng viết về những chiến sĩ cách mạng trong Lưới sắt, Lò lửa, Sóng gầm... Năm 1940, Nguên Hồng lại bị bắt giam và bị giải lên trại tập trung Bắc Mê, Hà Giang, đi làm cỏ vê, gánh đá cùng với Xuân Thủy, Đinh Nhu, Trần Các... Tiểu thuyết Xóm Cháy (phác thảo đầu tiên của Sóng gầm) viết được 300 trang thì bị bọn mật thám tịch thu, ông chuyển sang viết những mẩu ngăn ngắn giả làm nhật ký thư (Cuộc sống). Cuối mùa hè năm 1943, Nguyên Hồng tham gia tổ chức Văn hóa Cứu quốc bí mật (trong Mặt trận Việt minh) cùng với Như Phong, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng... Chính trong tổ chức này, Nguyên Hồng được đọc Đề cương Văn hóa 1943 của Đảng và những phương châm của Đề cương đã có ảnh hưởng rõ rệt đến những tác phẩm như Hơi thở tàn, Hai dòng sữa, Ngọn lửa, Buổi chiều xám..., những tác phẩm được viết trong thời kỳ Tiền khởi nghĩa. Tìm mua: Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Hồng TiKi Lazada Shopee Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyên Hồng tham gia khởi nghĩa ở Hà Nội, là biên tập viên tạp chí Tiên phong, cơ quan vận động văn hóa mới của Đảng. Sau đợt Nam tiến vào mặt trận Nha Trang, khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, năm 1947, Nguyên Hồng cùng gia đình lên Việt Bắc, sống ở ấp Cầu Đen, Yên Thế cùng với một số văn nghệ sĩ như Ngô Tất Tố, Kim Lân, Nguyễn Huy Tưởng... Nguyên Hồng tham gia hoạt động trong Hội Văn nghệ Việt Nam, là biên tập viên tạp chí Văn nghệ của Hội và phụ trách trường Văn nghệ nhân dân Trung ương. Năm 1948, Nguyên Hồng cùng với Nam Cao được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Hòa bình lập lại năm 1954, Nguyên Hồng cùng gia đình về Hà Nội, công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Tháng 4 - 1957, Hội Nhà văn Việt Nam thành lập, ông tham gia Ban Chấp hành, làm Thư ký tòa soạn tuần báo Văn của Hội. Năm 1958, Nguyên Hồng về tham gia lao động ở nhà máy Xi măng Hải Phòng, chính thời gian này ông bắt đầu thai nghén tiểu thuyết Cửa biển, bộ tiểu thuyết - sử thi bốn tập đầu tiên ở nước ta. Từ năm 1962, Nguyên Hồng cùng gia đình trở lại ấp Cầu Đen, Yên Thế (nay là xã Quang Tiến, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang). Tháng 1 -1963, tại Đại hội Nhà văn lần thứ II, Nguyên Hồng được bầu vào Ban Chấp hành và năm 1964 được cử làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng. Sau Hải Phòng, Yên Thế đã trở thành quê hương thứ hai của Nguyên Hồng, là nơi ông sống lâu nhất và cũng là nơi ông đang xây dựng một bộ tiểu thuyết lịch sử ba tập: Hoàng Hoa Thám và Núi rừng Yên Thế. Tập hai đang hoàn thành thì ông đột ngột từ trần ngày 2-5-1982. Nhà văn Nguyên Hồng được Chính phủ truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba và giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt đầu tiên (1996). Nguyên Hồng là một nhà văn xuôi lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, đồng thời cũng là người thầy trực tiếp dìu dắt nhiều thế hệ nhà văn trẻ đi vào con đường sáng tác văn học. TÁC PHẨM NGUYÊN HỒNG · Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938) · Bảy Hựu (tập truyện ngắn, 1940) · Những ngày thơ ấu (hồi ký, 1940) · Cuộc sống (tiểu thuyết, 1942) · Qua những màn tối (truyện vừa, 1942) · Quán Nải (tiểu thuyết, 1942) · Hai dòng sữa (tập truyện ngắn, 1943) · Hơi thở tàn (tiểu thuyết, 1944) · Vực thẳm (truyện vừa, 1944) · Ngọn lửa (truyện vừa, 1944) · Miếng bánh (tập truyện ngắn, 1945) · Địa ngục và Lò lửa (tập truyện ngắn, 1946) · Đất nước yêu dấu (ký, 1949) · Đêm giải phóng (truyện vừa, 1952) · Giữ thóc (tập truyện ngắn, 1956) · Trời xanh (thơ, 1960) · Sóng gầm (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1961) · Sức sống của ngòi bút (tạp văn, 1964) · Cơn bão đã đến (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1965) · Bước đường viết văn (hồi ký, 1971) · Thời kỳ đen tối (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1973) · Một tuổi thơ văn (hồi ký, 1973) · Sông núi quê hương (thơ, 1973) · Khi đứa con ra đời (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1975) · Những nhân vật ấy đã sống với tôi (hồi ký, 1978) · Thù nhà nợ nước (tiểu thuyết lịch sử, 1981) · Tuyển tập Nguyên Hồng (1983 - 1985) DI CẢO · Núi rừng Yên Thế (tập I trong bộ tiểu thuyết lịch sử Hoàng Hoa Thám và Núi rừng Yên Thế, 1993) · Người con gái họ Dương (Dương Hậu) (kịch) · Hoa trái đất (thơ) GIẢI THƯỞNG: - Giải văn chương của Tự lực văn đoàn trao cho Bỉ vỏ (1937) - Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (Đợt I, 1996).Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Nguyên Hồng":Những Ngày Thơ ẤuNguyên Hồng Toàn Tập 1Nguyên Hồng Toàn Tập 3Nguyên Hồng Toàn Tập 4Nguyên Hồng Tuyển Tập Truyện LẻBỉ VỏTuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên HồngĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Hồng PDF của tác giả Nguyên Hồng nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Hồng (Nguyên Hồng)
Tiểu Sử Nguyên Hồng (1918-1982) Nguyên Hồng họ Nguyễn, tên khai sinh đồng thời cũng là bút hiệu duy nhất trong cuộc đời cầm bút của nhà văn. Nguyên Hồng sinh ngày 5-11-1918 tại phố Hàng Cau, thành phố Nam Định trong một gia đình nghèo theo đạo Thiên Chúa. Mười hai tuổi, bố chết vì ho lao, người mẹ trẻ nghèo khổ phải vào Vinh ở vú đầm, rồi mấy năm sau đi bước nữa. Mười lăm tuổi, vừa đậu xong Tiểu học đã bị đày đọa trong các nhà lao Nam Định, Hà Nội rồi bị giải đi Phúc Yên. Mười sáu tuổi, hết hạn tù được tha, Nguyên Hồng phải từ giã thành phố Nam Định và người bà nội ngoan đạo, cùng mẹ và bố dượng ra sinh sống ở xóm Cấm, Hải Phòng. Hơn ba năm, Nguyên Hồng đã dạy học lẩn lút trong các xóm nghèo lao động với hơn hai mươi đứa trẻ lau nhau, rách rưới, con em của những người làm nghề đội than, khuân vác hoặc buôn thúng bán mẹt ở xóm Cấm và xóm chùa Đông Khê. Cũng chính ở Hải Phòng, Nguyên Hồng gặp nhà thơ Thế Lữ (1935), kiện tướng của phong trào Thơ mới, thành viên của Tự lực văn đoàn. Từ đó, người thanh niên thất nghiệp này nuôi khát vọng đi vào con đường văn chương, coi văn chương là lẽ sống cao cả nhất của đời mình. Những trang bản thảo đầu tiên rất trong sáng và say mê của tiểu thuyết Bỉ vỏ và hồi ký Những ngày thơ ấu đã được hình thành dần trong những căn nhà ổ chuột tối tăm, bẩn thỉu của khu phu phen thuyền thợ xóm Cấm, Hải Phòng. Năm 1937, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng và Kim tiền của Vi Huyền Đắc được nhận giải thưởng Tự lực văn đoàn và từ năm 1938 báo Ngày nay bắt đầu giới thiệu Những ngày thơ ấu. Mối quan hệ giữa Nguyên Hồng với Thạch Lam bắt đầu từ những ngày đó. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Nguyên Hồng đã bắt đầu liên lạc với chính trị phạm ở Sơn La, Côn Lôn trở về như Vũ Thiện Chân, Bùi Vũ Trụ và ở trụ sở chi nhánh báo Thời thế ở đường Cát Dài, Hải Phòng, Nguyên Hồng đã có cơ hội tìm đọc Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Vấn đề dân cày của Qua Ninh, Vân Đình, Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến và những tiểu thuyết của Marxime Gorki... Năm 1938, Nguyên Hồng gặp Như Phong, sinh hoạt trong Đoàn Thanh niên Dân chủ và viết trên các báo Thế giới, Người mới và Mới cùng với Như Phong, Nguyễn Thường Khanh, Trần Minh Tước, Lưu Quý Kỳ (Thanh Vệ) và Lê Hy (Lã Vĩnh Lợi). Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, ngày 29-9-1939, Nguyên Hồng bị mật thám Pháp bắt bỏ tù ở Hải Phòng về tội tàng trữ và truyền bá sách báo cộng sản. Trong nhà tù Hải Phòng, Nguyên Hồng đã được gặp Tô Hiệu, Bùi Đình Đống, Ngô Minh Loan và tham dự lớp huấn luyện theo Đề cương cách mạng tư sản dân quyền do Bí thư thành ủy Tô Hiệu hướng dẫn. Những vốn sống quý báu đó đã tạo điều kiện cho Nguyên Hồng viết về những chiến sĩ cách mạng trong Lưới sắt, Lò lửa, Sóng gầm... Năm 1940, Nguên Hồng lại bị bắt giam và bị giải lên trại tập trung Bắc Mê, Hà Giang, đi làm cỏ vê, gánh đá cùng với Xuân Thủy, Đinh Nhu, Trần Các... Tiểu thuyết Xóm Cháy (phác thảo đầu tiên của Sóng gầm) viết được 300 trang thì bị bọn mật thám tịch thu, ông chuyển sang viết những mẩu ngăn ngắn giả làm nhật ký thư (Cuộc sống). Cuối mùa hè năm 1943, Nguyên Hồng tham gia tổ chức Văn hóa Cứu quốc bí mật (trong Mặt trận Việt minh) cùng với Như Phong, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng... Chính trong tổ chức này, Nguyên Hồng được đọc Đề cương Văn hóa 1943 của Đảng và những phương châm của Đề cương đã có ảnh hưởng rõ rệt đến những tác phẩm như Hơi thở tàn, Hai dòng sữa, Ngọn lửa, Buổi chiều xám..., những tác phẩm được viết trong thời kỳ Tiền khởi nghĩa. Tìm mua: Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Hồng TiKi Lazada Shopee Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyên Hồng tham gia khởi nghĩa ở Hà Nội, là biên tập viên tạp chí Tiên phong, cơ quan vận động văn hóa mới của Đảng. Sau đợt Nam tiến vào mặt trận Nha Trang, khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, năm 1947, Nguyên Hồng cùng gia đình lên Việt Bắc, sống ở ấp Cầu Đen, Yên Thế cùng với một số văn nghệ sĩ như Ngô Tất Tố, Kim Lân, Nguyễn Huy Tưởng... Nguyên Hồng tham gia hoạt động trong Hội Văn nghệ Việt Nam, là biên tập viên tạp chí Văn nghệ của Hội và phụ trách trường Văn nghệ nhân dân Trung ương. Năm 1948, Nguyên Hồng cùng với Nam Cao được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Hòa bình lập lại năm 1954, Nguyên Hồng cùng gia đình về Hà Nội, công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam. Tháng 4 - 1957, Hội Nhà văn Việt Nam thành lập, ông tham gia Ban Chấp hành, làm Thư ký tòa soạn tuần báo Văn của Hội. Năm 1958, Nguyên Hồng về tham gia lao động ở nhà máy Xi măng Hải Phòng, chính thời gian này ông bắt đầu thai nghén tiểu thuyết Cửa biển, bộ tiểu thuyết - sử thi bốn tập đầu tiên ở nước ta. Từ năm 1962, Nguyên Hồng cùng gia đình trở lại ấp Cầu Đen, Yên Thế (nay là xã Quang Tiến, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang). Tháng 1 -1963, tại Đại hội Nhà văn lần thứ II, Nguyên Hồng được bầu vào Ban Chấp hành và năm 1964 được cử làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng. Sau Hải Phòng, Yên Thế đã trở thành quê hương thứ hai của Nguyên Hồng, là nơi ông sống lâu nhất và cũng là nơi ông đang xây dựng một bộ tiểu thuyết lịch sử ba tập: Hoàng Hoa Thám và Núi rừng Yên Thế. Tập hai đang hoàn thành thì ông đột ngột từ trần ngày 2-5-1982. Nhà văn Nguyên Hồng được Chính phủ truy tặng Huân chương Độc lập hạng Ba và giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt đầu tiên (1996). Nguyên Hồng là một nhà văn xuôi lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại, đồng thời cũng là người thầy trực tiếp dìu dắt nhiều thế hệ nhà văn trẻ đi vào con đường sáng tác văn học. TÁC PHẨM NGUYÊN HỒNG · Bỉ vỏ (tiểu thuyết, 1938) · Bảy Hựu (tập truyện ngắn, 1940) · Những ngày thơ ấu (hồi ký, 1940) · Cuộc sống (tiểu thuyết, 1942) · Qua những màn tối (truyện vừa, 1942) · Quán Nải (tiểu thuyết, 1942) · Hai dòng sữa (tập truyện ngắn, 1943) · Hơi thở tàn (tiểu thuyết, 1944) · Vực thẳm (truyện vừa, 1944) · Ngọn lửa (truyện vừa, 1944) · Miếng bánh (tập truyện ngắn, 1945) · Địa ngục và Lò lửa (tập truyện ngắn, 1946) · Đất nước yêu dấu (ký, 1949) · Đêm giải phóng (truyện vừa, 1952) · Giữ thóc (tập truyện ngắn, 1956) · Trời xanh (thơ, 1960) · Sóng gầm (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1961) · Sức sống của ngòi bút (tạp văn, 1964) · Cơn bão đã đến (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1965) · Bước đường viết văn (hồi ký, 1971) · Thời kỳ đen tối (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1973) · Một tuổi thơ văn (hồi ký, 1973) · Sông núi quê hương (thơ, 1973) · Khi đứa con ra đời (trong bộ tiểu thuyết Cửa biển, 1975) · Những nhân vật ấy đã sống với tôi (hồi ký, 1978) · Thù nhà nợ nước (tiểu thuyết lịch sử, 1981) · Tuyển tập Nguyên Hồng (1983 - 1985) DI CẢO · Núi rừng Yên Thế (tập I trong bộ tiểu thuyết lịch sử Hoàng Hoa Thám và Núi rừng Yên Thế, 1993) · Người con gái họ Dương (Dương Hậu) (kịch) · Hoa trái đất (thơ) GIẢI THƯỞNG: - Giải văn chương của Tự lực văn đoàn trao cho Bỉ vỏ (1937) - Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (Đợt I, 1996).Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Nguyên Hồng":Những Ngày Thơ ẤuNguyên Hồng Toàn Tập 1Nguyên Hồng Toàn Tập 3Nguyên Hồng Toàn Tập 4Nguyên Hồng Tuyển Tập Truyện LẻBỉ VỏTuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên HồngĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Tuyển Tập Truyện Ngắn Nguyên Hồng PDF của tác giả Nguyên Hồng nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Mùa Lá Rụng Trong Vườn (Ma Văn Kháng)
Mùa lá rụng trong vườn là một tiểu thuyết của nhà văn Ma Văn Kháng, hoàn thành vào tháng 12 năm 1982 và được xuất bản lần đầu vào năm 1985. Lấy bối cảnh một gia đình truyền thống vào những năm 80 của thế kỉ XX, khi đất nước bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ sau chiến tranh, gây ra nhiều thay đổi tốt có, xấu có; truyện đã phản ánh chân thực những biến động trong xã hội thời bấy giờ và những ảnh hưởng to lớn của nó tới gia đình - tế bào của xã hội. Truyện đã giành giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986. Mùa lá rụng trong vườn kể về gia đình ông Bằng, một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu tại Hà Nội. Ông Bằng có năm người con trai. Anh cả Tường đã hi sinh ngoài mặt trận, vợ anh là Hoài đã tái giá nhưng vẫn thường xuyên viết thư thăm hỏi gia đình. Đông là anh hai, trung tá đã xuất ngũ, sống cuộc sống đơn giản và thậm chí là hơi lười biếng với Lý, cô con dâu đảm đang, nhanh nhẹn. Con trai thứ ba của ông là Luận, một nhà báo có nhiều trăn trở, suy tư về cuộc sống. Vợ anh là Phượng, một người tốt bụng, luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Trái ngược với các anh em, người con thứ tư - Cừ, lại hư hỏng, không nghe lời cha mẹ, đã từng bị đuổi khỏi quân đội. Cuối cùng, em út Cần đang đi học ở Liên Xô, sắp về nước. Ông Bằng cùng với gia đình Đông và Luận sống trong căn nhà đầu phố tĩnh mịch, cách khá xa sự ồn ào, hỗn loạn của chốn thị thành. Tuy nhiên, trong ngôi nhà yên tĩnh ấy, bi kịch ập tới khi Cừ bỏ việc ở xí nghiệp, trốn ra nước ngoài, bỏ lại vợ và hai con nhỏ. Đối với ông Bằng, người cha vốn rất nghiêm khắc trong việc giáo dục con cái, vốn đề cao những giá trị tinh thần truyền thống, đề cao đạo đức thì đây là một cú sốc quá lớn. Sau khi trốn sang Canada, Cừ mới nhận ra lỗi lầm của mình thì đã muộn. Anh liền gửi bức thư cuối cùng về nhà trước khi uống thuốc tự tử. Nhận được thư, bệnh cao huyết áp của ông Bằng tái phát, khiến ông phải nhập viện, rồi qua đời. Đồng thời, vợ và hai con trai của Cừ vô cớ bị sa thải khỏi nông trường, phải đến ở nhờ nhà ông Bằng, rồi nhà chị Hoài. Trước tình cảnh khó khăn, Luận, Phượng và Hoài đã tỏ rõ mình là những người có tinh thần trách nhiệm cao đẹp, thương người như thể thương thân. Tìm mua: Mùa Lá Rụng Trong Vườn TiKi Lazada Shopee Chuyện của Cừ chưa nguôi ngoai thì bi kịch khác lại đến. Lý cảm thấy quá mệt mỏi và chán chường khi sống cạnh Đông, người chồng lôi thôi, tối ngày chỉ biết đánh tổ tôm, không quan tâm tới vợ. Chị bị ông trưởng phòng vật tư ở cơ quan dụ dỗ. Vốn là con người ít học, nhiễm lối sống thị thành xô bồ từ nhỏ, Lý dần dần bị cám dỗ. Chị đã có lần đi công tác Sài Gòn gần tháng trời với ông ta, sống cuộc sống ăn chơi, hưởng lạc, bỏ bê gia đình. Rồi cuối cùng chị bỏ chồng, theo ông ta vào Sài Gòn hẳn. Chỉ tới lúc đã đi khỏi nhà chị mới nhận ra lỗi sai của mình, viết thư tỏ ý muốn quay trở về. Câu chuyện kết thúc vào một đêm giáp Tết, khi mọi người nhận được thư của Lý. *** Nhà văn Ma Văn Kháng (sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936 tại làng Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội) tên thật là Đinh Trọng Đoàn. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, học trường Sư phạm Hà Nội. Ông từng là giáo viên cấp hai, dạy môn Văn và là hiệu trưởng trường cấp 3 thị xã Lao Cai nay là tỉnh Lào Cai. Ông cũng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1974. Từ năm 1976 đến nay ông công tác tại Hà Nội, đã từng là Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động. Từ tháng 3 năm 1995 ông là Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã 8 lần đệ đơn xin thôi vị trí này. Tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết, 1979 Vùng biên ải (tiểu thuyết, 1983) Trăng non (tiểu thuyết 1984) Phép lạ thường ngày Thầy Thế đi chợ bán trứng Mưa mùa hạ (tiểu thuyết 1982) Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985) Võ sỹ lên đài Thanh minh trời trong sáng Hoa gạo đỏ Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989) Đám cưới không giấy giá thú Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989) Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992) Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986) Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988) Giấy trắng (tiểu thuyết) Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988) Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992) Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994) Ngoại thành (truyện ngắn 1996) Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập 1996) Vòng quay cổ điển (truyện ngắn 1997) Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (hồi ký 2009) Một mình một ngựa (Tiểu thuyết 2007) Một Chiều Dông Gió Một Nhan Sắc Đàn Bà Trốn NợDưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Ma Văn Kháng":Xa Xôi Thôn Ngựa GiàChim Én Liệng Trời CaoĐám Cưới Không Có Giấy Giá ThúĐồng Bạc Trắng Hoa XòeGặp Gỡ Ở La Pan TẩnMột Mình Một NgựaNgười Thợ Mộc Và Tấm Ván ThiênVõ Sĩ Lên ĐàiMùa Lá Rụng Trong VườnĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Mùa Lá Rụng Trong Vườn PDF của tác giả Ma Văn Kháng nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Mùa Lá Rụng Trong Vườn (Ma Văn Kháng)
Mùa lá rụng trong vườn là một tiểu thuyết của nhà văn Ma Văn Kháng, hoàn thành vào tháng 12 năm 1982 và được xuất bản lần đầu vào năm 1985. Lấy bối cảnh một gia đình truyền thống vào những năm 80 của thế kỉ XX, khi đất nước bắt đầu có những bước chuyển mình mạnh mẽ sau chiến tranh, gây ra nhiều thay đổi tốt có, xấu có; truyện đã phản ánh chân thực những biến động trong xã hội thời bấy giờ và những ảnh hưởng to lớn của nó tới gia đình - tế bào của xã hội. Truyện đã giành giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986. Mùa lá rụng trong vườn kể về gia đình ông Bằng, một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu tại Hà Nội. Ông Bằng có năm người con trai. Anh cả Tường đã hi sinh ngoài mặt trận, vợ anh là Hoài đã tái giá nhưng vẫn thường xuyên viết thư thăm hỏi gia đình. Đông là anh hai, trung tá đã xuất ngũ, sống cuộc sống đơn giản và thậm chí là hơi lười biếng với Lý, cô con dâu đảm đang, nhanh nhẹn. Con trai thứ ba của ông là Luận, một nhà báo có nhiều trăn trở, suy tư về cuộc sống. Vợ anh là Phượng, một người tốt bụng, luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Trái ngược với các anh em, người con thứ tư - Cừ, lại hư hỏng, không nghe lời cha mẹ, đã từng bị đuổi khỏi quân đội. Cuối cùng, em út Cần đang đi học ở Liên Xô, sắp về nước. Ông Bằng cùng với gia đình Đông và Luận sống trong căn nhà đầu phố tĩnh mịch, cách khá xa sự ồn ào, hỗn loạn của chốn thị thành. Tuy nhiên, trong ngôi nhà yên tĩnh ấy, bi kịch ập tới khi Cừ bỏ việc ở xí nghiệp, trốn ra nước ngoài, bỏ lại vợ và hai con nhỏ. Đối với ông Bằng, người cha vốn rất nghiêm khắc trong việc giáo dục con cái, vốn đề cao những giá trị tinh thần truyền thống, đề cao đạo đức thì đây là một cú sốc quá lớn. Sau khi trốn sang Canada, Cừ mới nhận ra lỗi lầm của mình thì đã muộn. Anh liền gửi bức thư cuối cùng về nhà trước khi uống thuốc tự tử. Nhận được thư, bệnh cao huyết áp của ông Bằng tái phát, khiến ông phải nhập viện, rồi qua đời. Đồng thời, vợ và hai con trai của Cừ vô cớ bị sa thải khỏi nông trường, phải đến ở nhờ nhà ông Bằng, rồi nhà chị Hoài. Trước tình cảnh khó khăn, Luận, Phượng và Hoài đã tỏ rõ mình là những người có tinh thần trách nhiệm cao đẹp, thương người như thể thương thân. Tìm mua: Mùa Lá Rụng Trong Vườn TiKi Lazada Shopee Chuyện của Cừ chưa nguôi ngoai thì bi kịch khác lại đến. Lý cảm thấy quá mệt mỏi và chán chường khi sống cạnh Đông, người chồng lôi thôi, tối ngày chỉ biết đánh tổ tôm, không quan tâm tới vợ. Chị bị ông trưởng phòng vật tư ở cơ quan dụ dỗ. Vốn là con người ít học, nhiễm lối sống thị thành xô bồ từ nhỏ, Lý dần dần bị cám dỗ. Chị đã có lần đi công tác Sài Gòn gần tháng trời với ông ta, sống cuộc sống ăn chơi, hưởng lạc, bỏ bê gia đình. Rồi cuối cùng chị bỏ chồng, theo ông ta vào Sài Gòn hẳn. Chỉ tới lúc đã đi khỏi nhà chị mới nhận ra lỗi sai của mình, viết thư tỏ ý muốn quay trở về. Câu chuyện kết thúc vào một đêm giáp Tết, khi mọi người nhận được thư của Lý. *** Nhà văn Ma Văn Kháng (sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936 tại làng Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội) tên thật là Đinh Trọng Đoàn. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, học trường Sư phạm Hà Nội. Ông từng là giáo viên cấp hai, dạy môn Văn và là hiệu trưởng trường cấp 3 thị xã Lao Cai nay là tỉnh Lào Cai. Ông cũng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1974. Từ năm 1976 đến nay ông công tác tại Hà Nội, đã từng là Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động. Từ tháng 3 năm 1995 ông là Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đã 8 lần đệ đơn xin thôi vị trí này. Tác phẩm Đồng bạc trắng hoa xòe (tiểu thuyết, 1979 Vùng biên ải (tiểu thuyết, 1983) Trăng non (tiểu thuyết 1984) Phép lạ thường ngày Thầy Thế đi chợ bán trứng Mưa mùa hạ (tiểu thuyết 1982) Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985) Võ sỹ lên đài Thanh minh trời trong sáng Hoa gạo đỏ Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989) Đám cưới không giấy giá thú Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989) Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992) Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986) Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988) Giấy trắng (tiểu thuyết) Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988) Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992) Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994) Ngoại thành (truyện ngắn 1996) Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập 1996) Vòng quay cổ điển (truyện ngắn 1997) Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (hồi ký 2009) Một mình một ngựa (Tiểu thuyết 2007) Một Chiều Dông Gió Một Nhan Sắc Đàn Bà Trốn NợDưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Ma Văn Kháng":Xa Xôi Thôn Ngựa GiàChim Én Liệng Trời CaoĐám Cưới Không Có Giấy Giá ThúĐồng Bạc Trắng Hoa XòeGặp Gỡ Ở La Pan TẩnMột Mình Một NgựaNgười Thợ Mộc Và Tấm Ván ThiênVõ Sĩ Lên ĐàiMùa Lá Rụng Trong VườnĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Mùa Lá Rụng Trong Vườn PDF của tác giả Ma Văn Kháng nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.