Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cơ Hội Thứ 2

AudioBook Cơ Hội Thứ 2   Cơ hội thứ 2 là cuốn tiểu thuyết thứ 2 trong bộ 5 cuốn của cây bút trinh thám lừng danh người Mỹ James Patterson. Cơ hội thứ 2 khởi đầu bằng vụ xả súng của một sát thủ giấu mặt từ sau lùm cây vào tốp trẻ em trong dàn đồng ca nhà thờ ở Thành phố San Francisco (Mỹ). Gần 100 phát đạn nã vào đám đông nhưng nạn nhân duy nhất bị dính đạn là Tasha Catching - một bé gái da đen. Một xác suất ngẫu nhiên hay có chủ đích của kẻ nã đạn? Và vì sao lại là Tasha Catching? Nhóm cộng sự nữ gồm Thanh tra Lindsay Boxer (thuộc đội Homicide - Cảnh sát San Francisco) cùng Jill (văn phòng ủy viên công tố), Cindy (nhà báo) và Claire (bác sĩ pháp y) - từng thành công trong việc phá án vụ giết người hàng loạt các cô dâu chú rể ở cuốn 1  Kẻ đầu tiên phải chết - tải eBook lại vào cuộc. Manh mối mong manh về thủ phạm chỉ là một biểu tượng về Chimera (một quái thú 2 đầu dê và sư tử, đuôi rắn trong thần thoại Hy Lạp) được vẽ ở đuôi chiếc ôtô mà kẻ sát nhân bỏ lại. Quá trình điều tra vụ án còn chưa tiến triển thì lại xảy ra vụ Estelle Chipman - một phụ nữ da đen - bị bức tử bằng thòng lọng ở thành phố Oakland. Gạch nối giữa 2 vụ giết người theo những cách khác nhau, ở 2 thành phố khác nhau này lại là biểu tượng Chimera mà kẻ sát nhân thêm lần nữa, cố tình lưu lại. Tên sát nhân hàng loạt vẫn không chịu dừng lại. Nạn nhân tiếp theo của hắn là viên cảnh sát Davidson, bị sát hại bằng một cú bắn tỉa thiện nghệ; sau đó đến cảnh sát trưởng thành phố Mercer, rồi chính Claire - thành viên của nhóm điều tra cũng suýt bị giết hụt... Trong mớ bòng bong của những suy đoán còn thiếu bằng chứng, những manh mối ít ỏi thì cuối cùng, mẫu số chung của những vụ giết người được nữ thanh tra Lindsay xác định: Các nạn nhân đều là người da đen và đều có liên quan đến cảnh sát (chú của Tasha Cashing, chồng của bà Chipman đều đã hoặc đang là cảnh sát...). Và Chimera chính là biểu tượng của một nhóm phân biệt chủng tộc. Thanh tra Lindsay quyết định lần theo dấu biểu tượng bí ẩn Chimera. Lindsay đã tìm đến nhà tù ở Vịnh Bồ Nông, nơi có những kẻ trong nhóm Chimera bị cầm tù và tìm được tung tích một thành viên trong nhóm Chimera vốn là cựu cảnh sát San Francisco (Frank Coombs), từng ngồi tù vì sát hại một bé trai cách đó 20 năm... Manh mối có vẻ đã được hé lộ khi đội điều tra truy ra được Frank Coombs luôn nuôi trong mình sự thù hận những cảnh sát đã khiến hắn phải ngồi tù. Thêm nữa, Frank Coombs còn là một thiện xạ nổi tiếng trong giới cảnh sát. Mọi chứng cớ đều chống lại Frank Coombs, khiến hắn trở thành nghi can số 1. Điều trớ trêu là chính cha của Lindsay cũng từng là cảnh sát và trong quá trình điều tra, Lindsay đã khám phá ra sự thật rằng chính ông đã từng chứng kiến Frank Coombs giết người cách đó 20 năm, nhưng luật im lặng trong ngành cảnh sát đã buộc ông phải ngậm miệng... Frank Coombs đã phải trả giá bằng mạng sống khi tìm cách tiếp cận để sát hại thanh tra Lindsay. Khi mà mọi người đinh ninh rằng câu chuyện đã có thể khép lại với những bằng chứng không thể phủ nhận thì hóa ra, đó lại chỉ là khởi đầu của một cái kết khác - kịch tính và khó lường theo đúng cách mà James Patterson đã kết thúc cuốn 1  Kẻ đầu tiên phải chết. Khi mà kẻ được coi là thủ phạm đã đền tội sau khi xuất đầu lộ diện, thì một cách đầy kịch tính, thủ phạm lại là một kẻ không phải xa lạ nhưng chẳng ai ngờ tới được... Đó mới chính là Chimera - kẻ sát nhân hàng loạt với nỗi ám ảnh của sự thù hận.  James Patterson quả là bậc cao thủ trong thể loại trinh thám, đúng như tờ USA Today đã thán phục với “chiến thuật” bắt độc giả phải luôn cùng động não, suy đoán. Và rồi như thường lệ, cứ mỗi lần người đọc nghĩ mình đã túm được chút đầu mối nào đó thì ngay lập tức, họ lại ngớ ra rằng kẻ sát nhân hóa ra vẫn còn chập chờn ẩn hiện đâu đó ở phía trước... Xứng đáng với thương hiệu James Patterson,  Cơ hội thứ 2 là sự nối tiếp hoàn hảo cho cuốn 1  Kẻ đầu tiên phải chết cả về sự chặt chẽ, logic cùng kết cục bất ngờ, làm đảo lộn mọi suy đoán. Cơ hội thứ 2 là sự nối tiếp hoàn hảo cho cuốn 1  Kẻ đầu tiên phải chết cả về sự chặt chẽ, logic cùng kết cục bất ngờ, làm đảo lộn mọi suy đoán. Bộ sách được xếp vào hàng bán chạy nhất, đã tạo ra “cơn địa chấn” tại Mỹ cũng như nhiều nước khác - theo ghi nhận của một loạt thời báo có uy tín tại Mỹ như New York Times, Los Angeles Times, USA Today, Entertaiment Weekly, San Francisco... Trong đó,  Cơ hội thứ 2 đã nhanh chóng hút được về mình một “cơn mưa vàng” gồm những lời khen tặng phấn chấn cùng những ví von đáng giá: “ Tôi không thể tin nổi Patterson lại cừ đến thế.  Ông ấy luôn là người cực kỳ gây ấn tượng”. - Larry King, USD Today. Đánh giá: “ Một cốt truyện hết sức thông minh chỉ tiết lộ bí mật vào phút cuối cùng khiến trí óc của bạn phải luôn bận rộn với những lời phỏng đoán”.  - Entertaiment Weekly “ Như thể James Patterson đang làm một chiếc xe trượt dốc bằng con lăn vậy”.  - Associated Press “ Thật khó có thể buông cuốn sách... Nó kêu tích tắc như một quả bom hẹn giờ”.  - Los Angeles Times “ Patterson biết rõ nơi nỗi sợ hãi của con người ẩn náu... Chẳng gì có thể ngăn cản nổi trí tưỏng tượng của ông”.  - New York Times “ Cuốn sách của Patterson đã vẽ nên một bức tranh sống động đến mức người đọc gần như có thể ngửi thấy mùi thuốc súng và cảm nhận được nỗi khiếp sợ của điều tra viên Boxer..." " Một cuốn tiểu thuyết đặc biệt ly kỳ và hấp dẫn”.  - Florida Times-Union “ Xuyên suốt toàn bộ cuốn sách là những tình huống éo le và những bối cảnh cực kỳ ấn tượng... Nhưng điều làm cho câu chuyện của Patterson nổi bật hơn hẳn so với những cuốn tiểu thuyết cùng loại khác chính là lối kể chuyện gãy gọn dưới góc nhìn của nhân vật chính - nữ điều tra viên Boxer”.  - Publisher Weekly (starred review) “ Sự xuất hiện trở lại của Patterson với tư cách là một trong những nhà văn viết tiểu thuyết trinh thám đương đại xuất sắc nhất thế giới, Cơ hội thứ hai quả đúng là một cuốn sách đặc biệt hồi hộp và ly kỳ”.  - Grand Rapids Press “ Patterson ở thời kỳ viết văn sung sức nhất”.  - Fort Worth Star-Telegram Mời các bạn đón đọc.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Vượn Cáo - Benjamin Black
John Glass sống ở New York. Ông bỏ nghề báo để viết tiểu sử cho bố vợ mình là ngài Bill Mullholland, hay còn gọi là Bill lớn. Vốn là cựu nhân viên CIA, giờ Bill Lớn là trùm tư bản trong lĩnh vực truyền thông. Sáng sáng, John Glass đến làm việc tại văn phòng rộng lớn và sang trọng trong tòa nhà văn phòng Mullholland Tower; tối đến thì về nhà với người vợ giàu có và xuân sắc. Dù thỉnh thoảng có hoài nhớ về quãng đời trước, nhưng nói chung John Glass hài lòng với hiện tại.   Để hoàn thành cuốn tiểu sử, John Glass thuê một tay săn tin trẻ mà ông quen gọi là “Vượn Cáo” thu thập thông tin về người bố vợ. Từ lúc ấy cuộc sống dễ chịu của ông bị đe dọa. Sau đó, “Vượn Cáo” bị sát hại, ông quyết định đi tìm những gì hắn biết và thủ phạm giết hắn chỉ để đào xới thêm nhiều bí mật và cái chết bí ẩn khác. *** Người cung cấp thông tin là một chàng trai trẻ cao lêu đêu và gầy đét. Đầu hắn quá nhỏ so với khung xương, còn cục yết hầu to bằng trái banh gôn. Mắt kính hắn đeo không có gọng viền quanh và gần như vô hình, chỉ làm tăng thêm độ bóng cho đôi mắt đen, tròn, to tướng và hơi bị trố. Một túm râu màu vàng ngắn ngủn, cứng quèo mọc thẳng từ cằm hắn. Cặp lông mày cong, rất xa mắt lấm tấm sẹo mụn trứng cá cũ. Hắn có đôi bàn tay mảnh mai, trắng trẻo, các ngón dài búp măng hệt như tay con gái, hay ít nhất là giống những gì người ta ca ngợi về bàn tay của phụ nữ khuê các. Dù đang ngồi, đũng quần jeans thụng của hắn vẫn thõng xuống ngang đùi. Ngực áo phông màu cháo lòng không của ai ngoài hắn mang dòng chữ: “Đời bi đát tiễn ta về cõi âm”. Thoạt nhìn, hắn mới chỉ mười bảy nhưng John Glass đoán tên này chí ít cũng phải gần ba mươi, cổ dài, đầu nhỏ và cặp mắt tròn đen láy khiến hắn cực kỳ giống một loài gặm nhấm quý hiếm mà nhất thời Glass chưa nhớ ra là con gì. Tên hắn là Dylan Riley. Glass thầm mỉa mai: cái tên Dylan nghe quý phái gớm. Hắn nói: - Vậy ra ông là con rể của Bill Lớn? Hắn ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế xoay bọc da đen trong văn phòng mà bố vợ Glass cho mượn nằm ở mé phía bắc của tòa nhà Mulholland Tower. Sau lưng hắn, bên kia bức tường kính trong suốt là một Manhattan ẩm ướt, ảm đạm dưới màn mưa phùn tháng tư. - Sao? Cậu thấy ngộ nghĩnh lắm ư? Glass vặn vẹo. Ông đặc biệt ghét loại người thích mặc áo phông in đủ thứ triết lý lên đó. Dylan Riley cười khẩy: - Ngộ nghĩnh gì đâu. Tôi chỉ ngạc nhiên thôi. Tôi thấy ông không giống người nhà Bill Lớn chút nào. Glass vờ như không nghe thấy gì. Hơi thở của ông bắt đầu nặng nề, thậm chí phát ra tiếng phì phò. Đó luôn là dấu hiệu cảnh báo sự căng thẳng đang gia tăng. Glass nhấn mạnh như muốn nhắc Riley phải lễ phép hơn: - Ngài Mulholland muốn tôi thu thập mọi dữ liệu và dùng chúng một cách đúng đắn nhất. Riley cười toe toét, gật lia lịa, xoay xoay trên ghế vẻ khoái chí: - Phải, nhất định dữ liệu phải đầy đủ rồi. Glass lạnh lùng nhắc lại: - Điều tiên quyết là phải đủ thông tin chính xác. Chính vì thế tôi mới thuê cậu. Glass đến bên chiếc bàn làm việc vuông vức bằng kim loại cỡ lớn kê trong góc phòng và thận trọng ngồi xuống ghế phía sau nó. Tư thế ngồi luôn giúp Glass bớt bấn loạn. Phòng ông ở tầng ba mươi chín. Trông đợi ông làm ăn được gì ở độ cao như vậy quả là ngớ ngẩn. Hôm đầu tiên vào phòng này, Glass sợ sệt nhích từng chút đến sát tường kính ngó xuống. Dưới chân ông chừng hai tầng nhà, những cụm mây trắng xốp trông như tảng băng lững thững trôi ngang qua, che khuất thành phố phía dưới. Giờ ông bíu hai tay lên mặt bàn trước mặt như người sắp chết đuối cố bám mép chiếc bè nan. Glass thèm thuốc không thể tả. Dylan Riley xoay chiếc ghế quanh bàn. Chắc chắn hắn biết ông chóng mặt, buồn nôn cỡ nào khi ngồi trong cái lồng kính làm bằng thép và thủy tinh ngất ngưởng giữa lưng chừng trời như thế này. Bàn tay Glass vuốt thành hình vòng cung trên mặt bàn, như thể muốn gạt vật gì đó vô hình xuống đất. Động tác ấy khiến ông nhớ đến cái cảnh Tổng thống Richard Nixon khổ sở, toát mồ hôi hột trong một bản tin chiều phát mấy năm trước, cố phân bua rằng mình không phải kẻ dối trá. Trong thời kỳ dân chúng hoang mang vì chứng kiến quá nhiều cáo buộc lẫn nhau ấy, ánh sáng ở trường quay quá gắt khiến ai trông cũng giống nhân vật phản diện trong bộ phim dùng hệ màu Eastmancolor giai đoạn đầu. ... Mời các bạn đón đọc Vượn Cáo của tác giả Benjamin Black.
Truyện Ngắn Trinh Thám
Tập Truyện Ngắn Trinh Thám này gồm có: Kẻ đội lốt Hai chàng thợ săn và một cô gái Chiếc hộp bí mật Không có cánh bay Bà góa Ephese Nhân chứng có ba bộ mặt Cây cầu bằng thủy tinh Một vạn đô-la Được ăn cả, ngã về không Tiếng còi trong sương đêm Không thương tiếc Hai cái chết *** Bốn giờ sáng, hai viên cảnh sát mặc đồng phục áp giải hắn vào văn phòng của nhà giam trung tâm. Ở đây, người ta kiểm tra người hắn, tịch thu mọi đồ dùng cá nhân của hắn, trừ gói thuốc lá, chiếc khăn tay và đưa cho hắn một tờ giấy biên nhận. Sau đó người ta lấy dấu vân tay của hắn và dán vào khẩu súng lục mà người ta tìm thấy trong người hắn một mẩu giấy có chữ “vật chứng”. Viên đội trưởng hỏi tên họ và hắn trả lời mình là George Carter. Với những câu hỏi tiếp theo như tiền án, tiền sự... thì hắn trả lời là không. Cảnh sát còn hỏi trên một chục câu hỏi khác rồi ghi vào sổ nói rõ hắn bị bắt về tội ăn cướp trong tay có vũ khí. Cuối cùng người ta giam hắn trong một xà lim chưa có người. Khi còn lại một mình, việc làm đầu tiên của hắn là châm một điếu thuốc lá rồi nằm dài trên một trong bốn chiếc nệm. Rủi ro làm sao! Hắn cay đắng nghĩ. Số phận mới đen đủi làm sao! Hai tiếng đồng hồ trước đây, theo một kế hoạch đã lập ra một cách tỉ mỉ trong một tuần lễ liền, hắn đã đột nhập vào một quán rượu ở giữa thành phố trước giờ đóng cửa để ăn cướp. Hắn đợi cho chủ quán đóng cửa hàng trong khi hắn vẫn ở trong nơi ẩn nấp, sau đó hắn nhốt ông chủ khốn khổ vào trong toa-lét còn hắn thì đi lục lọi trong quán. Kết quả thật là bất ngờ: hai hoặc ba ngàn đô-la trong két sắt ở văn phòng. Trước khi tẩu thoát, hắn còn nhặt thêm bốn chai úych-ky hảo hạng thêm vào món chiến lợi phẩm ấy. Cho đến lúc ấy, mọi việc diễn ra êm đẹp. Hắn đã nghĩ đến những cuộc đi nghỉ thú vị mà hắn có thể thực hiện được bằng cách tính toán lưng vốn của mình: khoảng trên một ngàn năm trăm đô-la để dành đặt ở một nơi an toàn. Tổng cộng là năm ngàn đô-la đủ để nghỉ ở Mê-hi-cô ba hoặc bốn tháng, nếu hắn không hoang phí. Nhưng hắn sẽ không làm như vậy vì hắn không phải là kẻ không biết sử dụng tiền bạc. Một căn hộ khiêm tốn ở thành phố, một tủ quần áo hiện đại và về mặt giải trí, buổi chiều hắn sẽ đi dạo, nói chuyện về các cuộc chơi bóng pơ-lốt, các cuộc đua chó và đi uống một cốc vào buổi tối; dự những trận đầu bò tót vào ngày Chủ nhật ở Acapulco; thỉnh thoảng cho các cô thu tiền hoặc các cô phục vụ xinh đẹp một khoản tiền boa hào phóng... Đó là tất cả. Những nhu cầu của hắn rất đơn giản, không tốn kém, giống như những người làm công có thu nhập ở mức trung bình trong mỗi kỳ đi nghỉ. Tuy nhiên có sự khác nhau giữa hắn và người những ấy, vì người ăn lương phải tiết kiệm cả một năm trời để đi nghỉ, còn hắn, hắn chỉ cần ba hoặc bốn phi vụ trong một năm, mỗi phi vụ chỉ cần bốn năm phút đồng hồ thôi. Và hai ba năm nay mọi việc đều diễn ra một cách trôi chảy. Nhưng bây giờ tất cả đã kết thúc - hắn nghĩ. Chuyện đó diễn ra một cách khá bất ngờ: khi hắn ra khỏi kho rượu thì va phải người em trai chủ quán đánh xe đến để đón anh về. Nếu cuộc đụng độ ấy không quá đột ngột, nếu trong một hoàn cảnh khác, hắn chỉ cần hạ gục người đàn ông ấy rồi lủi cho nhanh. Nhưng tình hình lại không phải như vậy vì người em chủ quán lại là một cảnh sát trong đội chống nạn mại dâm, tuy không phải đang trong giờ làm việc nhưng anh ta vẫn còn đeo súng bên người. Rất vô ích mà nói rằng viên cảnh sát không nghi ngờ gì khi thấy hắn với hai chiếc túi căng phồng và bốn chai rượu trên tay tuy đèn lúc này chỉ lờ mờ sáng. Anh ta chỉ giơ súng lên và thế là George bị tóm gọn. Đúng hai tiếng đồng hồ sau đó, George bị kết tội ăn cướp có vũ khí và bị tống giam. Việc khai tên giả của hắn cũng sẽ chẳng kết quả gì vì sau đây bốn mươi tám tiếng nữa, với những dấu vân tay, FBI sẽ biết rõ cái tên George Carter mà hắn đã khai là giả mạo mà chính George Maxwell mới là tên thật của hắn. Mà George Maxwell đã bị ngồi tù hai lần vì tội trộm cướp: lần đầu, hai năm vì tội ăn cắp, thời ấy hắn mới vào nghề, và lần thứ hai, năm năm vì tội ăn cướp có vũ khí, việc này xảy ra cách đây ba năm. Như vậy hắn được tự do mới có ba mươi sáu tháng. Lần này, với những tiền án ấy, chắc chắn án hai mươi năm tù sẽ treo trước mũi hắn. Năm nay ba mươi nhăm tuổi... Hai mươi năm ngồi bóc lịch, thế là kết thúc cuộc đời... Thật là đen đủi - hắn lại nghĩ với tiếng thở dài não nề khi thấy giấc mộng đi nghỉ ở Mê-hi-cô đã tan thành mây khói. Hắn ném điếu thuốc đi để mặc nó tiếp tục cháy. Sau đó, quay mặt vào tường, nghĩ đến tương lai ảm đạm của mình. ... Mời các bạn đón đọc Truyện Ngắn Trinh Thám.
Phái Viên Mật - Graham Greene
Đây không phải là cuốn trinh thám dạng "giải trí", không gay cấn, hồi hộp...mà nặng nề, ám ảnh, day dứt, phiền muộn. *** Graham Henry Greene (2 tháng 10, 1904 - 3 tháng 4, 1991) là tiểu thuyết gia người Anh. Ông sinh tại Berkhamsted, Hertfordshire, Anh quốc, là con của một hiệu trưởng, và theo học Đại học Oxford. Ông làm việc cho tờ báo London Times trong giai đoạn 1926-1929 (từng làm tổng biên tập) rồi hành nghề ký giả tự do. Năm 1935, ông nhận chân điểm phim cho tờ Spectator, và đến 1940 nhận chân chủ bút văn học. Trong thời gian 1942-1943, ông phục vụ Bộ Ngoại giao Anh ở miền đông châu Phi. Sau Thế chiến thứ Hai (1939-1945), ông đi đến nhiều nơi. Ông viết nhiều, là một trong các tác giả tiêu biểu của văn học Anh thế kỷ XX. Tác phẩm đầu của ông được xuất bản năm 1925. Graham Greene khởi đầu sự nghiệp văn chương với những sách thuộc loại “giải trí” vì thuộc thể loại hành động, như truyện gián điệp. Dần dà, ông mới chuyển qua thể loại “tiểu thuyết,” nổi tiếng nhất là The quiet American (Người Mỹ trầm lặng - 1955), gần đây được dựng thành phim hợp tác với điện ảnh Việt Nam (15 tiểu thuyết của ông đã được dựng thành phim). Ông cũng viết một kịch bản dành riêng cho phim truyện, và một số tác phẩm cho trẻ em. Graham Greene có xu hướng viết về những đấu tranh tâm linh trong một thế giới đang mục rữa. Tác phẩm của ông có đặc tính đi vào chi tiết sống động, và lấy bối cảnh đa dạng ở nhiều nơi (Mexico, châu Phi, Haiti, Việt Nam), miêu tả nhiều nhân vật sống dưới những áp lực khác nhau về xã hội, chính trị hoặc tâm lý. Tác phẩm cuối cùng, A world of my own: A dream diary (1994), được viết trong những tháng cuối cùng trong cuộc đời của tác giả, có tính nửa hư cấu nửa tự thuật dựa trên 800 trang tác giả ghi lại qua 24 năm.   Mời các bạn đón đọc Phái Viên Mật của tác giả Graham Greene.
Ngôi Nhà Số 12 - John Milne
Nancy bốn mươi sáu tuổi, một người phụ nữ trầm lặng, cô đơn, sống cô độc trong ngôi nhà và mớ tài sản do cha mẹ cô để lại. Chẳng có người bạn nào bên cạnh, Nancy đến Eastbourne để nghỉ dưỡng và kiếm bạn mới. Và cô đã gặp được Henry John, xấp xỉ ngũ tuần, góa vợ và đang sống cùng người em Isobel Jones trong một thị trấn nhỏ gần London. Cuộc gặp gỡ với Henry đã khiến Nancy nghĩ rằng từ nay cô sẽ không bao giờ phải cô đơn nữa. Nhưng Nancy đâu ngờ rằng, sau hôn lễ lặng lẽ, một cuộc đời bi đát hơn đang chờ đợi cô trong ngôi nhà mang số 12 đại lộ Rừng Sồi... Tình tiết nhanh, ngắn gọn, John Milne một lần nữa mang đến độc giả một bí ẩn mới đậm chất John Milne như đã từng gặp trong các tác phẩm như Con mèo đen, Đường hầm, Oliver Twist,... Liệu văn phòng thám tử Terry Mason và những người bạn của mình có phát hiện ra được bí mật đen tối trong ngôi nhà số 12? Liệu Nancy có thoát khỏi căn nhà u ám đó trước khi quá muộn hay chịu nằm chờ chết trong tuyệt vọng? Tất cả còn chờ các bạn độc giả cùng khám phá. *** Những nhân vật trong truyện Nancy Robert là một thiếu phụ bốn mươi tuổi. Cô ta đã sống cùng gia đình nhiều năm ở Ấn Độ. Đến năm 1970, gia đình cô chuyển sang nước Anh sinh sống. Cha mẹ cô giờ đây đã chết. Nancy trở thành một người phụ nữ trầm lặng và cô đơn. Henry John xấp xỉ tuổi ngũ tuần và góa vợ. Vợ hắn đã mất một năm trước đây. Isobel Jones trạc tuổi Nancy. Cô ta sống với anh trai mình là Henry John trong một thị trấn nhỏ gần London. Terry Mason là một người làm công tác văn phòng nhưng anh ta không thích công việc của mình. Anh ta luôn muốn trở thành thám tử. Một ngày nọ, Terry được hưởng một số tiền từ di chúc của người cậu quá cố, và giờ đây Terry Mason đã lập một văn phòng thám tử tư. Sheila Williams là bạn của Terry Mason trong nhiều năm. Cô ta làm việc cho một văn phòng môi giới bất động sản. Bill Evans là một người giao sữa. Anh ta lái một chiếc xe chở sữa đi đến các căn hộ để giao sữa vào mỗi sáng sớm. Tom Matthews là một cậu bé bán báo mười ba tuổi. Cậu ta cũng giao báo đến các hộ trong khu phố vào mỗi sáng sớm. Bob Wilkinson là một người bạn của Terry. Anh ta làm việc tại Sở Xã Hội. Gordon Burgess là bạn của bạn Terry. Anh ta làm việc tại Tòa Thị Chính.   Mời các bạn đón đọc Ngôi Nhà Số 12 của tác giả John Milne.